Tổng quan luận án
Đạo Tin Lành là một nhánh tôn giáo xuất hiện từ phong trào cải cách tôn giáo thế kỷ XVI tại Tây Âu và bắt đầu du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX thông qua Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (The Christian and Missionary Alliance - CMA). Tại tỉnh Gia Lai, tôn giáo này hiện diện từ những năm 1930 và trải qua nhiều biến động lịch sử gắn liền với các điều kiện chính trị, xã hội của vùng Tây Nguyên. Tính đến tháng 10 năm 2016, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã có 18 hệ phái Tin Lành hoạt động với quy mô tín đồ lên tới trên 127.000 người, chủ yếu tập trung trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS). Mặc dù tốc độ phát triển tín đồ và số lượng hệ phái tại Gia Lai diễn ra nhanh chóng, song cho đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu, vẫn chưa có công trình khoa học nào khảo sát và tái hiện một cách hệ thống, toàn diện toàn bộ tiến trình này dưới góc độ chuyên ngành Sử học. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Thị Hằng với đề tài "Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2016" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục đích nghiên cứu của công trình là phân tích một cách có hệ thống và toàn diện quá trình phát triển của đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai giai đoạn 1986 - 2016; làm rõ các đặc điểm, nguyên nhân phát triển và những ảnh hưởng của tôn giáo này đối với cộng đồng các dân tộc tại địa phương; qua đó cung cấp cơ sở khoa học và cứ liệu lịch sử phục vụ công tác nghiên cứu tôn giáo và hoạch định chính sách của Đảng, Nhà nước. Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày và phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính sách và nhu cầu nội tại tác động đến sự phát triển của đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai.
- Khảo sát, phân tích những biểu hiện cụ thể của sự phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai qua hai giai đoạn lịch sử: 1986 - 2004 và 2005 - 2016 trên các phương diện: tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, địa bàn truyền đạo, hệ thống tổ chức hệ phái và sinh hoạt tôn giáo.
- Rút ra các đặc điểm, nguyên nhân phát triển chủ yếu và đánh giá khách quan những ảnh hưởng (cả mặt tích cực lẫn hạn chế) của đạo Tin Lành đối với đời sống kinh tế, văn hóa, an ninh trật tự và xã hội của đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ quá trình phát triển của đạo Tin Lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 1986 đến năm 2016.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập cụ thể như sau:
- Không gian nghiên cứu: Địa giới hành chính tỉnh Gia Lai với 17 đơn vị hành chính cấp huyện ghi nhận đến năm 2016 (gồm thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa và 14 huyện: Chư Păh, Ia Grai, Chư Prông, Đức Cơ, Chư Sê, Mang Yang, Đăk Đoa, K’Bang, Kông Chro, Đăk Pơ, Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa, Chư Pưh). Luận án cũng theo dõi chặt chẽ tiến trình điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh qua từng thời kỳ từ mốc 9 huyện, thị năm 1986 đến mốc 17 huyện, thị năm 2016.
- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2016. Mốc năm 1986 được xác định là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới đất nước, đồng thời là lúc đạo Tin Lành tại Gia Lai bắt đầu phục hồi sau giai đoạn bị ngừng hoạt động do những phức tạp liên quan đến tổ chức FULRO. Mốc năm 2016 đánh dấu chặng đường 30 năm Đổi mới. Luận án sử dụng mốc năm 2005 (thời điểm Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/2005/CT-TTg ngày 04-02-2005 "Về một số công tác đối với đạo Tin Lành") làm ranh giới phân chia hai giai đoạn phát triển chính. Để đảm bảo tính liên tục của tiến trình lịch sử, luận án cũng mở rộng trình bày giai đoạn du nhập từ trước năm 1986.
