Tổng quan luận án

Hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam bắt đầu từ những năm đầu thập niên 1990 và phát triển mạnh mẽ qua các giai đoạn, đặc biệt là làn sóng 2003–2008 và giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015. Bối cảnh kinh tế vĩ mô giai đoạn này chịu nhiều áp lực từ suy giảm tăng trưởng, thâm hụt ngân sách và lạm phát, khiến hệ thống NHTM bộc lộ nhiều hạn chế về năng lực cạnh tranh, thanh khoản, nợ xấu gia tăng và rủi ro quản trị. Trong bối cảnh đó, M&A được xác định là một công cụ tái cơ cấu nhằm giảm thiểu nguy cơ đổ vỡ, duy trì an toàn hệ thống và hình thành các định chế tài chính có quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động M&A doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng tại Việt Nam còn sơ khai, mâu thuẫn, chồng chéo và tồn tại nhiều khoảng trống. Trước thời điểm nghiên cứu của đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ khoa học pháp lý về M&A NHTM tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM, đồng thời xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về M&A NHTM ở Việt Nam. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài, từ đó xác định các nội dung còn bỏ ngỏ hoặc còn tranh luận cần tiếp tục giải quyết.
  2. Nghiên cứu, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về M&A NHTM và pháp luật về M&A NHTM; xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về M&A doanh nghiệp và M&A NHTM; khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam để tạo lập luận cứ khoa học.
  4. Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về M&A NHTM tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM dưới góc độ pháp lý. Về phạm vi nội dung, luận án tập trung vào 4 phương diện điều chỉnh chủ yếu: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục; hệ quả pháp lý; và giải quyết tranh chấp phát sinh. Về phạm vi thời gian, luận án khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ năm 2004 đến năm 2015 và có hiệu lực thi hành đến hết năm 2015, kết hợp khảo sát các thương vụ M&A ngân hàng thực tế diễn ra trong giai đoạn 2010–2015. Về phạm vi chủ thể, luận án giới hạn nghiên cứu đối với loại hình ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) do tính phổ biến và các vướng mắc pháp lý tập trung chủ yếu ở khối này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu ngoài nước được tác giả phân định thành hai nhóm chính:

  • Nhóm nghiên cứu kinh tế - tài chính: Bao gồm các công trình của Peter S. Rose (2000) về quản trị ngân hàng thương mại và động cơ sáp nhập; Bruner F. Robert và Perella P. Joseph (2004); Wilbur M. Yegge (2006); J. Fred Weston và Samuel C. Weaver (2007); Timothy J. Galpin và Mark Herdon (2009); Michael E. Frankel (2009); Scott Moeller và Chis Brady (2009); David L. Scott; Andrew J. Hart (2006, 2009); Delta Publishing Company (2009); Donald DePamphilis (2010); Alexander Robert, William Wallance và Peter Moles (2012); cùng bài viết của Joseph Benson và Jack Foley về vấn đề thương hiệu trong M&A ngân hàng.
  • Nhóm nghiên cứu pháp lý: Bao gồm tài liệu về luật chống độc quyền của Mỹ do N. Gregory Mankiw (2008) biên soạn (Lê Thị Khánh Ly dịch), phân tích Đạo luật Sherman 1890, Đạo luật Clayton 1914 và thẩm quyền của Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC); các phân tích của Peter S. Rose (2000) về Đạo luật sáp nhập ngân hàng của Mỹ, vai trò của Cục Dự trữ Liên bang (Fed), Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC), Hướng dẫn sáp nhập của Bộ Tư pháp Mỹ (sử dụng chỉ số Herfindahl-Hirschman Index - HHI với ngưỡng 1.800 điểm và mức biến động 200 điểm), cùng Luật kê khai cho vay mua nhà thế chấp; bài viết của Luật sư Gregory Crovo (2012) về các rào cản pháp lý trong giao dịch M&A tại Việt Nam.

