Luận án tiến sĩ về nghiên cứu phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc trong khai thác và vận chuyển dầu thô

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tổng hợp phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc ứng dụng trong khai thác và vận chuyển dầu thô, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Kỹ Thuật Hóa Học

2022

165
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

1.1. NHỮNG BẤT LỢI CỦA DẦU THÔ CHỨA NHIỀU PARAFINIC

1.1.1. Tổng quan chung về thành phần hóa học của dầu thô

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

CÁC ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc cho dầu thô

Nghiên cứu về phụ gia dầu thô nhằm giảm nhiệt độ đông đặc là một lĩnh vực quan trọng trong ngành công nghiệp dầu khí. Dầu thô chứa nhiều parafin thường gặp phải vấn đề kết tinh khi nhiệt độ giảm, gây khó khăn trong quá trình khai thác và vận chuyển. Việc sử dụng các phụ gia có khả năng giảm nhiệt độ đông đặc giúp cải thiện tính lưu biến của dầu, từ đó nâng cao hiệu quả vận chuyển.

1.1. Tầm quan trọng của phụ gia trong ngành dầu khí

Phụ gia đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện tính chất của dầu thô. Chúng giúp ngăn chặn sự lắng đọng sáp và cải thiện khả năng lưu thông của dầu trong ống dẫn.

1.2. Các loại phụ gia phổ biến hiện nay

Có nhiều loại phụ gia được sử dụng, bao gồm các chất hạ điểm đông đặc (PPD) và chất phân tán. Mỗi loại phụ gia có cơ chế hoạt động và hiệu quả khác nhau trong việc giảm nhiệt độ đông đặc.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng dầu thô chứa parafin

Dầu thô chứa nhiều parafin thường gặp phải nhiều thách thức trong quá trình khai thác và vận chuyển. Sự kết tinh của parafin có thể dẫn đến tắc nghẽn ống dẫn, giảm áp suất và làm giảm hiệu suất khai thác. Việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả để giảm thiểu những vấn đề này là rất cần thiết.

2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự kết tinh của parafin

Nhiệt độ là yếu tố quyết định đến sự kết tinh của parafin trong dầu thô. Khi nhiệt độ giảm xuống dưới nhiệt độ xuất hiện sáp (WAT), parafin sẽ bắt đầu kết tủa, gây ra nhiều vấn đề trong quá trình vận chuyển.

2.2. Các phương pháp hiện có để kiểm soát sự kết tinh

Có nhiều phương pháp được áp dụng để kiểm soát sự kết tinh của parafin, bao gồm phương pháp cơ học, hóa học và nhiệt. Tuy nhiên, việc sử dụng phụ gia hóa học được coi là phương pháp hiệu quả và kinh tế hơn cả.

III. Phương pháp nghiên cứu và chế tạo phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc

Nghiên cứu này tập trung vào việc chế tạo các phụ gia từ các copolyme khác nhau nhằm giảm nhiệt độ đông đặc của dầu thô. Các copolyme được tổng hợp từ các monome khác nhau sẽ được thử nghiệm để tìm ra sự kết hợp tối ưu.

3.1. Quy trình tổng hợp copolyme

Quy trình tổng hợp copolyme bao gồm các bước như trùng hợp và đồng trùng hợp các monome. Các điều kiện phản ứng sẽ được tối ưu hóa để đạt được copolyme có tính chất tốt nhất.

3.2. Đánh giá hiệu quả của phụ gia

Hiệu quả của các phụ gia sẽ được đánh giá thông qua các thử nghiệm thực nghiệm, bao gồm xác định nhiệt độ đông đặc và tính chất lưu biến của dầu thô sau khi sử dụng phụ gia.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của phụ gia

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng các phụ gia từ copolyme có thể giảm nhiệt độ đông đặc của dầu thô một cách hiệu quả. Các thử nghiệm thực tế cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong tính chất lưu biến của dầu thô sau khi sử dụng phụ gia.