- Nội dung nghiên cứu: Tập trung làm rõ các nhân tố tác động, biểu hiện phát triển qua các tiêu chí tôn giáo học và sử học, phân tích đặc điểm, nguyên nhân cùng những tác động đa chiều đến đời sống xã hội địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại, tổng thuật và đánh giá khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Việt Nam
Các công trình trong nước trước năm 1986: Giai đoạn này tài liệu chủ yếu là hồi ký và chuyên khảo của các chức sắc hoặc nhân chứng Tin Lành. Tiêu biểu là các tác phẩm của Mục sư Phạm Xuân Tín: Tôn chỉ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1957), Tìm hiểu Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1957), Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1962). Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Hữu Nghiêm (1968) Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam tại Đại học Văn khoa Sài Gòn đã khảo cứu chi tiết phương thức truyền giáo ở miền Nam. Mục sư Lê Văn Thái xuất bản cuốn hồi ký Bốn mươi sáu năm chức vụ (1971) ghi lại hoạt động truyền giáo tại Tây Nguyên và mối quan hệ giữa Giáo hội với các chính quyền. Đáng chú ý là luận án Tiến sĩ Thần học của Lê Hoàng Phu bảo vệ năm 1972 tại Đại học New York, sau đó xuất bản thành sách Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam 1911-1965 (1974, tái bản 2011), hệ thống hóa tiến trình lịch sử thông qua nguồn lưu trữ của CMA. Ngoài ra, các bài viết trên Thánh Kinh Nguyệt San của Phạm Xuân Tín (1967, 1972), Trương Văn Tốt và R. Raimer (1971) đã phản ánh thực trạng tăng trưởng của Giáo hội.
Các công trình trong nước sau năm 1986: Hồi ký của Phạm Xuân Tín (Tìm gặp Đấng Chân Thần - 1990, Hạt giống - The Seed - 2012) và Phạm Văn Năm (Dâng trọn cuộc đời - hồi ký 55 năm phục vụ Chúa - 1995) cung cấp tư liệu về công tác truyền giáo tại Tây Nguyên. Tác giả Nguyễn Thanh Xuân công bố nhiều công trình nền tảng như Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam (1992), Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam (2002), Đạo Tin Lành ở Việt Nam (2006) cùng loạt bài báo chuyên ngành (2005, 2006, 2007) phân tích các giai đoạn truyền giáo vùng DTTS. Đỗ Hữu Nghiêm (1995) có công trình Đạo Tin Lành du nhập vùng Nam Trường Sơn – Tây Nguyên.
Bước sang thế kỷ XXI, các nghiên cứu chuyên sâu xuất hiện ngày càng nhiều:
- Nguyễn Đức Lữ (2005) trong Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam đã chỉ ra 5 đặc điểm của Tin Lành tại Việt Nam.
- Nguyễn Xuân Hùng công bố hàng loạt bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (2000, 2001, 2014, 2015, 2016) và bảo vệ luận án Tiến sĩ Sử học Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành tại Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975 (2017).
- Đặng Nghiêm Vạn với đề tài cấp Bộ Về tình hình phát triển đạo Tin Lành ở miền núi phía Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên (2001) và sách Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2007).
- Lại Đức Hạnh (2001) nghiên cứu đề tài cấp Bộ Đạo Tin Lành – Những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự ở Việt Nam hiện nay.
- Nguyễn Văn Nam với đề tài Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên đặc điểm và các giải pháp thực hiện chính sách (2003) và bài viết về thiết chế xã hội truyền thống (2008).
- Hồ Tấn Sáng (2008) phân tích mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị tại Tây Nguyên.
- Ngô Văn Minh chủ nhiệm đề tài cấp Bộ Quản lý nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên (2009) cùng các bài viết về phương pháp truyền giáo (2011) và chính sách tôn giáo qua 30 năm Đổi mới (2016).
- Đỗ Quang Hưng (2011) công bố bài viết Một số vấn đề về Tin Lành ở Tây Nguyên.
- Đoàn Triệu Long (2013) xuất bản chuyên khảo Đạo Tin Lành ở miền Trung – Tây Nguyên.
- Cuốn sách Hội thánh Tin Lành Việt Nam 100 năm hình thành và phát triển do Mục sư Thái Phước Trường chủ biên (2011).
