Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh Lê Thị Thanh với đề tài "Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi" được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Thị Phương Anh. Luận án thuộc chuyên ngành Động vật học, mã số 62420103, bảo vệ năm 2017.

Về tính cấp thiết, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao, tuy nhiên các áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu đang tạo ra những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, khiến nhiều loài sinh vật đối mặt với nguy cơ suy giảm cá thể hoặc thu hẹp sinh cảnh. Nhóm lưỡng cư và bò sát giữ vị trí mắt xích trong chuỗi và lưới thức ăn tự nhiên, mang giá trị kinh tế nhưng đồng thời cũng là đối tượng nhạy cảm, dễ bị tổn thương trước các biến động môi trường và hoạt động khai thác của con người. Mặc dù các điều tra về khu hệ lưỡng cư và bò sát tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều loài mới và loài bổ sung, song mức độ nghiên cứu diễn ra không đồng đều giữa các vùng miền. Tỉnh Quảng Ngãi sở hữu vị trí địa lý thuộc sườn Đông dãy Trường Sơn, tiếp giáp nhiều hệ sinh thái đặc trưng nhưng các nghiên cứu về lưỡng cư và bò sát trước đây tại địa phương còn thưa thớt, thời gian ngắn và phạm vi hẹp. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu hụt một hệ thống dữ liệu toàn diện về thành phần loài, phân bố sinh thái học và quan hệ địa lý động vật của khu hệ này trên toàn bộ địa bàn tỉnh.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xác định đa dạng thành phần loài, đặc trưng phân bố (theo sinh cảnh, nơi ở, đai độ cao) và một số đặc điểm sinh thái học, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý và bảo tồn các loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi.

Các nội dung nghiên cứu được triển khai theo văn bản bao gồm 6 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Điều tra nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc khu hệ theo bậc phân loại của các loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi.
  2. Mô tả đặc điểm nhận dạng chính các loài lưỡng cư và bò sát ghi nhận bổ sung cho vùng Quảng Ngãi.
  3. Ghi nhận bước đầu đặc điểm sinh thái và nơi phân bố trong khu vực nghiên cứu của lưỡng cư và bò sát.
  4. Nghiên cứu đặc trưng phân bố các loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi.
  5. Phân tích quan hệ địa lý động vật của khu hệ lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi với vùng lân cận.
  6. Xác định giá trị bảo tồn loài và sinh cảnh ưu tiên bảo tồn, các mối đe dọa và đề xuất giải pháp phát triển bền vững tài nguyên lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi.

Đối tượng nghiên cứu là các loài thuộc lớp Lưỡng cư (Amphibia) và lớp Bò sát (Reptilia). Phạm vi không gian là địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với diện tích tự nhiên 515.300 ha, tọa độ địa lý 14°32' đến 15°25' vĩ độ Bắc và 108°06' đến 109°04' kinh độ Đông, trải dài qua 22 điểm khảo sát (14 điểm miền núi và 8 điểm đồng bằng ven biển) thuộc 14 huyện, thành phố. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa kéo dài từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 2 năm 2015 qua 20 đợt khảo sát với tổng cộng 211 ngày làm việc tại thực địa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về lưỡng cư và bò sát tại khu vực miền Trung Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử:

