Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)". Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (hướng nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội kết hợp Việt ngữ học), tiếp cận vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng trên các phương tiện truyền thông điện tử hiện đại.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong sự phát triển của ngôn ngữ, bên cạnh các phương thức cấu tạo từ nội lực, vay mượn từ vựng đóng vai trò ngoại lực quan trọng để bổ sung vốn từ. Tiếng Anh hiện giữ vị thế ngôn ngữ giao tiếp quốc tế, chứa đựng hơn 85% lượng thông tin toàn cầu. Từ đầu thế kỷ XXI, tiếng Anh thâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống ngôn ngữ của nhiều quốc gia, trong đó có tiếng Việt.
Truyền thông trực tuyến (báo mạng hay báo online) là kênh truyền dẫn có tốc độ cập nhật nhanh nhất, đồng thời chịu áp lực kép về thời gian đưa tin khẩn trương và không gian mạng mở rộng. Áp lực này dẫn đến sự đa dạng trong cách tiếp nhận và xử lý ngôn ngữ, tạo ra nhiều biến thể về cách viết, cách đọc và cách dùng từ ngữ tiếng Anh trong văn bản tiếng Việt.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong khi các lớp từ mượn tiếng Hán (chiếm hơn 65% vốn từ tiếng Việt) và từ mượn tiếng Pháp (khoảng 3.000 từ) đã trải qua quá trình Việt hóa sâu sắc về ngữ âm, chữ viết và cấu trúc, thì từ ngữ tiếng Anh du nhập vào tiếng Việt hiện nay chủ yếu tồn tại ở dạng nguyên dạng với các cách phỏng âm không đồng nhất. Thực trạng này đặt ra vấn đề cần phân định rõ giữa từ mượn, hiện tượng chuyển mã (code-switching) và trộn mã (code-mixing), đồng thời đòi hỏi phải có sự khảo sát, lí giải toàn diện dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội nhằm phục vụ công tác chuẩn hóa ngôn ngữ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát, xác định đặc điểm của việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt hiện nay, đồng thời lí giải các nhân tố ngôn ngữ - xã hội tác động đến việc sử dụng đó. Qua đó, công trình đóng góp vào lý luận tiếp xúc ngôn ngữ từ giác độ ngôn ngữ học xã hội, hỗ trợ công tác chuẩn hóa tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 5 nhiệm vụ:
- 2.1. Tổng quan có đánh giá, nhận xét những nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;
- 2.2. Xây dựng cơ sở lí thuyết để làm cơ sở triển khai luận án;
- 2.3. Nghiên cứu, khảo sát thực trạng, đặc điểm của các từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trên một số báo mạng;
- 2.4. Nghiên cứu, khảo sát thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối với việc sử dụng các từ ngữ tiếng Anh được dùng trên các báo mạng;
- 2.5. Lí giải và đề xuất kiến nghị việc sử dụng các từ ngữ tiếng Anh trên các báo mạng gắn với việc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt.
Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các đơn vị từ ngữ tiếng Anh được sử dụng trên một số báo mạng tiếng Việt.
- Phạm vi và tư liệu nghiên cứu: Khảo sát trên các trang báo điện tử gồm Dân trí, VnExpress, Báo mới và một số báo mạng khác, thu thập tư liệu từ năm 2013 trở lại đây. Tác giả chọn ba trang báo này vì đây là các trang báo điện tử thuần túy, không có ấn bản báo in đi kèm, nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng từ quy chuẩn của báo giấy (dù Báo mới là trang tổng hợp dẫn nguồn).