- Hàng loạt luận án, luận văn của Hà Xuân Nguyên (2001), Lê Hoài Nam (2001), Bùi Minh Hải (2007), Nguyễn Khắc Đức (2011), Nguyễn Văn Lai (2012), Vũ Thị Thu Hà (2014), Lê Hồng Phong (2014), Nguyễn Thị Ngà (2016) cùng ba hội thảo khoa học quốc tế và quốc gia các năm 2010, 2011, 2012 do Viện Nghiên cứu Tôn giáo phối hợp tổ chức.
Các công trình học thuật ở nước ngoài: E. Irwin (1937) với cuốn sử liệu With Christ in Indo - China; loạt công trình của G. Smith từ 1942 đến 1965 (The Blood Hunters, Gongs in the Night, Missionary and Anthropology, Victory in Vietnam) phản ánh hoạt động của CMA tại Nam Trường Sơn - Tây Nguyên; tác phẩm kinh điển của Max Weber về đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản; Jean Bauberot (2006) với Lịch sử đạo Tin Lành; luận án của Crump (2010) tại Đại học Tổng hợp Kentucky (Mỹ) và Tu Thien Van Truong (2009) tại Đại học Tổng hợp California.
Nhóm các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai
Nghiên cứu trực tiếp về địa bàn Gia Lai bắt đầu xuất hiện từ giữa thập niên 1990:
- Đề tài cấp Bộ của Trần Xuân Thu (1995) Nguyên nhân, điều kiện phục hồi và phát triển đạo Tin Lành trong đồng bào dân tộc Gia-rai, Ba-na những năm 1989-1994.
- Luận văn Thạc sĩ của Đoàn Triệu Long (2004) Hoạt động truyền đạo Tin Lành trái phép ở tỉnh Gia Lai hiện nay – Thực trạng và giải pháp và bài viết năm 2014 về tác động của Tin Lành đến tín ngưỡng truyền thống của các DTTS Gia Lai.
- Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thái Bình (2010) Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
- Đề tài khoa học của Ngô Văn Minh (2014) Hoạt động của đạo Tin Lành sau đăng kí điểm nhóm ở tỉnh Gia Lai – Thực trạng và giải pháp từ góc độ quản lý nhà nước và bài viết công bố năm 2016 trên tạp chí Khoa học Chính trị.
- Các bài viết khảo sát thực tế của tác giả Thùy Liên trên tạp chí Công tác Tôn giáo (2007, 2013).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trên đã cung cấp nền tảng tư liệu giá trị nhưng phần lớn chỉ tiếp cận ở phạm vi vĩ mô cả nước, toàn vùng Tây Nguyên hoặc tiếp cận đơn thuần dưới góc độ tôn giáo học, xã hội học, triết học và quản lý nhà nước; một số đề tài nghiên cứu Gia Lai bị giới hạn về khung thời gian. Chưa có công trình nào tái hiện một cách hệ thống, khách quan, toàn diện quá trình phát triển của đạo Tin Lành tại Gia Lai suốt chiều dài 30 năm Đổi mới (1986 - 2016) dưới góc nhìn chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Luận án bổ khuyết khoảng trống này thông qua việc phân kỳ lịch sử rõ ràng, khảo sát thực chứng hệ thống tổ chức, chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự và đánh giá toàn diện tác động kinh tế - văn hóa - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, cùng hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Sử dụng phương pháp lịch sử (nhằm tái hiện trung thực, cụ thể quá trình vận động, phát triển của đạo Tin Lành tại Gia Lai theo trình tự thời gian) kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic (nhằm phân tích bản chất, tìm ra các quy luật, đặc điểm, nguyên nhân phát triển và những mối liên hệ bên trong của hiện tượng tôn giáo).
- Phương pháp liên ngành và kỹ thuật bổ trợ: Phương pháp thống kê (xử lý, tổng hợp số liệu về tín đồ, chức sắc, điểm nhóm, chi hội), phương pháp so sánh - đối chiếu (so sánh giữa các giai đoạn 1986 - 2004 và 2005 - 2016; so sánh giữa các hệ phái; so sánh giữa các địa bàn huyện/thị), phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp phỏng vấn sâu nhân chứng lịch sử (các mục sư, chức sắc, tín đồ và cán bộ quản lý tôn giáo tại địa phương).
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án được tổng hợp từ nhiều nguồn tin cậy:
- Văn kiện, nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác tôn giáo.
