phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được trình bày theo kết cấu 4 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề truyền thống theo hướng cụm liên kết ngành. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước. Chƣơng 4: Định hướng và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước theo hướng cụm liên kết ngành.
9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG THEO HƢỚNG CỤM LIÊN KẾT NGÀNH 1. Cơ sở lý luận về làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề Làng nghề là những làng trước đây nguồn thu cũng dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, nhưng do điều kiện khác quan như: vị trí địa lý thuận lợi, nghề phụ có thị trường tiêu thu rộng lớn trên bình diện vùng và cả nước. các làng này đã chuyển hẳn sang sản xuất các sản phẩm mang tính chuyên biệt và nguồn thu của các sản phẩm là nguồn thu nhập chính của làng (Phan Huy Lê, 1995).
Khái niệm về làng nghề được thể hiện trong cuốn sách Làng nghề Việt Nam và Môi trường thì ―Làng nghề là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông‖ (Đặng Kim Chi, 2005). Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương (Phạm Côn Sơn, 2004).
Làng nghề là những làng ở nông thôn có các nghề không phải là nông nghiệp nhưng chúng chiếm ưu thế về số lượng, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông (Trịnh Kim Liên, 2013). Nghiên cứu của Lê Quốc Doanh (2003) cho rằng Làng nghề là tập hợp các nhóm hộ nông dân sống ở một làng tham gia sản xuất một loại ngành nghề điển hình và có vai trò quan trọng đối với thu nhập, đời sống của cộng đồng‖. Theo Dương Bá Phượng (2001) thì Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập". 10 Nghiên cứu của Trần Công Sách (2003) cho rằng Làng nghề là một cụm cộng đồng dân cư sinh sống trong cùng một làng (thôn), có một hay một số nghề được hình thành có tính chất phi nông nghiệp và trước hết là tiểu thủ công nghiệp.
Thu nhập và tỷ lệ sử dụng lao động của những ngành nghề đó chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu nhập và lao động của làng‖. Theo nghiên cứu của Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa, và Vũ Văn Phúc (2003) thì Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng. Từ những khái niệm về làng nghề ở trên có thể nhận xét rằng làng nghề quan niệm về làng nghề dần có sự thay đổi không còn bó hẹp ở phạm vi làng, hay chỉ sản xuất nông nghiệp là chính và có một vài hộ sản xuất một nghề phụ trong làng khi nông nhàn mà ở đây khái niệm làng nghề đã mỡ rộng và dần có thay đổi lớn đó là Làng nghề không chỉ có nhiều sơ sở sản xuất tập trung với sự liên kết trong quá trình sản xuất với các sở dịch vụ phục vụ cho sản xuất, giải quyết lao động địa phương đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương.
Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở giúp tác giả có cách tiếp cận cho việc nghiên cứu luận án của mình Tóm lại có thể rút ra khái niệm làng nghề:“Làng nghề là nơi tập trung nghề thủ công được hình thành ở nông thôn trong phạm vi địa lý rõ ràng và tách khỏi nông nghiệp, có tầng lớp thợ thủ công chuyên làm nghề thủ công, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, sản phẩm phục vụ nhu cầu trong nước và có thể xuất khẩu, có mối liên kết về sản xuất kinh doanh trong làng nghề”. Khái niệm về làng nghề truyền thống Theo Đinh và cộng sự (2010), ―Làng nghề truyền thống là làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời có một hay nhiều nghề thủ công được truyền từ đời này qua đời khác, trải qua thời gian của lịch sử nó vẫn được bảo tồn gìn giữ và phát triển. Có sản xuất tập trung, có nhiều nghệ nhân, có quy trình công nghệ nhất định. Sản phẩm làm ra tinh xảo có tính mỹ thuật nổi trội, chứa đựng các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần và trở thành hàng hoá có giá trị đặc thù trên thị trường.
11 Theo Trần Quốc Vượng (2012), Làng nghề truyền thống là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như gốm sứ, đan lát. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định ―sinh ư nghệ, tử ư nghệ‖, ―nhất nghệ tinh, nhất thân vinh‖, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài, nhiều làng nghề tồn tại và phát triển có tuổi đời hàng trăm đến hàng nghìn năm. Theo Trần Minh Yến (2004), Làng nghề truyền thống là một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính và giữa họ có sự liên kết về kinh tế-xã hội và văn hóa.