- Phương thức thu thập: Áp dụng phương pháp chọn mẫu chủ ý kết hợp ngẫu nhiên, tập trung vào 6 chuyên mục có mật độ xuất hiện từ ngữ tiếng Anh cao: khoa học công nghệ, thể thao, kinh doanh, giáo dục, giải trí và du lịch.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng đã được khảo cứu qua nhiều công trình kinh điển:
- Khái niệm và cơ chế vay mượn: Einar Haugen, Uriel Weinreich (1953), Joachim Grzega (2003), Ghil'ad Zuckermann (2003), Thomason và Kaufman (1988), André Martinet. E. Haugen phân tích sự vay mượn thông qua hai khái niệm tiếp nạp (adoption) và khuếch tán (diffusion), nhấn mạnh sự tái sinh mô hình ngôn ngữ (language pattern). Edward Sapir chỉ rõ ngôn ngữ hiếm khi tự đầy đủ, nhu cầu giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị tất yếu dẫn đến tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Phân loại thuật ngữ: Các học giả quốc tế phân định các khái niệm: Alien word, Borrowed/borrowing word, Foreign word, Hybrid word, Loan word, Loan blend, Loan translation/calque. Nhằm tránh cách hiểu sai lệch về việc "vay mà không trả", Ralph Fasold và Ray đề xuất sử dụng thuật ngữ từ sao chép (copying word).
- Động cơ vay mượn: V. Nikolsky chỉ ra rằng vay mượn diễn ra khi ngôn ngữ thiếu từ biểu đạt, hoặc ngay cả khi đã có từ tương đương nhưng vẫn mượn do uy tín của ngôn ngữ cao (H) so với ngôn ngữ thấp (L) (như trường hợp tiếng Hán đối với các ngôn ngữ phương Đông). Giới ngôn ngữ học Âu - Mỹ chứng minh việc mượn từ khi đã có từ biểu đạt là bình thường, xuất phát từ yếu tố uy tín (prestige), chẳng hạn người Anh dùng nom de plume của tiếng Pháp dù đã có pen-name.
| Ngôn ngữ nguồn | Tỷ lệ trong vốn từ tiếng Anh |
|---|---|
| Tiếng Latinh | 29% |
| Tiếng Pháp | 29% |
| Tiếng Đức | 26% |
| Tiếng Hy Lạp | 6% |
| Các ngôn ngữ khác | 10% |
- Quá trình đồng hóa: R. L. Trask (1996) nghiên cứu sự biến đổi hình thái của từ mượn tiếng Anh trong tiếng Đức (kamera test). Volodarskaja (2001) thống kê hệ thống phụ tố mượn trong tiếng Anh với tỷ lệ cụ thể:
| Nhóm phụ tố | Tiền tố (%) | Hậu tố (%) |
|---|---|---|
| Thuần Anglo-Saxon | 11,7% | 30,0% |
| Gốc Pháp | 16,0% | 35,0% |
| Gốc Latinh | 45,0% | 26,3% |
| Gốc Hy Lạp | 26,7% | 6,7% |
| Nguồn khác (Ả Rập, Nga, Đan Mạch, Kent) | 0,6% | 2,0% |
- Chuyển mã và trộn mã: Jane Hill (1980) nhận định khó phân định ranh giới tuyệt đối giữa chuyển mã (code-switching) và trộn mã (code-mixing). Carol Myers-Scotton (1999) đề xuất giả thuyết Ngôn ngữ ma trận (Matrix Language hypothesis - ML) phân chia ngôn ngữ căn bản (principal language) và ngôn ngữ nhúng (embedded language).