- Tài liệu lưu trữ thực tế tại các cơ quan: Ban Tôn giáo Chính phủ, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Tỉnh ủy Gia Lai, UBND tỉnh Gia Lai, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai, Ban Tôn giáo tỉnh Gia Lai, Công an tỉnh Gia Lai, Thư viện tỉnh Gia Lai và Ban Tôn giáo các tỉnh lân cận (Đắk Lắk, Kon Tum, Lâm Đồng, Đà Nẵng).
- Hồ sơ, tài liệu lưu trữ nội bộ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và các chi hội, điểm nhóm Tin Lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, hồi ký của các nhà truyền giáo, mục sư cùng số liệu thu thập qua khảo sát điền dã thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thực hiện tổng thuật chi tiết toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; phân chia các nhóm công trình nghiên cứu về Tin Lành ở Việt Nam, Tây Nguyên và riêng tỉnh Gia Lai; chỉ rõ những kết quả đã đạt được của các học giả đi trước và xác định những vấn đề học thuật mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2004
Chương này khái quát nguồn gốc đạo Tin Lành từ phong trào cải cách tôn giáo thế kỷ XVI tại châu Âu (gắn liền với Martin Luther và Jean Calvin), đặc trưng giáo lý, sự du nhập của CMA vào Việt Nam từ năm 1911 và quá trình truyền đạo lên vùng đồng bào DTTS Tây Nguyên từ những năm 1929 - 1934. Tại Gia Lai, Tin Lành du nhập từ 1930 - 1931 tại Pleiku trong cộng đồng người Kinh; từ năm 1938 - 1941, Mục sư Phạm Xuân Tín bắt đầu truyền giáo cho người Gia-rai và Ba-na (năm 1942 soạn cuốn sách giáo lý tiếng Gia-rai đầu tiên Tơlơi ơi Adai). Giai đoạn 1954 - 1975, Tin Lành mở rộng nhanh chóng tại Gia Lai; tính đến ngày 30-04-1975 toàn tỉnh có 45 Hội thánh, 10 Mục sư, 21 Truyền đạo, 131 ủy viên Ban Chấp sự, 31 nhà thờ và trên 27.000 tín đồ (gồm hệ người Kinh và hệ người Thượng). Sau năm 1975, do một bộ phận chức sắc, tín đồ bị tổ chức FULRO lôi kéo chống phá chính quyền, các cơ sở thờ tự bị đóng cửa và đến năm 1980 toàn bộ hệ thống tổ chức Tin Lành tại Gia Lai chấm dứt hoạt động công khai.
Giai đoạn 1986 - 2004, dưới tác động của công cuộc Đổi mới, điều kiện tự nhiên, hạ tầng giao thông (các tuyến Quốc lộ 14, 19, 25) và đặc điểm kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn vùng đồng bào DTTS, đạo Tin Lành từng bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Về mặt dân cư, tỉnh Gia Lai có 38 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 56%, người Gia-rai chiếm 29,1%, người Ba-na chiếm 11,8% (tổng 3 dân tộc chiếm 97% dân số theo thống kê năm 2009).