Tổng quan nghiên cứu trong nước được tác giả điểm lại qua nhiều công trình:

  • Các luận án tiến sĩ: Luận án tiến sĩ kinh tế của Phan Diên Vỹ (2013) về sáp nhập, hợp nhất và mua bán NHTMCP tại Việt Nam; luận án tiến sĩ luật học của Trần Thị Bảo Ánh (2014) về pháp luật mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.
  • Các đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài cấp Bộ của ThS. Lưu Minh Đức (2009); đề tài cấp Ngành của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh do TS. Nguyễn Thị Loan chủ nhiệm (2012); đề tài cấp Bộ của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do TS. Nguyễn Trí Hùng chủ nhiệm (2012); đề tài cấp Học viện của Học viện Tài chính (2014).
  • Các báo cáo vĩ mô và chuyên ngành: Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 và 2014 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; Báo cáo phát triển Việt Nam (VDR) 2012 của Ngân hàng Thế giới; Báo cáo ngành ngân hàng năm 2014 của Công ty TNHH Chứng khoán NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng; Báo cáo tập trung kinh tế năm 2012 và Báo cáo rà soát pháp luật cạnh tranh năm 2014 của Cục Quản lý cạnh tranh; nghiên cứu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2012).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận M&A dưới góc độ quản trị tài chính - kinh tế hoặc pháp luật doanh nghiệp nói chung. Chưa có công trình khoa học pháp lý nào đi sâu phân tích hệ thống và toàn diện các quy phạm điều chỉnh 4 nội dung cốt lõi của M&A NHTM gồm: tiêu chuẩn, điều kiện; trình tự, thủ tục; hệ quả pháp lý; và giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, cơ chế pháp lý cho hoạt động mua lại bắt buộc ngân hàng yếu kém (như biện pháp mua lại với giá 0 đồng của Ngân hàng Nhà nước), xử lý quyền sở hữu của cổ đông, hợp đồng tín dụng hợp vốn và định giá ngân hàng chưa được luận giải đầy đủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận về NHTM và bản chất pháp lý của hoạt động mua lại, sáp nhập. NHTM được xác định là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản nhằm mục tiêu lợi nhuận (theo Luật các TCTD 2010, quan điểm của Ngân hàng Thế giới và Peter S. Rose). Luận án xác lập 8 đặc điểm nhận diện NHTM:

  1. Thực hiện các nghiệp vụ tài chính đặc thù liên quan trực tiếp đến tiền tệ (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán qua tài khoản).
  2. Chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của nhà nước với khung pháp lý chặt chẽ nhằm tránh đổ vỡ mang tính hệ thống.
  3. Yêu cầu hoạt động liên tục và ổn định cao.
  4. Tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao (rủi ro rút tiền hàng loạt, tín dụng, thanh khoản, thị trường, lãi suất).
  5. Phải đáp ứng điều kiện nghiêm ngặt về vốn, an toàn vốn, cơ sở vật chất, bảo mật và nhân sự.
  6. Sự tồn tại phụ thuộc trực tiếp vào lòng tin của khách hàng.
  7. Chịu sự tác động lan truyền, ảnh hưởng dây chuyền giữa các ngân hàng.
  8. Mang tính hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Về khái niệm và bản chất pháp lý, mua lại NHTM là việc một NHTM mua toàn bộ hoặc một phần cổ phần, tài sản và quyền, nghĩa vụ của NHTM khác đủ để kiểm soát, chi phối. Sáp nhập NHTM là việc một hoặc nhiều NHTM chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ sang một NHTM nhận sáp nhập và chấm dứt tư cách pháp lý của ngân hàng bị sáp nhập. Bản chất pháp lý của M&A NHTM là hành vi giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua đầu tư hoặc tổ chức lại doanh nghiệp; chuyển giao tài sản, quyền và nghĩa vụ; và xác định tư cách pháp lý mới của các bên.

Thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý định tính:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật: Mổ xẻ các điều khoản trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để nhận diện cấu trúc, nội dung và các điểm bất cập.
  • Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ (Luật Sherman, Clayton, HHI), Nhật Bản, CHLB Đức, Singapore để rút ra bài học đối chiếu cho Việt Nam.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Theo dõi tiến trình ban hành các quy định pháp luật qua các thời kỳ (2004–2015) và đánh giá tính logic của hệ thống văn bản.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Khảo sát thực tế các thương vụ tái cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất và mua lại bắt buộc tại Việt Nam trong giai đoạn 2010–2015.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm hệ thống văn bản pháp luật thực định (Bộ luật Dân sự 2005, Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Chứng khoán 2006 và 2010, Luật Các TCTD 2010, Luật NHNN 2010, Thông tư 04/2010/TT-NHNN, Thông tư 07/2013/TT-NHNN), các báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước và dữ liệu thực tiễn các thương vụ ngân hàng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến M&A doanh nghiệp và M&A NHTM. Tác giả phân tích các góc độ tiếp cận về kinh tế học, quản trị kinh doanh và khoa học pháp lý. Kết quả tổng quan chỉ ra rằng hệ thống pháp luật hiện hành có sự phân tán, thiếu đồng bộ giữa các ngành luật chung (Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh) và pháp luật chuyên ngành ngân hàng. Chương 1 làm rõ các vấn đề còn tranh luận trong giới học thuật như: khái niệm M&A tại Việt Nam, cách tính thị phần và mức độ tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, địa vị pháp lý của các bên trong hợp đồng M&A, và sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước đối với các TCTD yếu kém. Từ đó, chương xác định các khoảng trống tri thức mà luận án cần tập trung giải quyết.

