chương 1, chúng tôi sẽ trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề có tính chất lý thuyết liên quan đến từ ngữ nghề nghiệp nói chung, từ ngữ nghề nông ở Nghệ Tĩnh nói riêng. Đây cũng là định hướng nghiên cứu cho luận án. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp 1.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trong nghiên cứu về cơ cấu vốn từ, các nhà chuyên môn thường phân biệt các lớp từ: từ toàn dân, từ địa phương, tiếng lóng, từ nghề nghiệp, thuật ngữ [140], [142]. Từ điển Bách khoa Ngôn ngữ học (1990) định nghĩa từ ngữ nghề nghiệp theo hướng đối lập từ nghề nghiệp với thuật ngữ. Cuốn sách đã nêu được đặc điểm nghĩa, thuộc tính, phạm vi sử dụng hạn chế và phong cách khẩu ngữ của lớp từ này: từ ngữ nghề nghiệp là: “Các từ và tổ hợp từ được các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó sử dụng (…). Từ nghề nghiệp thường có sắc thái biểu cảm.
Thuật ngữ có nghĩa chính xác và trung hòa về sắc thái, từ nghề nghiệp là kết quả của chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ. Từ nghề nghiệp thường sử dụng trong khẩu ngữ” [151, tr. 8 Các nhà nghiên cứu nước ngoài về tên riêng, về địa danh cũng rất quan tâm đến từ nghề nghiệp. Nhà nghiên cứu L.
Kapanađze cho rằng: “Từ ngữ nghề nghiệp thường vốn mang một số tính hình ảnh, hình tượng "so sánh" (Dẫn theo [68, tr. Superanskaja khi bàn về thuật ngữ và danh pháp, khi dẫn ra một số tên gọi dài dòng, biểu cảm đã cho rằng: Tên gọi kiểu này (tên gọi dài dòng không được thừa nhận do yêu cầu tính hệ thống của việc miêu tả khoa học - khi đi vào phạm vi từ vựng thông thường không tránh khỏi bị rút gọn đi) "vốn sinh ra từ trong phạm vi của sự biểu đạt trong khoa học, đã biến thành yếu tố của lời nói thông thường hoặc ngôn từ nghề nghiệp" (Dẫn theo [68, tr. Bà diễn giải thêm: “Để việc bán hàng được thuận lợi, các mặt hàng phải có tên gọi đặc biệt của mình.nhiệm vụ chủ yếu đề ra cho các từ này là biểu đạt các hàng hoá với tất cả các thuộc tính vật chất của nó. Nhờ điều đó mà, hoặc dù là những sự vật muôn màu muôn vẻ (.) và dường như trong chúng lại có tính duyên dáng, đầy tính biểu cảm" (nhất là vào những thời điểm sáng tạo ra chúng).
Về sau này, những sắc thái biểu cảm sẽ nhanh chóng mất đi, chỉ còn gắn với tính vật chất của hàng hoá - và tuỳ thuộc vào tính vật chất ấy mà có sự đánh giá lại” (Dẫn theo [68, tr. Như vậy, qua các quan điểm nêu trên, ta thấy rằng các nhà nghiên cứu nước ngoài khi bàn đến thuật ngữ hay danh pháp, địa danh, thường có nói đến từ ngữ nghề nghiệp. Từ ngữ nghề nghiệp được chỉ ra là từ ngữ của một nhóm người làm nghề, thường được sử dụng trong nhóm nghề đó; khác thuật ngữ mang tính chính xác về nghĩa, từ nghề nghiệp thường mang nghĩa chuyển, được dùng trong phong cách khẩu ngữ và mang tính biểu cảm. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, quan niệm của các nhà Việt ngữ học về từ nghề nghiệp chưa có sự thống nhất; hiện nay vẫn có các cách hiểu khác nhau về phạm vi sử dụng của loại từ này.
Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của nhóm tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ [136], các tác giả sách này cho rằng: từ ngữ nghề nghiệp là: “các từ ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” [136, tr. Từ nghề nghiệp ở đây được hiểu theo phạm vi hẹp, nó sinh ra và tồn tại 9 trong quá trình sản xuất của nghề, được hình thành và sử dụng chỉ trong phạm vi người làm nghề và phụ thuộc vào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề qui định. Cũng bàn về từ nghề nghiệp, Nguyễn Văn Tu cho rằng: “những từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyên dùng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết. Từ nghề nghiệp cũng khác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa” [125, tr.