Bảng dưới đây tóm tắt sự điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh Gia Lai trong thời kỳ nghiên cứu, tạo khung không gian cho sự phân bố của các hệ phái Tin Lành:
| Năm |
Sự kiện điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Gia Lai |
Số đơn vị cấp huyện |
| 1986 |
Tỉnh Gia Lai - Kon Tum gồm 9 huyện, thị thuộc địa giới Gia Lai hiện nay: Pleiku, Ayun Pa, Krông Pa, Chư Sê, K’Bang, Mang Yang, An Khê, Chư Prông, Chư Păh |
9 |
| 1988 |
Thành lập huyện Kông Chro (tách từ huyện An Khê) |
10 |
| 1991 |
Tách tỉnh Gia Lai – Kon Tum; thành lập huyện Đức Cơ (từ Chư Păh và Chư Prông) |
11 |
| 1996 |
Chia huyện Chư Păh thành hai huyện: Chư Păh và Ia Grai |
12 |
| 2000 |
Chia huyện Mang Yang thành hai huyện: Mang Yang và Đắk Đoa |
13 |
| 2002 |
Chia huyện Ayun Pa thành hai huyện: Ayun Pa và Ia Pa |
14 |
| 2003 |
Thành lập thị xã An Khê; đổi tên huyện An Khê thành huyện Đắk Pơ |
15 |
| 2007 |
Thành lập thị xã Ayun Pa; đổi tên phần còn lại của huyện Ayun Pa thành huyện Phú Thiện |
16 |
| 2009 |
Chia huyện Chư Sê thành hai huyện: Chư Sê và Chư Pưh |
17 |
Sự phục hồi và phát triển của đạo Tin Lành giai đoạn 1986 - 2004 thể hiện qua sự gia tăng nhanh chóng của số lượng tín đồ (từ 8.681 người năm 1982 tăng lên 12.000 người năm 1986 và tiếp tục tăng mạnh trong thập niên 1990), sự xuất hiện của các hệ phái Tin Lành mới ngoài Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và sự mở rộng địa bàn sinh hoạt tôn giáo tại gia đình, buôn làng.
Chương 3: Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 2005 đến 2016
Chương này phân tích bước chuyển biến căn bản trong hoạt động của đạo Tin Lành sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/2005/CT-TTg ngày 04-02-2005. Chính sách mới đã tạo hành lang pháp lý cho việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo theo điểm nhóm, công nhận tổ chức tôn giáo cơ sở, phong phẩm chức sắc và xây dựng nhà thờ.
Các biểu hiện phát triển nổi bật trong giai đoạn 2005 - 2016 bao gồm:
- Tín đồ, chức sắc và cơ sở thờ tự: Số lượng tín đồ tiếp tục tăng trưởng, đạt trên 127.000 người vào tháng 10 năm 2016. Đội ngũ mục sư, truyền đạo được đào tạo và phong phẩm chính thức; nhiều chi hội được chính quyền chấp thuận cấp đất, cấp phép xây dựng nhà thờ khang trang thay thế các điểm nhóm tạm bợ.
- Hệ thống tổ chức và hệ phái: Đến năm 2016, địa bàn tỉnh có 18 hệ phái Tin Lành hoạt động, trong đó Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) giữ vai trò chủ đạo, bên cạnh các hệ phái Tin Lành độc lập khác.
- Địa bàn và sinh hoạt đạo: Sinh hoạt tôn giáo đi vào nền nếp, tuân thủ pháp luật; việc in ấn, phát hành Kinh Thánh bằng chữ viết của các DTTS (Gia-rai, Ba-na) được đẩy mạnh, đáp ứng nhu cầu tâm linh của đồng bào.
Chương 4: Một số nhận xét về quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2016
Chương 4 tổng hợp, phân tích các vấn đề có tính lý luận và thực tiễn:
- Đặc điểm phát triển:
- Đạo Tin Lành phát triển với tốc độ rất nhanh trong vòng 30 năm.
- Phát triển chủ yếu trong vùng đồng bào DTTS tại chỗ (chiếm tuyệt đại đa số là người Gia-rai và Ba-na).
- Phát triển không đồng đều giữa các hệ phái (HTTLVN miền Nam chiếm ưu thế tuyệt đối) và không đồng đều giữa các khu vực địa bàn huyện, thị.
- Phương thức truyền đạo rất linh hoạt, đa dạng, gắn với các hoạt động từ thiện, hỗ trợ vật chất và tận dụng quan hệ dòng họ, buôn làng.
- Một bộ phận chức sắc, tín đồ từng bị các phần tử phản động FULRO lợi dụng, kích động tư tưởng ly khai, gây mất an ninh chính trị.
- Nguyên nhân phát triển: Nhu cầu tín ngưỡng tâm linh nội tại của đồng bào khi thiết chế làng truyền thống có biến đổi; điều kiện kinh tế - xã hội còn chậm phát triển; nguyên nhân tự thân từ sự đơn giản, gọn nhẹ trong giáo lý, nghi lễ của Tin Lành; những hạn chế, bất cập trong hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở tại một số vùng DTTS; âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo - dân tộc của các thế lực thù địch bên ngoài; tác động tích cực từ chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước.