4.1. Hiệu quả giảm nhiệt độ đông đặc của phụ gia

Phụ gia chế tạo từ copolyme OP 01 đã cho thấy khả năng giảm nhiệt độ đông đặc từ 36°C xuống còn 21°C, vượt trội so với các phụ gia thương mại hiện có.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong ngành dầu khí

Việc ứng dụng phụ gia này trong khai thác và vận chuyển dầu thô mỏ Diamond đã cho thấy hiệu quả rõ rệt, giúp cải thiện tính lưu biến và giảm thiểu sự lắng đọng parafin.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu phụ gia

Nghiên cứu về phụ gia giảm nhiệt độ đông đặc cho dầu thô đã mở ra nhiều triển vọng mới trong ngành công nghiệp dầu khí. Việc phát triển các copolyme mới có thể giúp cải thiện hiệu quả khai thác và vận chuyển dầu thô trong tương lai.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng copolyme làm phụ gia có thể giảm nhiệt độ đông đặc một cách hiệu quả, từ đó cải thiện tính chất lưu biến của dầu thô.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc tối ưu hóa công thức phụ gia và mở rộng ứng dụng cho các loại dầu thô khác, nhằm nâng cao hiệu quả trong ngành công nghiệp dầu khí.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. NHỮNG BẤT LỢI CỦA DẦU THÔ CHỨA NHIỀU PARAFINIC 1. Tổng quan chung về thành phần hóa học của dầu thô a.

Thành phần hydrocacbon Dầu mỏ là một hỗn hợp chất với thành phần hóa học rất phức tạp, trong đó có hàng trăm các cấu tử khác nhau. Mỗi loại dầu mỏ được đặc trưng bởi thành phần riêng, song về bản chất, chúng đều có các hydrocacbon là thành phần chính, chiếm hàm lượng từ 60% đến 90%; còn lại là các hợp chất chứa oxy, lưu huỳnh, nitơ, các phức cơ kim, và các chất nhựa, asphalten. Trong khí dầu mỏ còn có chứa các khí trơ như: N2, He, Ar, Xe… Một điều cần lưu ý là, tuy dầu mỏ trên thế giới rất khác nhau về thành phần hóa học, song lại rất gần nhau về thành phần nguyên tố (hàm lượng C dao động trong khoảng 82% đến 87%, còn H từ 12% đến 15%). Nhìn chung, dầu mỏ càng chứa nhiều hydrocacbon, càng ít các thành phần dị nguyên tố, sẽ có chất lượng càng tốt, và có giá trị kinh tế cao [1-5, 18].

Nhìn một cách tổng quát thì thành phần hoá học của dầu mỏ được chia thành hai thành phần: các hợp chất hydrocacbon (HC) là hợp chất mà trong thành phần của nó chỉ chứa hai nguyên tố là cacbon và hydro; các hợp chất phi HC, là các hợp chất mà trong thành phần của nó ngoài cacbon, hydro, còn chứa thêm các nguyên tố khác như nitơ, lưu huỳnh, oxy. Hydrocacbon là thành phần chính và quan trọng nhất của dầu mỏ, thường được chia làm 3 loại: các hợp chất parafinic, các hợp chất vòng no hay naphtenic, các hydrocacbon thơm hay aromatic. Trong thực tế, các phân đoạn có nhiệt độ sôi trung bình và cao thì ngoài các hợp chất trên còn có các hợp chất lai hợp tức là hợp chất mà trong phân tử của chúng có chứa đồng thời một số loại gốc hydrocacbon trên. Điều đáng chú ý là các hydrocacbon không no (olefin, xyclo olefin, diolefin vv.) không có trong hầu hết các loại dầu mỏ, nguyên nhân là trong môi trường áp suất cao và có mặt hydro cũng như các chất khử, vi khuẩn., hầu hết các liên kết olefin đã chuyển hóa thành liên kết bão hòa [1].

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Parafinic là loại hydrocacbon rất phổ biến trong dầu mỏ. Dầu mỏ có độ biến chất càng sâu, tỷ trọng càng nhẹ càng chứa nhiều parafinic; độ biến chất của dầu mỏ ở đây được hiểu là mức độ cắt mạch các hợp chất hữu cơ phức tạp (có nguồn gốc từ động, thực vật.) theo thời gian, trong các điều kiện yếm khí (dưới lòng đất hoặc lòng đại dương). Tuỳ theo cấu trúc mà parafin được chia thành hai loại là parafinic mạch thẳng không nhánh (n-parafin) và parafinic có nhánh (iso-parafin). N-parafin là loại hydrocacbon dễ tách và dễ xác định nhất trong số các loại hydrocacbon có trong dầu mỏ; hiện nay, với việc sử dụng phương pháp sắc ký kết hợp với rây phân tử để tách n- parafin, đã xác định được tất cả các n-parafin từ C1 đến C45.

Hàm lượng của các n- parafin trong dầu mỏ thường dao động từ 25-30% thể tích. Tùy theo dầu mỏ được tạo thành từ những thời kỳ địa chất nào, mà sự phân bố các n-parafin trong dầu sẽ khác nhau, nhìn chung tuân theo quy tắc sau: tuổi dầu càng cao, độ sâu lún chìm càng lớn, hàm lượng n-parafin trong phần nhẹ của dầu mỏ càng nhiều. Các iso-parafin thường chỉ nằm ở phần nhẹ và phần có nhiệt độ sôi trung bình của dầu. Chúng thường có cấu trúc đơn giản, mạch chính dài, nhánh phụ ít và ngắn, thường là nhóm metyl.