- Ngôn ngữ học xã hội và chuẩn hóa: William Labov (1966) nghiên cứu sự phân tầng xã hội trong cách phát âm tại New York; Ronald Wardhaugh nghiên cứu cộng đồng giao tiếp (speech community) và mạng xã hội (social network); Claude Hagège đưa ra quan niệm động về chuẩn hóa: lỗi của hôm qua có thể trở thành chuẩn của ngày mai.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ và từ mượn trong tiếng Việt được triển khai qua nhiều giai đoạn:
- Tiếp xúc ngôn ngữ lịch sử: Nguyễn Tài Cẩn, Trần Trí Dõi, Phan Ngọc, Phạm Đức Dương, Nguyễn Ngọc San nghiên cứu quan hệ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Nam Á. Vương Lực (Wang Li) và Nguyễn Tài Cẩn nghiên cứu cách đọc Hán - Việt. Vũ Đức Nghiệu thống kê nguồn gốc lịch sử của các lớp từ:
| Nguồn gốc ngôn ngữ | Số lượng từ xác định |
|---|---|
| Gốc Proto Mon - Khmer | 520 từ |
| Gốc Việt - Mường | 362 từ |
| Gốc Proto Việt - Mường | 145 từ |
| Tương ứng với các ngôn ngữ Nam Á khác | ~90 từ |
- Các công trình nghiên cứu từ vựng và từ ngoại lai: Giáo trình và chuyên khảo của Nguyễn Văn Tu (1976), Đỗ Hữu Châu (2005), Nguyễn Thiện Giáp (1985, 2015), Lưu Văn Lăng (1987), Nguyễn Như Ý (1989), Vũ Quang Hào (1991), Bùi Đức Tịnh (1976), Nguyễn Đức Dân (1999). Đặc biệt có chuyên khảo "Từ gốc Pháp trong tiếng Việt" của Vương Toàn (1992) và "Từ ngoại lai trong tiếng Việt" của Nguyễn Văn Khang (2007).
- Đặc điểm từ mượn Hán: Nghiên cứu của Phan Văn Các (1981), Nguyễn Văn Thạc (1968), Nguyễn Quang Hồng (1994). Theo Nguyễn Văn Khang (2007), trong các đơn vị mượn Hán, từ mang khái niệm mới tiếng Việt chưa có chỉ chiếm 15% (như thánh, hiền, tiên, phật), còn từ biểu thị khái niệm tiếng Việt đã có chiếm tới 85% (tạo nên các cặp đồng nghĩa: chó - cẩu, dài - trường, chết - tử/hi sinh).
- Đặc điểm từ mượn Ấn - Âu: Các nghiên cứu của Lê Văn Thới, Lê Quang Thiêm, Đỗ Phương Lâm (2017) chỉ ra các cơ chế: phiên chuyển (xắc-cốt, xiếc, cao bồi), dịch nghĩa (nút cổ chai, giết thì giờ), đơn tiết hóa/song tiết hóa (bombe > bom, website > web, copy > cóp, remote control > rì mù), và gán thanh điệu (pạt-ty, cát-xê, xì-tai, rì-sọt).
- Từ ngữ tiếng Anh trên báo chí: Nguyễn Thiện Giáp (2000), Nguyễn Văn Khang (2000), Nguyễn Thúy Nga (2013), Nguyễn Tài Thái (2013), Vương Toàn (2013), Đỗ Thùy Trang (2015), Trần Văn Phước (2017), Trần Thị Thu Hà (2017). Thống kê của Nguyễn Tài Thái trên 762 từ ngữ tiếng Anh từ các báo (Tiền phong, Hoa học trò, Thể thao, Kinh tế, Vietnamnet.vn, Dân trí.vn) cho thấy:
| Hình thức thể hiện chữ viết | Tỷ lệ khảo sát (%) |
|---|---|
| Viết nguyên dạng | 67,5% |
| Viết theo tiếng Việt có dấu | 16,7% |
| Viết theo tiếng Việt không dấu | 13,3% |
| Viết theo tiếng Việt có gạch nối | 2,5% |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây tập trung mô tả từ mượn tiếng Anh trên báo in truyền thống hoặc nghiên cứu tĩnh về mặt cấu trúc. Luận án này lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát thực trạng sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên môi trường báo mạng tiếng Việt thuần túy; giải quyết sự lúng túng trong việc phân loại giữa từ mượn và trộn mã/chuyển mã; phân tích nguyên nhân hình thành các biến thể ngữ âm - chính tả; và đo lường thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội nhằm đề xuất định hướng chuẩn hóa và biên soạn từ điển theo quan điểm ngôn ngữ học xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng các lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại:
- Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng: Tiếp xúc ngôn ngữ là điều kiện tất yếu làm nảy sinh giao thoa (interference), vay mượn (borrowing), chuyển mã (code-switching) và trộn mã (code-mixing).