- Ảnh hưởng đối với đời sống xã hội:
- Tích cực: Giúp loại bỏ một số hủ tục lạc hậu, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi, cúng bái đa thần; rèn luyện nếp sống vệ sinh, từ bỏ rượu chè, tệ nạn; nâng cao ý thức tương trợ cộng đồng và thúc đẩy học chữ viết.
- Hạn chế: Làm phai nhạt một số giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc (lễ hội cồng chiêng, lễ bỏ mả, nhà rông truyền thống gắn với tín ngưỡng đa thần); gây phân hóa, mâu thuẫn nội bộ gia đình, dòng họ giữa người theo đạo và người giữ tín ngưỡng truyền thống; tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định an ninh trật tự khi bị các phần tử xấu lợi dụng.
- Các giải pháp đề xuất: Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào; củng cố hệ thống chính trị cơ sở; thực hiện đúng đắn, nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng; tăng cường công tác quản lý nhà nước và kiên quyết ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá an ninh quốc gia.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực chứng và hệ thống hóa tư liệu, luận án xác định 03 đóng góp học thuật mới:
- Thứ nhất, luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về toàn bộ quá trình phát triển của đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai từ năm 1986 đến năm 2016 dưới góc nhìn lịch sử, dựng lại bức tranh lịch sử chân thực và khách quan tại địa bàn này.
- Thứ hai, luận án trình bày và phân tích sâu sắc các biểu hiện cụ thể của sự phát triển đạo Tin Lành qua hai giai đoạn lịch sử (1986 - 2004 và 2005 - 2016); làm sáng tỏ các đặc điểm phát triển mang tính đặc thù của Gia Lai, phân tích sâu các nguyên nhân và đánh giá đa chiều ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế của đạo Tin Lành đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh trật tự tại địa phương.
- Thứ ba, kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống cứ liệu lịch sử, số liệu thống kê chuẩn xác, có giá trị khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Lịch sử, Tôn giáo học; đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn tin cậy cho các cơ quan Đảng, Nhà nước trong việc nhìn nhận, đánh giá và hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo tại vùng Tây Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tế trên địa bàn hành chính tỉnh Gia Lai và khép lại khung thời gian nghiên cứu vào năm 2016 (mốc kỷ niệm 30 năm Đổi mới). Do tính chất phân tán, khép kín của một số hệ phái Tin Lành mới nổi hoặc chưa đăng ký hoạt động chính thức, một số số liệu về các nhóm Tin Lành độc lập quy mô nhỏ chủ yếu dựa trên nguồn thống kê hành chính quản lý của địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, cập nhật sự biến động về số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự và phương thức hoạt động của các hệ phái Tin Lành tại Gia Lai từ sau năm 2016 đến nay dưới tác động của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01-01-2018); mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu đa diện giữa tỉnh Gia Lai với các tỉnh lân cận trong khu vực Tây Nguyên (Đắk Lắk, Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Nông).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích đối với các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Dân tộc học, Văn hóa học và Xã hội học tại các trường đại học, viện nghiên cứu và hệ thống các trường chính trị.
- Cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, cơ quan tham mưu chính sách dân tộc - tôn giáo thuộc Ban Dân vận, Ban Tôn giáo, Ủy ban Dân tộc, lực lượng an ninh và chính quyền các cấp tại các tỉnh Tây Nguyên.
- Những phần có giá trị tham khảo cao gồm: Hệ thống tư liệu lịch sử về quá trình truyền đạo của CMA và các giáo sĩ giai đoạn trước 1975; nguồn số liệu thống kê chi tiết về 18 hệ phái, chức sắc, tín đồ tại 17 đơn vị hành chính cấp huyện tỉnh Gia Lai; bảng so sánh phân kỳ điều chỉnh địa giới hành chính và các phân tích thực tế về sự tương tác giữa đạo Tin Lành với luật tục và văn hóa truyền thống của người Gia-rai, Ba-na.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án chọn mốc năm 1986 và mốc năm 2005 để phân chia giai đoạn nghiên cứu?
