Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Việt Nam 1. Ở trong nước Giai đoạn trước năm 1986: Mặc dù đạo Tin Lành du nhập Việt Nam từ năm 1911, nhưng cho đến trước năm 1986, số lượng công trình nghiên cứu về tôn giáo này chưa nhiều.
Trong giai đoạn này, ở Việt Nam chỉ có một số ấn phẩm, mà phần lớn là hồi ký, các công trình khảo cứu về đạo Tin Lành của các tác giả - sử gia người Việt quy ngưỡng theo tôn giáo này và một vài tác giả bên ngoài, như: Phạm Xuân Tín, Đỗ Hữu Nghiêm, Lê Văn Thái, Lê Hoàng Phu. Trong đó, phải kể đến 03 cuốn sách của Mục sư Phạm Xuân Tín: Tôn chỉ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1957), Tìm hiểu Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1957), Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1962). Các tác phẩm dựa vào nhiều nguồn tư liệu khác nhau để làm rõ quá trình du nhập đạo Tin Lành ở Việt Nam cũng như sự thành lập, cơ cấu tổ chức, mục đích và tôn chỉ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Đỗ Hữu Nghiêm (1968), Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam, luận văn Thạc sĩ Sử học, Đại học Văn khoa, Sài Gòn, đã trình bày khá chi tiết những phương pháp truyền đạo Tin Lành ở Việt Nam của các giáo sĩ.
Qua hệ thống những phương pháp này, chúng ta có thể thấy được những biến cố lịch sử, những khó khăn về chính trị và luật pháp của chính quyền thực dân lẫn văn hóa truyền thống mà các nhà truyền giáo gặp phải trong những ngày đầu đạo Tin Lành du nhập Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn từ sau hiệp định Genève được kí kết (1954) tác giả chỉ khảo cứu trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Lê Văn Thái (1971), Bốn mươi sáu năm chức vụ, Cơ quan Tin Lành xuất bản, Sài Gòn. Vốn là một nhân chứng có mặt ngay từ những ngày đầu tiên Hội thánh Tin Lành thành lập ở Việt Nam và là người được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Hội thánh, trong cuốn hồi kí của mình, Mục sư Lê Văn Thái đã ghi chép lại rất chi tiết từ quá trình tiếp xúc, tiếp nhận đạo Tin Lành cho đến khi trở thành 7 một mục sư và tham gia hoạt động truyền giáo.
Cùng với hoạt động truyền giáo là những dấu ấn của các giai đoạn hình thành và phát triển. Đặc biệt hơn, lần đầu tiên tác giả đề cập đến lập trường của Giáo hội Tin Lành về lĩnh vực chính trị, cùng với đó là ứng xử của giới chức Tin Lành với các chính quyền trong những giai đoạn lịch sử. 46 năm chức vụ của Mục sư Lê Văn Thái cũng đề cập đến việc truyền giáo lên vùng DTTS, chủ yếu là vùng Tây Nguyên [125]. Lê Hoàng Phu (1974), Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam 1911-1965, Trung tâm nghiên cứu Phúc âm xuất bản, Sài Gòn.
Đây là luận án Tiến sĩ Thần học của ông được bảo vệ thành công tại Đại học New York, Hoa Kỳ, năm 1972. Tác phẩm này được dịch sang tiếng Việt dùng làm sách giáo khoa trong chương trình nghiên cứu Phúc Âm (TEE). Năm 2011 được Nxb Tôn giáo xuất bản có kèm những hiệu đính, bổ sung đầy đủ phần chú thích của tác giả nhằm ghi dấu 100 năm Tin Lành vào Việt Nam. Với 430 trang sách, tác giả đã dày công sưu tầm tư liệu từ các nguồn báo chí và tổng hợp tư liệu từ các địa hạt, các chi hội Tin Lành và các thư tịch trong văn khố của CMA, để từ đó hệ thống hóa lại các sự kiện, các giai đoạn lịch sử của đạo Tin Lành ở Việt Nam.
Với cách tiếp cận vấn đề đa chiều, nguồn sử liệu phong phú nên có thể khẳng định đây là công trình có giá trị về đạo Tin Lành ở Việt Nam [122]. Trong các sách báo, tạp chí của đạo Tin Lành như Thánh Kinh Báo, Hừng Đông, Tạp chí Truyền giáo, Niềm tin;. chứa đựng khá nhiều số liệu về sự phát triển đạo Tin Lành tại các địa phương. Các bài xã luận, các bài phóng sự hay khảo cứu về các chủ đề cụ thể theo từng năm tháng trong các tạp chí định kỳ đã bổ sung nhiều mảng tư liệu còn thiếu khi tìm hiểu về lịch sử của đạo Tin Lành tại Việt Nam.
Đáng chú ý trong giai đoạn từ 1967 đến 1975, trên các tạp chí định kỳ đã có những bài chuyên luận khá sâu sắc, có thể kể đến như: Phạm Xuân Tín giới thiệu về “Chương trình truyền đạo sâu rộng”, một chiến lược truyền giáo nổi tiếng trên thế giới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam vào năm 1967 in trên Thánh Kinh Nguyệt San, số 341 (4). Năm 1972, Phạm Xuân Tín lại có bài khảo cứu công phu về chủ đề “Ưu khuyết điểm nền Cơ Đốc giáo dục của HTTLVN”, trên Thánh Kinh Nguyệt San, số 399 (10). Cũng trên tờ Thánh Kinh Nguyệt San, số 390 năm 1971, hai tác giả Trương Văn Tốt và R. Raimer đã công bố một nghiên cứu tuy ngắn gọn nhưng rất đáng 8 chú ý với nhan đề “Hội thánh Tin Lành Việt Nam tăng trưởng như thế nào?”.