- Giới hạn khái niệm "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt": Luận án lựa chọn thuật ngữ "từ ngữ" để bao hàm cả đơn vị từ và cụm từ cố định tương đương từ. Tác giả sử dụng cách định danh "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt" (theo Nguyễn Văn Khang, 2007) thay vì "từ mượn tiếng Anh", bởi phần lớn các đơn vị này trên báo chí hiện nay chưa trải qua quá trình đồng hóa ngữ âm - chính tả mà tồn tại ở dạng viết nguyên ngữ, nằm ở ranh giới giữa yếu tố mượn và hiện tượng trộn mã.
- Bốn phương thức tiếp nhận từ vựng ngoại lai: Sao phỏng (calque - sao phỏng ngữ nghĩa, dịch sao phỏng như nút cổ chai, thuế giá trị gia tăng); Phỏng âm (cowboy > cao bồi, show > sô); Chuyển tự (áp dụng giữa các hệ thống chữ viết khác nhau); Giữ nguyên dạng chữ viết (computer, internet, email, scandal, fan).
- Lý thuyết biến thể và chuẩn hóa ngôn ngữ học xã hội: Vận dụng quan niệm của William Labov về biến ngôn ngữ và biến xã hội (giai tầng, giới tính, lứa tuổi); khái niệm cộng đồng giao tiếp của Ronald Wardhaugh và mạng xã hội (social network). Tiếp cận chuẩn hóa theo hướng ngôn ngữ học xã hội (kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ), coi chuẩn hóa là khái niệm mang tính lịch sử, kết hợp giữa chuẩn hệ thống (quy tắc bản vị) và chuẩn sử dụng (quy tắc ngữ dụng) dựa trên sự đồng thuận của xã hội (theo quan điểm của Hoàng Phê, Hoàng Tuệ, Đỗ Hữu Châu, Đoàn Thiện Thuật).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Thống kê số lượng, tần suất xuất hiện của các từ ngữ tiếng Anh trên các trang báo mạng. Luận án thực hiện thống kê trọn vẹn ngữ cảnh (ghi lại toàn bộ câu chứa từ ngữ) nhằm xác định bối cảnh xuất hiện, lí do dùng nguyên dạng hay biến thể phiên âm, và vai trò ngữ dụng của từ ngữ.
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả cấu trúc hình thái, đặc điểm từ loại, mức độ đồng hóa và biến đổi ngữ nghĩa của từ ngữ tiếng Anh trong môi trường tiếng Việt so với nguyên ngữ.
- Phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã hội: Sử dụng bảng hỏi kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở để thu thập dữ liệu định lượng và định tính về thái độ ngôn ngữ (đồng ý/phản đối, ưa thích/không ưa thích) của độc giả thuộc các tầng lớp xã hội đối với việc sử dụng từ tiếng Anh trên báo mạng. Áp dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu để làm rõ nguyên nhân của các đánh giá xã hội.
- Thủ pháp diễn dịch, quy nạp và tiếp cận liên ngành: Kết hợp kiến thức văn hóa, xã hội và truyền thông để phân tích tác động của bối cảnh toàn cầu hóa đến hành vi sử dụng ngôn ngữ.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Ngữ liệu được trích xuất từ các bài viết thuộc các trang báo mạng tiếng Việt: Dân trí, VnExpress, Báo mới từ năm 2013 trở lại đây. Tư liệu tập trung vào các phát ngôn chứa từ ngữ tiếng Anh trong 6 chuyên mục: khoa học công nghệ, thể thao, kinh doanh, giáo dục, giải trí, du lịch.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án gồm các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 3 chương nội dung chính:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của luận án
Chương 1 hệ thống hóa các thành tựu nghiên cứu về tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ ngữ trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả điểm lại lịch sử tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam Á, tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn - Âu (tiếng Pháp, tiếng Anh), chứng minh rằng vay mượn là con đường khách quan làm giàu vốn từ.