Mốc năm 1986 là thời điểm đất nước bước vào công cuộc Đổi mới toàn diện, đồng thời là lúc đạo Tin Lành ở Gia Lai bắt đầu phục hồi sau thời kỳ gián đoạn hoạt động hoàn toàn từ năm 1980 do ảnh hưởng của tổ chức FULRO. Mốc năm 2005 đánh dấu sự ra đời của Chỉ thị 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ "Về một số công tác đối với đạo Tin Lành", mở ra giai đoạn mới cho phép các hệ phái Tin Lành đăng ký sinh hoạt điểm nhóm hợp pháp, công nhận tổ chức tôn giáo cơ sở và xây dựng nhà thờ.
2. Đạo Tin Lành tại Gia Lai phát triển chủ yếu trong những thành phần tộc người nào?
Tính đến năm 2016, tín đồ đạo Tin Lành tại Gia Lai phát triển chủ yếu trong cộng đồng đồng bào DTTS tại chỗ, trong đó chiếm tuyệt đại đa số là người Gia-rai (nhóm ngôn ngữ Ma-lai-ô Pô-li-nê-xia) và người Ba-na (nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer), trong khi tỷ lệ tín đồ là người Kinh chiếm số lượng ít hơn.
3. Hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành cho đồng bào DTTS Gia Lai khởi đầu như thế nào?
Sau khi được truyền vào Pleiku từ những năm 1930 - 1931 cho người Kinh, từ năm 1938 Mục sư Phạm Xuân Tín đã đến Cheo Reo thăm dò và đến năm 1941 được chính thức bổ nhiệm lên Pleiku để truyền đạo cho người Gia-rai và Ba-na. Năm 1942, ông đã biên soạn cuốn sách giáo lý Tin Lành đầu tiên bằng tiếng Gia-rai mang tên Tơlơi ơi Adai (Lời của Đức Chúa Trời).
4. Trước năm 1975, quy mô của đạo Tin Lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai đạt mức độ nào?
Tính đến ngày 30-04-1975, tại Gia Lai có 45 Hội thánh, 10 Mục sư, 21 Truyền đạo, 131 ủy viên Ban Chấp sự, phân bố tại 8 huyện thị, 42 xã phường, 104 buôn làng, sở hữu 31 nhà thờ và trên 27.000 tín đồ (phân bố trong hai hệ: hệ người Kinh thuộc Địa hạt Trung bộ và hệ người Thượng thuộc Trung Thượng hạt).
5. Đạo Tin Lành có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực chủ yếu nào đối với văn hóa của đồng bào DTTS Gia Lai?
Về mặt tích cực, đạo Tin Lành giúp đồng bào xóa bỏ nhiều hủ tục tốn kém, lạc hậu, từ bỏ các tệ nạn rượu chè, xây dựng nếp sống văn minh và giữ gìn vệ sinh buôn làng. Về mặt hạn chế, việc theo đạo làm gián đoạn và phai nhạt các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội dân gian truyền thống gắn với văn hóa cồng chiêng, nhà rông, lễ bỏ mả và gây ra rạn nứt trong quan hệ cộng đồng dòng họ giữa người theo đạo và người không theo đạo.
Kết luận
Luận án "Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2016" của tác giả Trần Thị Hằng là công trình khoa học chuyên khảo có đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử tôn giáo vùng Tây Nguyên thời kỳ Đổi mới. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic trên nền tảng nguồn tư liệu lưu trữ phong phú, luận án đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình phục hồi, tăng trưởng nhanh chóng của đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai qua hai giai đoạn 1986 - 2004 và 2005 - 2016. Công trình đã làm sáng tỏ các nguyên nhân nội tại và khách quan, rút ra các đặc điểm phát triển đặc thù trong cộng đồng người Gia-rai, Ba-na, đồng thời đánh giá toàn diện những tác động tích cực và phức tạp của hiện tượng tôn giáo này đối với an ninh trật tự, văn hóa và đời sống xã hội. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú thêm kho tàng tư liệu của ngành Lịch sử Việt Nam mà còn là nguồn cứ liệu thực chứng có giá trị tham khảo cao cho công tác hoạch định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.