Các iso-parafin có số cacbon từ C5 đến C10 là các cấu tử rất quý trong phần nhẹ của dầu mỏ do chúng làm tăng khả năng chống kích nổ (tăng trị số octan) của xăng. So với n-parafin, iso-parafin có độ linh động cao hơn [1-5, 9]. Naphtenic là các hợp chất bão hòa nhưng chứa vòng no, là một trong số các hydrocacbon phổ biến và quan trọng trong dầu mỏ. Hàm lượng của naphtenic trong dầu mỏ có thể thay đổi từ 30-60% khối lượng.

Naphtenic trong dầu mỏ thường gặp dưới 3 dạng chính: loại vòng 5 cạnh, loại vòng 6 cạnh, loại nhiều vòng ngưng tụ hoặc qua cầu nối; còn những loại hợp chất có vòng 7 cạnh trở lên thường hiếm khi xuất hiện hoặc với hàm lượng không đáng kể. Trong đó, các loại naphtenic chứa một vòng (5, 6 cạnh) có các nhánh phụ là loại chiếm phần chủ yếu, và cũng là loại được nghiên cứu đầy đủ nhất. Người ta đã tách ra được hàng loạt naphtenic một vòng có từ 1-3 nhánh phụ trong nhiều loại dầu mỏ khác nhau: trong phần nhẹ của dầu mỏ, chủ yếu chứa các naphtenic một vòng với các nhánh phụ rất ngắn, thường là các nhóm -CH3 và có thể có nhiều nhánh; trong những phần có nhiệt độ sôi cao hơn, các nhánh phụ này dài hơn nhiều; trong những trường hợp nhánh phụ quá dài, tính chất của hydrocacbon không còn mang nhiều đặc trưng của naphtenic nữa, mà chịu ảnh hưởng lớn bởi cấu trúc của mạch parafin - vì 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế, chúng thường được phân loại vào một nhóm riêng là hydrocacbon hỗn hợp (hoặc lai hợp) [1, 4-7]. Các hydrocacbon thơm là các hợp chất mà trong phân tử của chúng có chứa ít nhất một vòng thơm.

Trong dầu mỏ, hệ thống nhân thơm có thể là một vòng, hoặc là hệ nhiều vòng ngưng tụ, trong đó loại hydrocacbon thơm một vòng và các đồng đẳng của nó là phổ biến nhất. Benzen thường gặp với số lượng ít hơn tất cả. Những đồng đẳng của benzen (C7-C15) nói chung đều đã tách và xác định được trong nhiều loại dầu mỏ, những loại ankylbenzen với 1, 2, 3, 4 nhánh phụ như toluen, xylen, 1,2,4 trimetylbenzen đều là những loại chiếm đa số trong dạng hydrocacbon thơm. Tuy vậy, loại 4 nhánh phụ tetra-metylbenzen (1, 2, 3, 4 và 1, 2, 3, 5) thường thấy với tỷ lệ cao nhất.

Theo Lashkarbolooki và cộng sự [96] thì hàm lượng tối đa của toluen trong dầu vào khoảng 2-3%, xylen và benzen vào khoảng 1-6%. Loại hydrocacbon thơm hai vòng có cấu trúc ngưng tụ như naphtalen và đồng đẳng hoặc cấu trúc cầu nối như như diphenyl nói chung đều có trong dầu mỏ, trong đó cấu trúc kiểu diphenyl thường chiếm hàm lượng thấp hơn so với cấu trúc kiểu naphtalen. Trong những phân đoạn dầu mỏ có nhiệt độ sôi cao, những loại hydrocacbon đa vòng thơm ngưng tụ có từ ba vòng trở lên xuất hiện nhiều hơn; trong thực tế, ở những phân đoạn có nhiệt độ sôi cao, hydrocacbon trong dầu mỏ không thường thuộc một trong các nhóm đơn giản như parafinic, naphtenic hay aromatic, mà thường hiện diện dưới dạng các cấu trúc hydrocacbon lai hợp; cấu trúc hydrocacbon lai hợp cũng rất gần với cấu trúc các hợp chất trong các vật liệu hữu cơ ban đầu hình thành nên dầu mỏ, vì thế dầu càng có độ biến chất cao sẽ chứa càng nhiều các hydrocacbon loại lai hợp. Thành phần dẫn xuất hydrocacbon, phi hydrocacbon Bên cạnh hydrocacbon là thành phần chính, các hợp chất phi hydrocacbon, hay dẫn xuất của hydrocacbon, cũng xuất hiện trong dầu thô.