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết:
- Xác định sự khác biệt và mối liên hệ giữa các khái niệm: tiếp xúc ngôn ngữ, giao thoa, chuyển mã, trộn mã và từ mượn;
- Phân tích các bình diện đồng hóa của từ ngữ vay mượn: ngữ âm - chữ viết (giữ nguyên cách đọc và viết; đổi cách đọc giữ nguyên cách viết; đổi cả cách đọc và viết); hình thái - cấu trúc (giữ nguyên hình thái; thay đổi theo loại hình đơn lập; mượn phụ tố tạo từ); từ vựng - ngữ nghĩa (giữ nguyên nghĩa; thu hẹp nghĩa như fan, banc; mở rộng hoặc thêm nghĩa mới như phone, modern);
- Trình bày ba khuynh hướng chuẩn hóa ngôn ngữ (quy phạm luận, miêu tả luận và ngôn ngữ học xã hội), đặt nền tảng lý luận cho việc xem xét các biến thể từ ngữ tiếng Anh như những sự lựa chọn ngôn ngữ gắn liền với bối cảnh xã hội và cộng đồng giao tiếp.
Chương 2. Đặc điểm từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng tiếng Việt
Chương 2 trình bày kết quả phân loại, tổng hợp và phân tích thực trạng sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên các trang báo khảo sát:
- Đặc điểm ngữ âm và chữ viết: Xu hướng viết nguyên dạng chiếm ưu thế áp đảo trên các báo mạng (Dân trí, VnExpress, Báo mới). Tồn tại sự song song giữa các cách viết nguyên dạng (world cup, golf, fan), viết phỏng âm chính thức trên báo in truyền thống (in-tơ-nét, com-pu-tơ), và viết phỏng âm phi chính thức trên mạng xã hội (se, phây, meo). Cách phát âm các từ nguyên dạng mang tính phỏng âm tự phát, không thống nhất (ví dụ: world cup được đọc thành uôn cúp, uôn cắp, vơn cúp, oăn cúp).
- Đặc điểm hình thái và cấu trúc: Các từ ngữ tiếng Anh khi đi vào báo mạng chịu sự chi phối của loại hình tiếng Việt: xuất hiện hiện tượng rút gọn âm tiết, đơn tiết hóa (web, cam, cóp), ghép lai Anh - Việt (bầu show, fan hâm mộ, săn vé giá rẻ), hoặc giữ nguyên các cấu trúc viết tắt (ATM, POS, CMS, TBM).
- Đặc điểm từ loại và ngữ nghĩa: Phân loại từ ngữ tiếng Anh theo các nhóm từ loại chính (danh từ chiếm đa số, kế đến là động từ và tính từ). Về mặt ngữ nghĩa, một bộ phận từ ngữ biểu thị các khái niệm khoa học, công nghệ, thể thao mới mà tiếng Việt chưa có từ biểu đạt tương đương (break, clip, internet); một bộ phận khác được sử dụng dù tiếng Việt đã có từ tương đương nhằm tạo tính cô đọng, sắc thái biểu cảm hoặc tính thời thượng (hot, share, book, check in, body).
- Lí giải nguyên nhân: Sự xuất hiện đa dạng của các biến thể được lý giải bởi áp lực cập nhật thông tin tức thời của báo điện tử, tính chất của không gian mạng, và thói quen ngôn ngữ của những người làm truyền thông số.