Các số liệu mà các tác giả đưa ra cùng với sự đánh giá và phân tích của họ về thực trạng trì trệ của công cuộc truyền giáo khiến cho nhiều nhà quan sát bất ngờ. Tuy còn khá ít, song các công trình trên đã phản ánh khái quát được quá trình du nhập và hoạt động của Tin Lành ở Việt Nam trước năm 1986. Giai đoạn sau năm 1986: Từ sau ngày đất nước thống nhất, việc nghiên cứu đạo Tin Lành vì những lý do khác nhau đã bị ngưng trệ một thời gian. Phải đến năm 1990 mới xuất hiện cuốn hồi ký của Phạm Xuân Tín: Tìm gặp Đấng Chân Thần, sau đó vào năm 2012 là cuốn tự truyện Hạt giống-The seen.
Cuốn hồi ký và tự truyện ghi lại nhiều chi tiết về cuộc đời hoạt động truyền giáo của ông và gia đình tại vùng đồng bào DTTS tại Buôn Mê Thuột, Pleiku, Cheo Reo trước những năm 60 thế kỷ XX cùng với công việc Hội thánh với tư cách là Phó Hội trưởng Hội thánh Tin Lành Việt Nam trong một thời gian dài trước năm 1975. Tác giả Nguyễn Thanh Xuân sau khi xuất bản cuốn Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam vào năm 1992, trong đó đề cập một cách khái quát đạo Tin Lành ở Việt Nam về các phương diện như lịch sử ra đời, quá trình du nhập, các đặc trưng của đạo Tin Lành, đặc điểm đạo Tin Lành ở Việt Nam; việc hoạch định và thực thi các chính sách tôn giáo trong đó có đạo Tin Lành [167]. Năm 2002, Nguyễn Thanh Xuân tiếp tục xuất bản cuốn Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Với độ dày gần 600 trang, tác giả đã có những nghiên cứu chuyên biệt và cơ bản về đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam từ hai góc độ lịch sử và tôn giáo.
Tác giả cũng đã dành toàn bộ chương V để trình bày các hệ phái Tin Lành ở Việt Nam trước năm 1975 [168]. Năm 2006, tác giả Nguyễn Thanh Xuân tiếp tục chủ biên công trình Đạo Tin Lành ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Trên cơ sở bổ sung nhiều nguồn tư liệu mới, công trình đã đi vào phân tích và trình bày sâu hơn các giai đoạn truyền giáo của đạo Tin Lành tại Việt Nam và đặc biệt là việc truyền giáo vùng DTTS. Từ đó, đưa ra một số nhận định, đánh giá về kết quả truyền giáo vào những vùng đất mới của Hội thánh Tin Lành Việt Nam [171].
Trong thời gian này, Nguyễn Thanh Xuân còn công bố các bài viết: “Một số điểm khác nhau giữa đạo Tin Lành và đạo Công giáo”, tạp chí Công tác tôn giáo, số 02- 2005; “Một số vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu đạo Tin Lành”, tạp chí Công tác 9 tôn giáo, số 9-2006; “Vài nét khái quát về tôn giáo trong vùng đồng bào DTTS ở Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 02-2007. Phạm Văn Năm với cuốn hồi ký “Dâng trọn cuộc đời - hồi ký 55 năm phục vụ Chúa”, công bố năm 1995 đã thuật lại nhiều câu chuyện liên quan đến thời gian hoạt động truyền giáo cho đồng bào dân tộc Cơ-ho, X’tiêng, Mạ tại vùng Di Linh, Lâm Đồng [115]. Năm 1995, tác giả Đỗ Hữu Nghiêm cho ra mắt cuốn Đạo Tin Lành du nhập vùng Nam Trường Sơn – Tây Nguyên, đã nghiên cứu quá trình du nhập và phát triển đạo Tin Lành ở vùng miền núi phía Nam Trường Sơn – Tây Nguyên, lý giải những nguyên nhân cơ bản của việc phát triển mạnh mẽ của đạo Tin Lành trong vùng đồng bào DTTS nói chung và ở Nam Trường Sơn – Tây Nguyên nói riêng [119]. Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, khi vấn đề đạo Tin Lành ở Việt Nam trở thành vấn đề “vừa mới, vừa lớn, vừa khó”, các nhà khoa học mới quan tâm nhiều đến nghiên cứu về đạo Tin Lành.
Thời kỳ này phải kể đến các ấn phẩm và công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Lữ, Nguyễn Xuân Hùng, Đặng Nghiêm Vạn, Hoàng Minh Đô, Lại Đức Hạnh, Nguyễn Văn Nam, Hồ Tấn Sáng, Ngô Văn Minh, Đỗ Quang Hưng, Đoàn Triệu Long,. Nguyễn Đức Lữ (2005), Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, đã chỉ rõ những đặc điểm của đạo Tin Lành ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đó là: 1. Chủ yếu phát triển ở miền Nam trong thời kỳ 1954-1975; 2. Lấy truyền giáo là nội dung và chủ đích của mọi hoạt động; 3.
Phát triển chủ yếu trong hai đối tượng thị dân và đồng bào DTTS; 4. Có mối quan hệ quốc tế khá rộng rãi; 5. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng [100].