Nhìn chung, dầu thô càng non tuổi, tương ứng với độ biến chất thấp, hàm lượng các hợp chất chứa các dị nguyên tố càng cao. Ngoài ra, tùy thuộc thành phần nguyên tố của loại vật liệu hữu cơ ban đầu tạo ra dầu, hàm lượng và tỷ lệ của từng loại hợp chất chứa các nguyên tố O, N, S. trong từng loại dầu cũng sẽ khác nhau. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lưu huỳnh tồn tại trong các hợp chất phi hydrocacbon phổ biến nhất và đáng chú ý nhất trong dầu thô.

Những loại dầu ít lưu huỳnh thường có hàm lượng lưu huỳnh không quá 0,3- 0,5%, và những loại dầu nhiều lưu huỳnh thường có 1-2% trở lên. Hiện nay, trong dầu mỏ đã xác định được trên 250 loại hợp chất của lưu huỳnh; những hợp chất này thuộc vào những họ sau: mecaptan, sunfua, disunfua, thiophen, và lưu huỳnh tự do (S, H2S). Lưu huỳnh dạng H2S nằm dưới dạng hòa tan trong dầu mỏ, dễ dàng thoát ra khỏi dầu khi đun nóng nhẹ, lại có tính axit, nên gây ăn mòn rất mạnh các hệ thống đường ống, các thiết bị trao đổi nhiệt, chưng cất. Người ta cũng thường căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh H2S có trong dầu thô mà phân biệt dầu “chua” hay dầu “ngọt”: khi hàm lượng H2S trong dầu dưới 3,7 ml/l, dầu được gọi là dầu “ngọt”; ngược lại, quá giới hạn đó, dầu được gọi là dầu “chua”.

Cần chú ý, khi đun nóng, ngay cả lưu huỳnh dạng mecaptan cũng dễ dàng bị phân huỷ tạo ra H2S và làm tổng hàm lượng H2S thực tế trong các thiết bị đun nóng tăng cao hơn nữa, gây ra nhiều tác động tiêu cực đến các hoạt động khai thác, vận chuyển, vận hành chế biến [9-15]. Hiện nay, người ta cũng thường phân loại dầu theo hàm lượng lưu huỳnh tổng: Nếu có ≥0,5% là dầu chua, nhỏ hơn là dầu ngọt. Với nitơ (N), đại bộ phận các hợp chất chứa nó nằm trong phân đoạn có nhiệt độ sôi cao của dầu mỏ. Ở các phân đoạn nhẹ, các hợp chất chứa N chỉ được tìm thấy dưới dạng vết.

Hàm lượng nguyên tố N trong dầu mỏ dao động từ 0,01% đến 1%. Những hợp chất chứa N trong dầu có thể chứa từ 1 đến 4 nguyên tử nitơ, trong đó những hợp chất chứa một nguyên tử N được nghiên cứu nhiều và chúng thường mang tính bazơ như pyridin, quinolin, iso-quinolin, acrylin., hoặc có tính chất trung tính như các vòng pyrol, indol, cacbazol, benzocacbazol.; những hợp chất chứa 2 nguyên tử nitơ trở lên thường có hàm lượng rất thấp so với loại chứa 1 nguyên tử N, ví dụ như các dẫn xuất của indolquinolin, indolcacbazol và porfirin. Đặc biệt, đối với các porfirin là những chất chứa 4 nguyên tử N, thường có xu hướng tạo nên những phức chất với kim loại, như V, Ni và Fe [1, 9, 16-22]. Các chất chứa oxy trong dầu mỏ thường tồn tại dưới dạng axit, xeton, phenol, ete, este., trong đó axit và phenol là các hợp chất quan trọng hơn cả.

Các hợp chất chứa oxy trong dầu mỏ thường nằm trong phân đoạn có nhiệt độ sôi trung bình và cao. Các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com axit thường có một nhóm chức cacboxylic và tồn tại nhiều nhất ở phân đoạn có nhiệt độ sôi trung bình, và giảm dần ở các phân đoạn có nhiệt độ sôi cao hơn. Kim loại có trong dầu mỏ không nhiều, thường từ vài phần triệu đến vài phần vạn. Chúng thường tồn tại trong các phân đoạn dầu thô có nhiệt độ sôi cao và ở dạng phức với các hợp chất hữu cơ (gọi là các hợp chất cơ-kim).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