Chương 3. Từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Chương 3 triển khai khảo sát thực nghiệm về thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội đối với hiện tượng sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên báo mạng:
- Kết quả điều tra thái độ ngôn ngữ: Độc giả thuộc các nhóm xã hội, độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau thể hiện thái độ đánh giá đa chiều. Nhóm độc giả trẻ và người làm việc trong môi trường công nghệ, kinh doanh có xu hướng chấp nhận cao các từ ngữ viết nguyên dạng vì tính tiện lợi và phổ quát; ngược lại, nhóm độc giả lớn tuổi hoặc không thông thạo ngoại ngữ gặp rào cản tiếp nhận và bày tỏ sự không đồng tình với việc lạm dụng tiếng Anh.
- Phân tích tác động:
- Mặt tích cực ("được"): Làm phong phú khả năng diễn đạt của tiếng Việt, đáp ứng nhu cầu giao tiếp nhanh chóng trong thời đại số, cung cấp thuật ngữ chính xác cho các lĩnh vực mới mở rộng.
- Mặt tiêu cực ("mất"): Gây hiện tượng ô nhiễm ngôn ngữ (language pollution), tạo sự đứt gãy trong tiếp nhận thông tin đối với bộ phận công chúng không biết tiếng Anh, làm mất đi tính chuẩn mực và làm mờ nhạt từ ngữ bản ngữ tương đương.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị: Luận án đề xuất các giải pháp mang tính khả thi gắn với chuẩn hóa ngôn ngữ:
- Ban hành quy chuẩn sử dụng từ ngữ nước ngoài trên các cơ quan báo chí chính thống;
- Phân định rõ phạm vi sử dụng: bắt buộc dịch nghĩa hoặc dùng từ tiếng Việt tương đương trong các văn bản thông tin đại chúng phổ thông; chỉ sử dụng nguyên dạng hoặc kèm chú thích đối với các thuật ngữ chuyên ngành chưa có từ dịch tương ứng;
- Định hướng xử lý từ ngữ tiếng Anh trong biên soạn từ điển tiếng Việt theo nguyên tắc kết hợp chuẩn bản vị và chuẩn ngữ dụng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và ngôn ngữ học xã hội vào việc nghiên cứu một hiện tượng ngôn ngữ học mang tính thời sự: việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên báo chí điện tử tiếng Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Phân tích ranh giới lý thuyết giữa từ mượn, chuyển mã (code-switching) và trộn mã (code-mixing); chứng minh tính phù hợp của cách tiếp cận khái niệm "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt" đối với các đơn vị chưa được Việt hóa hoàn toàn về mặt hình thái và ngữ âm.
- Làm sáng tỏ các quy luật biến thể và tiếp nhận từ ngữ ngoại lai dưới góc độ chuẩn hóa ngôn ngữ học xã hội, khẳng định chuẩn hóa là một tiến trình động, gắn liền với sự chấp nhận của cộng đồng giao tiếp và thói quen ngôn ngữ xã hội.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phản ánh thực trạng sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên các báo mạng (Dân trí, VnExpress, Báo mới) từ năm 2013 trở lại đây thông qua các ngữ liệu cụ thể trích xuất trọn vẹn ngữ cảnh.
- Cung cấp dữ liệu điều tra xã hội học ngôn ngữ về thái độ của các tầng lớp độc giả đối với việc sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên truyền thông mạng.
- Đề xuất các căn cứ khoa học và giải pháp thực tiễn cho các nhà báo, biên tập viên truyền thông, cơ quan quản lý báo chí trong việc chuẩn hóa cách viết, cách đọc từ ngữ tiếng Anh, đồng thời gợi mở phương hướng xử lý từ ngữ gốc Anh trong các công trình từ điển tiếng Việt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi khảo sát tư liệu: Tư liệu chỉ tập trung vào một số trang báo mạng thuần túy (Dân trí, VnExpress, Báo mới) trong giai đoạn từ năm 2013 trở lại đây và khu biệt trong 6 chuyên mục, chưa mở rộng sang toàn bộ hệ thống báo chí điện tử tiếng Việt.
- Tính chất nguồn tin: Mặc dù tập trung vào báo mạng thuần túy để tránh ảnh hưởng của báo giấy, nhưng trang Báo mới là trang tổng hợp tin tức từ nhiều nguồn, do đó một số bài viết vẫn mang dấu ấn biên tập của các cơ quan báo in.
- Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu chỉ tập trung vào ngôn ngữ viết trên báo mạng, chưa khảo sát các phương tiện truyền thông đa phương tiện khác (như truyền hình trực tuyến, phát thanh internet) và ngôn ngữ trên mạng xã hội cá nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các nền tảng truyền thông số mới, mạng xã hội và các chương trình truyền hình phát thanh trực tuyến.
- Tiếp tục theo dõi sự biến chuyển của các từ ngữ tiếng Anh theo thời gian nhằm xác định mức độ đồng hóa và khả năng nhập hẳn vào vốn từ vựng tiếng Việt của từng đơn vị cụ thể.
- Xây dựng bảng quy chuẩn thống nhất về chuyển tự, phiên âm hoặc nguyên dạng đối với các thuật ngữ tiếng Anh trên truyền thông đại chúng.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Báo chí và Truyền thông đại chúng tìm kiếm tài liệu tham khảo về lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ, phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội và kỹ thuật khảo sát thái độ ngôn ngữ.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm tư liệu giảng dạy các học phần: Ngôn ngữ học xã hội, Từ vựng học tiếng Việt, Ngôn ngữ báo chí, Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ.
- Biên tập viên, phóng viên báo chí: Tham khảo để nâng cao nhận thức về việc sử dụng từ ngữ ngoại lai, cân nhắc cách dùng từ ngữ tiếng Anh trong tác nghiệp nhằm đảm bảo sự chuẩn mực và dễ hiểu cho độc giả.
- Cơ quan hoạch định chính sách ngôn ngữ và nhà làm từ điển: Cung cấp cứ liệu thực tế hỗ trợ công tác xây dựng quy định chuẩn hóa chính tả tiếng nước ngoài và xác định tiêu chí thu thập từ ngữ ngoại lai vào từ điển tiếng Việt.
Các nội dung đáng tham khảo trong luận án
- Phần tổng quan tài liệu lịch sử tiếp xúc ngôn ngữ của tiếng Việt (tiếp xúc Hán - Việt, Pháp - Việt, Anh - Việt) được hệ thống hóa chi tiết kèm số liệu cụ thể.
- Khung lý thuyết về phân định ranh giới giữa vay mượn từ vựng, giao thoa, chuyển mã và trộn mã.
- Quy trình thu thập ngữ liệu theo ngữ cảnh trọn vẹn và phương pháp thiết kế công cụ điều tra thái độ ngôn ngữ của cộng đồng giao tiếp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lựa chọn thuật ngữ "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt" thay vì dùng "từ mượn tiếng Anh"?
Theo quan niệm truyền thống, một đơn vị từ ngữ nước ngoài chỉ được coi là "từ mượn" khi đã trải qua quá trình đồng hóa ngữ âm và chính tả phù hợp với hệ thống ngôn ngữ đi vay (như cao bồi, sô, xăm, lốp). Tuy nhiên, trên báo mạng hiện nay, phần lớn các yếu tố tiếng Anh đều được viết ở dạng nguyên dạng (world cup, show, clip, hot, share) và có cách đọc phỏng âm không đồng nhất. Để tránh các tranh cãi học thuật chưa ngã ngũ về ranh giới giữa từ mượn và hiện tượng chuyển mã/trộn mã, tác giả lựa chọn thuật ngữ "từ ngữ tiếng Anh trong tiếng Việt" (theo cách tiếp cận của Nguyễn Văn Khang, 2007) nhằm phản ánh đúng thực tế các đơn vị tiếng Anh đang hành chức trong tiếng Việt.