Như vậy, tác giả đã phân biệt từ nghề nghiệp với thuật ngữ, ông nhấn mạnh đến tính “đặc trưng” của ngôn ngữ nghề nghiệp, đó chính là phương thức truyền miệng của từ nghề nghiệp và điều này làm cho từ nghề nghiệp mang tính khẩu ngữ. Nghiên cứu từ nghề nghiệp ở phạm vi rộng hơn và cụ thể hơn, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [39], Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [28], Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt [51] và Nguyễn Văn Khang trong Tiếng lóng Việt Nam [67], trong các công trình nghiên cứu của mình các tác giả đã nhìn nhận, đánh giá từ nghề nghiệp dưới các góc độ khác nhau như sau: Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng “Từ nghề nghiệp là lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi của những người cùng làm một nghề nào đó”, [39, tr. Theo các tác giả, lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như nghề làm giấy, làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới… Tuy nhiên hoạt động của các từ nghề nghiệp lại không đồng đều, có từ sử dụng hạn chế trong phạm vi một nghề, nhưng có những từ ngữ đi vào vốn từ vựng chung, được dùng trong toàn dân, phổ biến trong xã hội. Từ góc độ nghiên cứu của mình, Đỗ Hữu Châu khẳng định: “từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư v.
Đỗ Hữu Châu cho rằng từ nghề nghiệp bao gồm cả những từ được dùng rộng rãi trong xã hội như cày, bừa, cuốc, cào (nghề nông), đục, cưa, bào,… (nghề mộc) bởi đây là những từ chỉ công cụ của nghề. 10 Đồng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội. Những từ ngữ này thường được người trong ngành nghề đó biết và sử dụng. Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng…” [51, tr.
Tác giả đã nêu được hai đặc điểm cơ bản của từ ngữ nghề nghiệp đó là: từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ chỉ công cụ, hoạt động và sản phẩm của một nghề và từ ngữ nghề nghiệp có phạm vi sử dụng hạn chế về mặt xã hội. Nguyễn Văn Khang thì gọi từ nghề nghiệp là tiếng nghề nghiệp và xem nó thuộc phương ngữ xã hội, “nghề nghiệp là cơ sở để tạo ra những hệ thống từ ngữ nghề nghiệp riêng và cùng với đó là hình thành một phong cách ngôn ngữ có dấu ấn nghề nghiệp” [67, tr. Cũng nghiên cứu về ngôn ngữ, ở một góc độ khác, Nguyễn Văn Khang, trong hai công trình Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản [70] và Ngôn ngữ học xã hội [70] đã đề cập đến vấn đề từ nghề nghiệp và loại từ ngữ này được nhìn nhận trong nhiều quan hệ hơn. Tác giả đã đề cập một cách toàn diện các lĩnh vực, các phương diện của lí luận ngôn ngữ học xã hội và những vấn đề cụ thể của ngôn ngữ học xã hội Việt Nam ở chương 5 [66] và chương 8 [70].
Đây có thể xem là hai công trình đầu tiên bàn về mối quan hệ giữa phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội và có đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp. Tuy nhiên, vì là chuyên khảo nghiên cứu các vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học xã hội nên từ ngữ nghề nghiệp chỉ được tác giả giới thiệu vài nét khái quát nhưng lại có sự gợi mở định hướng nghiên cứu mở rộng về đối tượng này. Trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu từ nghề nghiệp được các nhà ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu khác quan tâm, đã có nhiều công trình công bố trên các tạp chí chuyên ngành cũng như các hội thảo khoa học về từ ngữ nghề nghiệp của các tác giả như: Nguyễn Văn An [2], Hoàng Trọng Canh [19], Lê Viết Chung [38], Phạm Hùng Việt [133]. Bên cạnh đó, còn có một số luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận có nghiên cứu các đề tài liên quan đến lĩnh vực này.
Có thể điểm một số công trình của 11 các tác giả: Võ Chí Quế [93]; Triều Nguyên [85]; Phan Thị Tố Huyền [65]; Đoàn Nô [90]; Trần Thị Ngọc Hoa [63]; Hoàng Trọng Canh [18], [25]; Lê Thị Hương Giang [46]. Các công trình nghiên cứu này bước đầu đã nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, định danh và chỉ ra những yếu tố đặc trưng, đồng thời nhìn nhận từ ngữ nghề nghiệp trong mối quan hệ với văn hóa chung của cộng đồng dân tộc nhưng chỉ ở phạm vi cụ thể, chủ yếu là làng nghề truyền thống của một địa phương, chứ chưa nghiên cứu sâu từ nghề nghiệp ở góc độ ngôn ngữ - văn hóa một cách quy mô và có hệ thống. Trong số các nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đề tài khoa học cấp Viện của Viện Ngôn ngữ học Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng [68] Nguyễn Văn Khang làm chủ nhiệm đề tài là đáng chú ý. Trong công trình của mình, tác giả đã chỉ ra mô hình cấu tạo, trường từ vựng - ngữ nghĩa, nguồn gốc các đơn vị định danh và thống kê được 861 đơn vị từ ngữ nghề gốm Bát Tràng.
Tuy nhiên, công trình lại chưa đi sâu nghiên cứu ở phương diện định danh - một nhân tố quan trọng cho thấy những nét văn hóa làng nghề được phản ánh vào ngôn ngữ. Khoảng 15 năm lại đây, nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp một số nghề ở một vùng phương ngữ cụ thể, nhiều nhất là vùng Thanh - Nghệ Tĩnh, đó là một trong những hướng nghiên cứu được quan tâm.