Các làng nghề thường được coi là nơi sản xuất các sản phẩm đơn giản, có tính chất truyền thống, với cách thức thủ công chủ yếu bằng tay hoặc sử dụng những công cụ sản xuất, máy móc thiết bị hết sức thô sơ. Chính vì vậy, các làng nghề thường được gọi tên là làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống, hay làng nghề thủ công truyền thống (Trần, 1996; Bùi, 1998). Qua các khái niệm làng nghề truyền thống đã trình bày ở trên ta thấy rằng làng nghề truyền thống được đánh giá có sự đa dạng song vẫn có những điểm chung đó là có lịch sử hình thành lâu đời, ở nông thôn và tập trung ở khu vực địa lý cụ thể và nới đó tập trung nhiều người làm nghề thủ công truyền thống từ lúc là thu nhập phụ trở thành là nguồn thu nhập chính của làng nghề, nơi đây chứa đựng nhiều giá trị văn hóa địa phương, có sự liên kết và hình thành những quan hệ sản xuất trong quá trình phát triển cho đến nay. Tóm lại theo tác giả có thể rút ra khái niệm làng nghề truyền thống cụ thể như sau: “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền tồn tại và phát triển lâu đời, được hình thành ở nông thôn trong phạm vi địa lý rõ ràng, người thợ làng nghề có 12 tính chuyên môn cao, mang lại nguồn thu nhập chính, sống chủ yếu bằng nghề thủ công và giữa họ có mối lên kết về sản xuất kinh doanh, mối quan hệ về kinh tế, xã hội và văn hóa”.
Thực tế gần đây, tên gọi cụm công nghiệp làng nghề, cụm ngành làng nghề đã được sử dụng cho các làng nghề. Và tên gọi này thường được sử dụng để mô tả một khu vực hạ tầng kỹ thuật nhất định được xây dựng, nhằm quy tụ các cơ sở sản xuất kinh doanh của làng nghề nằm trong khu dân cư vào cụm ngành này để ổn định sản xuất, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường và tăng năng lực cạnh tranh cho làng nghề phát triển bền vững. Trên cơ sở các nghiên cứu về làng nghề, tác giả tổng hợp các giai đoạn phát triển của làng nghề như sau: Bảng 1. Tổng hợp các giai đoạn phát triển của làng nghề truyền thống Đặc điểm nổi bật của các giai Nguồn tài liệu Các giai đoạn đoạn - Giai đoạn sơ khai, cha truyền - Đinh Xuân Nghiêm và con nối cộng sự (2010) - Một vài hộ gia đình - Phan Huy Lê, (1995).
Giai đoạn 1 - Vị trí thường trong thôn, ấp - Đặng Kim Chi, (2005). nghề) nông nghiệp, vừa làm nghề - Trịnh Kim Liên, (2013). - Sản phẩm chỉ phục vụ các nhu - Lê Quốc Doanh (2003) cầu trong thôn, xã. - Dương Bá Phượng - Chỉ làm nghề khi nông nhàn (2001) - Xuất hiện thêm các hộ cùng làm - Trần Công Sách (2003) nghề (thông qua truyền nghề trong người thân, gia đình, họ hàng) - Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa, và Vũ Văn - Số hộ làm nghề tăng lên.
xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và vừa làm nông 13 - Số hộ làm nghề tăng lên - Chưa có sự liên kết. - Sản phẩm bắt đầu thương mại Giai đoạn 3 hoá trên thị trường nhưng còn hạn chế. - Số hộ làm nghề lớn hơn số hộ làm nông - Xuất hiện nhiều hộ gia đình, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, HTX sản xuất có chuyên môn hoá - Sự liên kết còn hạn chế Giai đoạn 4 - Sản phẩm phổ biến trên thị trường - Số hộ làm nghề đã tách riêng ra khỏi nghề nông. - Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có quy mô lớn về lao động, vốn tập trung, tập trung trong khu vực địa lý.
- Sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tăng lên.