2. Tư liệu khảo sát thực tế của luận án được thu thập từ những nguồn nào và dựa trên nguyên tắc nào?
Tư liệu của luận án được thu thập từ năm 2013 trở lại đây trên các trang báo điện tử: Dân trí, VnExpress, Báo mới và một số báo mạng khác. Tác giả chọn ba trang này vì đây là báo mạng thuần túy, không có ấn bản báo giấy đi kèm, nhằm hạn chế sự chi phối của quy chuẩn báo in. Phương pháp thu thập là chọn mẫu chủ ý kết hợp ngẫu nhiên, tập trung vào 6 chuyên mục xuất hiện nhiều từ tiếng Anh: khoa học công nghệ, thể thao, kinh doanh, giáo dục, giải trí và du lịch.
3. Xu hướng thể hiện chữ viết của từ ngữ tiếng Anh trên báo chí hiện nay diễn ra như thế nào theo các tài liệu luận án tổng quan?
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tài Thái (khảo sát 762 từ ngữ tiếng Anh trên các báo Tiền phong, Hoa học trò, Thể thao, Kinh tế, Vietnamnet.vn, Dân trí.vn) được luận án trích dẫn, xu hướng viết nguyên dạng chiếm ưu thế áp đảo với 67,5%. Các hình thức viết Việt hóa chiếm tỷ lệ thấp hơn: viết theo tiếng Việt có dấu chiếm 16,7%, viết theo tiếng Việt không dấu chiếm 13,3%, và viết theo tiếng Việt có gạch nối chỉ chiếm 2,5%. Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Nga (2013) trên báo Hoa học trò cũng khẳng định mượn nguyên dạng là xu hướng chủ đạo nhưng tồn tại nhiều biến thể chưa có sự nhất quán.
4. Luận án giải thích thế nào về hiện tượng tiếng Việt đã có từ biểu đạt nhưng báo chí vẫn dùng từ tiếng Anh?
Dựa trên quan điểm của Nguyễn Văn Khang (2007, 2012) và các nhà ngôn ngữ học Âu - Mỹ, luận án chỉ ra rằng vay mượn từ ngữ không chỉ nhằm bù đắp chỗ thiếu hụt khái niệm mà còn diễn ra do yếu tố uy tín ngôn ngữ (prestige). Trên báo mạng, nhiều từ tiếng Anh như hot, share, book, check in, body, fan được dùng thay thế cho các từ tiếng Việt đã có sẵn (nóng, chia sẻ, đặt chỗ, người hâm mộ) nhằm tạo sắc thái biểu cảm mới, tăng tính cô đọng, hiện đại và phản ánh tâm lý hướng tới sự hội nhập quốc tế của người sử dụng.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nào để nghiên cứu thái độ ngôn ngữ của xã hội?
Để khảo sát thái độ ngôn ngữ ở Chương 3, luận án sử dụng phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã hội. Tác giả xây dựng bảng câu hỏi kết hợp giữa câu hỏi đóng và câu hỏi mở nhằm thăm dò ý kiến đồng tình hay phản đối của độc giả thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau đối với việc dùng từ tiếng Anh trên báo mạng. Đồng thời, luận án thực hiện phỏng vấn sâu một số đối tượng để làm rõ căn nguyên, động cơ dẫn đến các thái độ ngôn ngữ đó.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Từ ngữ tiếng Anh trên các phương tiện truyền thông tiếng Việt (từ tư liệu của một số báo mạng tiếng Việt)" là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học tiếp cận vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ từ góc độ ngôn ngữ học xã hội. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về từ mượn, chuyển mã, trộn mã và chuẩn hóa ngôn ngữ, đồng thời khảo sát thực trạng sử dụng từ ngữ tiếng Anh trên các báo điện tử thuần túy (Dân trí, VnExpress, Báo mới) từ năm 2013 trở lại đây. Kết quả nghiên cứu làm rõ các biến thể ngữ âm, chữ viết, ngữ nghĩa của từ ngữ tiếng Anh dưới áp lực truyền thông số, đồng thời đo lường thái độ ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội. Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cho công tác chuẩn hóa tiếng Việt, định hướng tác nghiệp báo chí và biên soạn từ điển tiếng Việt hiện đại.