Chương 2: Những vấn đề lý luận của pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại

Chương 2 xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về M&A NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động này. Tác giả phân tích các phương thức mua lại gồm: thương lượng; chào mua công khai trên sàn chứng khoán; thu gom cổ phiếu; lôi kéo cổ đông bất mãn; và mua lại tài sản. Luận án làm rõ 5 đặc trưng riêng biệt của M&A NHTM:

  • Chỉ NHTM mới được thực hiện M&A với tư cách là bên mua lại hoặc nhận sáp nhập đối với TCTD; doanh nghiệp ngoài ngành không được mua lại, nhận sáp nhập NHTM.
  • Toàn bộ quá trình M&A phải đảm bảo tính liên tục, không làm gián đoạn hoạt động ngân hàng.
  • Trình tự, thủ tục có tính chất phức tạp và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với doanh nghiệp thông thường.
  • Ưu tiên hàng đầu là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền trước quyền lợi của bên thứ ba và nhà nước.
  • Thời điểm chuyển giao quyền, nghĩa vụ có ý nghĩa pháp lý quyết định, được xác lập theo văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý ngân hàng.

Luận án xác lập khung 5 nội dung điều chỉnh trọng tâm của pháp luật M&A NHTM: nguyên tắc pháp lý; tiêu chuẩn và điều kiện; trình tự, thủ tục; hệ quả pháp lý; và giải quyết tranh chấp.

Nội dung điều chỉnh Các yếu tố cấu thành chính theo lý luận của luận án
Nguyên tắc pháp lý Tự nguyện; thỏa thuận; bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và người lao động; bảo mật thông tin; công bố thông tin minh bạch.
Tiêu chuẩn, điều kiện Điều kiện an toàn vốn; tỷ lệ nợ xấu; năng lực tài chính và quản trị; giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần; kiểm soát tập trung kinh tế.
Trình tự, thủ tục Thẩm định chi tiết (pháp lý, tài chính); thông qua cơ quan nội bộ; xin chấp thuận nguyên tắc và chấp thuận chính thức từ NHNN; đăng ký lại kinh doanh và tài sản.
Hệ quả pháp lý Chuyển giao toàn bộ tài sản, công nợ, hợp đồng tín dụng; chấm dứt hoặc chuyển đổi tư cách pháp nhân; chuyển quyền sở hữu cổ phần/vốn góp.
Giải quyết tranh chấp Cơ chế thương lượng, hòa giải; phân định thẩm quyền tòa án, trọng tài thương mại; giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của cơ quan quản lý.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 rà soát hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh M&A NHTM (giai đoạn 2004–2015), trọng tâm là Luật Các TCTD 2010, Thông tư 04/2010/TT-NHNN và Thông tư 07/2013/TT-NHNN. Tác giả chỉ ra các hạn chế của khung pháp lý:

  • Thông tư 04/2010/TT-NHNN chủ yếu thiết kế cho trường hợp M&A tự nguyện, thiếu quy định chi tiết cho M&A bắt buộc.
  • Thiếu các quy chuẩn định giá ngân hàng, quy trình xử lý hợp đồng tín dụng hợp vốn, nghĩa vụ thuế, chuyển đổi thương hiệu và bảo đảm quyền lợi người lao động.
  • Sự không thống nhất giữa Luật Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn về cách xác định thị phần kết hợp của TCTD.

Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá các thương vụ M&A tự nguyện (HBB sáp nhập SHB; hợp nhất SCB - Ficombank - TinNghiaBank; sáp nhập Tiết kiệm Bưu điện vào LienVietBank; Eximbank mua cổ phần Sacombank; DOJI tham gia TienPhongBank) và các thương vụ mua lại bắt buộc do NHNN tiến hành (điển hình là mua lại VNCB chuyển thành CBBank). Tác giả nhận định: Biện pháp NHNN mua lại bắt buộc ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng là giải pháp tình thế cần thiết để ngăn chặn đổ vỡ hệ thống và bảo vệ người gửi tiền. Tuy nhiên, việc mua lại toàn bộ tài sản với giá 0 đồng nhưng đồng thời chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư cách của tất cả cổ đông hiện hữu là giải pháp chưa có cơ sở pháp lý vững chắc trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Chương 4 đưa ra các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý M&A NHTM:

  • Sửa đổi Luật Doanh nghiệp: Bổ sung "mua lại" là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp độc lập để tương thích với Luật Cạnh tranh.
  • Sửa đổi Luật Các TCTD: Quy định chi tiết các điều khoản về M&A NHTM (thay vì chỉ quy định chung dưới dạng tổ chức lại TCTD). Bổ sung chế định M&A bắt buộc và quy định rõ căn cứ pháp lý, trình tự, hệ quả của việc can thiệp xử lý ngân hàng yếu kém.
  • Hoàn thiện văn bản dưới luật: Sửa đổi Thông tư 04/2010/TT-NHNN để bổ sung quy định về phương pháp định giá ngân hàng, nội dung chuẩn của hợp đồng M&A, giải quyết hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn, bảo vệ người gửi tiền và người lao động, xử lý sở hữu chéo và lộ trình tuân thủ an toàn vốn.
  • Thiết lập cơ quan giám sát độc lập: Tách bạch giữa thẩm quyền phê duyệt/chấp thuận thương vụ của NHNN và cơ chế thanh tra, giám sát độc lập đối với quá trình M&A bắt buộc (nhất là khi có sử dụng nguồn lực ngân sách) nhằm đảm bảo tính khách quan.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp khoa học sau:

  • Luận giải toàn diện 8 đặc điểm pháp lý của NHTM và 5 đặc trưng cơ bản của M&A NHTM, khẳng định tính đặc thù không thể đồng nhất hoạt động M&A ngân hàng với M&A doanh nghiệp thông thường.
  • Làm rõ bản chất pháp lý của M&A NHTM là sự chuyển giao quyền kiểm soát và quyền sở hữu tài sản, quyền, nghĩa vụ giữa các bên thông qua giao dịch tài chính và tổ chức lại doanh nghiệp.
  • Xác định hệ thống 5 nội dung điều chỉnh trọng tâm của pháp luật M&A NHTM, tạo cơ sở lý luận cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật chuyên ngành.

Về mặt thực tiễn và lập pháp:

  • Đánh giá toàn diện các bất cập của khung pháp lý M&A NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2004–2015, chỉ ra sự thiếu hụt các quy định điều chỉnh M&A bắt buộc, định giá, hợp đồng M&A và chuyển tiếp quan hệ tín dụng.
  • Đưa ra đánh giá pháp lý độc lập về biện pháp can thiệp mua lại ngân hàng yếu kém giá 0 đồng của NHNN, chỉ rõ khoảng trống pháp lý liên quan đến quyền tài sản của cổ đông.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi đồng bộ Luật Doanh nghiệp, Luật Các TCTD, sửa đổi Thông tư 04/2010/TT-NHNN và kiến nghị thành lập cơ quan giám sát độc lập cho tiến trình M&A ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt phạm vi, luận án chỉ tập trung nghiên cứu đối với loại hình NHTMCP và khảo sát các giao dịch thực tiễn trong giai đoạn 2010–2015 trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật ban hành đến hết năm 2015. Các loại hình TCTD phi ngân hàng và các định chế tài chính khác không thuộc phạm vi giải quyết của đề tài.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở gồm:

  • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế định giá tài sản vô hình và thương hiệu của NHTM trong các giao dịch M&A.
  • Hoàn thiện khung pháp lý về giám sát và xử lý triệt để tình trạng sở hữu chéo phức tạp phát sinh sau M&A.
  • Nghiên cứu sâu hơn về quy trình phá sản, giải thể TCTD theo chuẩn mực quốc tế kết hợp đồng bộ với công cụ M&A.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo các luận cứ khoa học để phục vụ việc sửa đổi Luật Các TCTD, Luật Doanh nghiệp, xây dựng văn bản hướng dẫn xử lý TCTD yếu kém và quản lý tập trung kinh tế.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về lý luận M&A ngân hàng, cấu trúc quy phạm và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật.
  • Các ngân hàng thương mại, tổ chức tư vấn pháp lý và tài chính: Tham khảo khung điều kiện, quy trình pháp lý, kỹ thuật soạn thảo hợp đồng M&A và phương án xử lý rủi ro pháp lý thời kỳ hậu sáp nhập.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất pháp lý của hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM được xác định như thế nào trong luận án?
Bản chất pháp lý của M&A NHTM là việc giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua các hoạt động đầu tư và tổ chức lại doanh nghiệp; thực hiện việc chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên; đồng thời xác định lại tư cách pháp lý của các bên tham gia sau khi hoàn tất giao dịch tại thời điểm được cơ quan quản lý ngân hàng chấp thuận.

2. Hoạt động M&A NHTM có những đặc trưng cơ bản nào khác biệt so với M&A doanh nghiệp thông thường?
Luận án chỉ ra 5 đặc trưng cơ bản: (1) Chỉ NHTM mới được thực hiện M&A với tư cách bên mua lại hoặc nhận sáp nhập đối với TCTD, doanh nghiệp ngoài ngành không được phép; (2) Hoạt động ngân hàng phải duy trì liên tục, ổn định trong mọi giai đoạn của M&A; (3) Trình tự, thủ tục phức tạp và được kiểm soát khắt khe hơn; (4) Quyền lợi của người gửi tiền là ưu tiên cao nhất; (5) Thời điểm chuyển giao quyền và nghĩa vụ phụ thuộc vào văn bản chấp thuận có hiệu lực của cơ quan quản lý ngân hàng.

3. Luận án đánh giá như thế nào về tính pháp lý của việc NHNN mua lại bắt buộc ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng?
Luận án nhận định đây là biện pháp tình thế cần thiết nhằm tránh nguy cơ đổ vỡ dây chuyền, bảo đảm an toàn hệ thống và bảo vệ người gửi tiền. Tuy nhiên, việc NHNN mua lại bắt buộc toàn bộ tài sản với giá 0 đồng mà không mua lại toàn bộ cổ phần của tất cả cổ đông, dẫn đến chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông hiện hữu là chưa có cơ sở pháp lý vững chắc trong hệ thống pháp luật tại thời điểm thực hiện.

4. Luận án đề xuất sửa đổi những điểm cụ thể nào trong Luật Doanh nghiệp và Luật Các TCTD?
Tác giả kiến nghị bổ sung "mua lại" là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp chính thức trong Luật Doanh nghiệp để đồng bộ với Luật Cạnh tranh. Đối với Luật Các TCTD, cần quy định trực tiếp và chi tiết chế định M&A NHTM (thay vì chỉ quy định chung chung về tổ chức lại TCTD), bổ sung quy chuẩn rõ ràng về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục, hệ quả pháp lý và giải quyết tranh chấp cho cả trường hợp tự nguyện lẫn bắt buộc.

5. Vì sao luận án kiến nghị thành lập cơ quan giám sát độc lập đối với tiến trình M&A ngân hàng?
Việc cơ quan quản lý ngân hàng (NHNN) vừa là chủ thể phê duyệt, chấp thuận M&A, vừa trực tiếp tổ chức thanh tra, giám sát quá trình thực hiện có thể dẫn đến sự thiếu khách quan. Trong các thương vụ M&A bắt buộc có thể phải sử dụng nguồn ngân sách lớn của nhà nước, do đó cần một cơ quan giám sát độc lập để bảo đảm tính minh bạch, chặt chẽ và đúng quy định pháp luật.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Minh Sơn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về M&A NHTM và làm rõ các đặc thù của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Dựa trên việc phân tích thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và khảo sát các thương vụ điển hình tại Việt Nam giai đoạn 2010–2015, công trình đã chỉ rõ những bất cập, khoảng trống trong cơ chế M&A tự nguyện và M&A bắt buộc. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, Luật Các TCTD cùng các văn bản hướng dẫn thi hành cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.