  • Giai đoạn trước năm 1954: Các nghiên cứu chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện, tiêu biểu là Bourret (1934-1942) ghi nhận các loài rắn và thằn lằn tại Quảng Trị, Quảng Bình như Natrix piscator, Natrix laobaoensis, Pelochelys cantorii, Calamaria septentrionalis, cùng các khảo sát của Anderson tại Thừa Thiên Huế với các loài Bufo melanostictus, Hyla annectans, Oxyglossus laevis.
  • Giai đoạn 1954-1975: Đào Văn Tiến (1957) là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên điều tra thành phần loài tại Vĩnh Linh (Quảng Trị), tiếp nối bởi các đợt khảo sát của Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Sư phạm Hà Nội I tại Hà Tĩnh.
  • Giai đoạn sau năm 1975: Xuất hiện các nghiên cứu chuyên sâu về phân vùng và khu hệ như Campden-Main (1984), Trần Kiên và Hoàng Xuân Quang (1992) phân chia 7 phân khu động vật - địa lý học; Hoàng Xuân Quang (1993, 2000, 2006, 2007) nghiên cứu tại Bắc Trung Bộ, Vườn Quốc gia Bến En, Bạch Mã; Lê Nguyên Ngật (1997, 1999, 2001, 2005) nghiên cứu vùng núi Ngọc Linh, Tây Quảng Nam, Pù Mát, Thanh Hóa; Đinh Thị Phương Anh và cs (2000, 2009) nghiên cứu tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà; Ngô Đắc Chứng và cs (2007, 2008, 2009) nghiên cứu tại Phú Yên, Đắk Nông, Đakrông. Nhiều loài mới cho khoa học được công bố bởi Orlov và cs (2004, 2005, 2006, 2012), Rowley và cs (2009, 2014), Ziegler và cs (2007, 2008). Các nghiên cứu sinh học, sinh thái ứng dụng được thực hiện bởi Đinh Thị Phương Anh (1994), Ngô Văn Bình (2009), Trần Quốc Dung (2009).
  • Tình hình nghiên cứu tại vùng Quảng Ngãi: Lê Khắc Huy và cộng sự (2001) báo cáo 94 loài động vật có xương sống trên cạn tại Ba Tơ và Sa Huỳnh nhưng không kèm danh sách chi tiết; Tran và cs (2010) mô tả 16 loài lưỡng cư tại vùng Mỏ Nịt (huyện Sơn Hà); Lê Thị Thanh và Lê Nguyên Ngật (2011) ghi nhận 83 loài tại rừng Cao Muôn (huyện Ba Tơ); Võ Đình Ba và cs (2012) ghi nhận 12 loài lưỡng cư và 17 loài bò sát tại rừng Nà (huyện Mộ Đức); Nemes và cs (2013) ghi nhận và mô tả 35 loài bò sát tại huyện Ba Tơ.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây tại Quảng Ngãi chỉ mang tính cục bộ, phân tán ở một số điểm rừng riêng biệt, chưa có sự điều tra tổng thể đồng bộ trên toàn bộ các sinh cảnh từ đồng bằng, ven biển đến vùng núi cao, chưa cập nhật sự thay đổi về danh pháp phân loại học hiện đại và chưa làm rõ mối quan hệ địa lý động vật học của khu hệ địa phương đối với các vùng lân cận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết phân loại học động vật hiện đại, cập nhật hệ thống phân loại của Pyron và cs (2013), Zaher và cs (2009); cơ sở địa lý động vật học Đông Dương theo Bain và Hurley (2011) và phân vùng địa lý động vật Việt Nam của Trần Kiên và Hoàng Xuân Quang (1992); tiêu chuẩn phân hạng bảo tồn theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2017), Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp khảo sát thực địa được tiến hành trên 22 điểm nghiên cứu thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Thời gian thu thập mẫu diễn ra ban ngày (từ 7h đến 16h) và ban đêm (từ 19h đến 23h). Kỹ thuật thu mẫu bao gồm bắt trực tiếp bằng tay, dùng vợt đối với lưỡng cư và thằn lằn; sử dụng kẹp bắt rắn, móc hoặc thòng lọng đối với rắn và rùa. Tọa độ các điểm khảo sát được định vị bằng máy định vị GPS map 76S Garmin. Mẫu vật thu thập được gây mê bằng etyl axetat hoặc ete, sau đó định hình và bảo quản trong dung dịch cồn 70° hoặc formalin 5-10%. Đối với các mẫu bò sát và lưỡng cư kích thước lớn, tác giả thực hiện rạch bụng hoặc tiêm trực tiếp dung dịch formalin 7% vào khoang cơ thể. Mỗi mẫu vật được gắn thẻ nhãn vào cổ hoặc khớp gối chân sau bên trái.

Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tập trung vào đo đạc các chỉ số hình thái phân loại học bằng thước kẹp cơ học có độ chính xác 0,1 mm, kính lúp cầm tay và kim nhọn:

  • Lưỡng cư không đuôi: Đo 18 chỉ số hình thái chính bao gồm dài thân (SVL), dài đầu (HL), rộng đầu (HW), gian mũi (IND), đường kính mắt (ED), rộng mí mắt trên (UEW), gian ổ mắt (IOD), đường kính màng nhĩ (TD), dài mắt - màng nhĩ (TEL), dài mắt - mõm (ESL), dài ống tay (FLL), dài bàn tay (HNL), dài ngón tay I (1FL), dài đùi (TL), dài ống chân (TKL), dài bàn chân (FL), dài ngón chân I (1TL) và dài củ bàn chân lớn nhất (IMTL).
  • Phân bộ Thằn lằn: Đo và đếm 17 chỉ số gồm SVL, HL, HW, dài đuôi (TL), đường kính mắt (OD), IOD, IND, khoảng cách mắt - mõm (SED), số lỗ đùi (FP), số lỗ trước huyệt (PP), số tấm môi trên (SL), số tấm môi dưới (IL), số hàng vảy quanh thân (V), số bản mỏng dưới ngón tay I và IV (LaF1, LaF4), số bản mỏng dưới ngón chân I và IV (LaT1, LaT4).
  • Phân bộ Rắn: Đo và đếm 17 chỉ số gồm SVL, HL, dài đuôi (TaL), ED, khoảng cách mắt - mũi (ENL), số hàng vảy quanh thân ở ba vị trí (1DSR, 2DSR, 3DSR), số vảy bụng (V), số vảy sau mắt (PosOS), số vảy trước mắt (PreOS), số vảy thái dương (TEMP), vảy môi trên (SL), vảy môi dưới (IL), vảy môi trên chạm mắt (SLCE), số vảy dưới đuôi (SC), hình thái vảy dưới đuôi và tấm hậu môn (A).
  • Bộ Rùa: Đo 5 chỉ số gồm dài mai (LC), rộng mai (WC), cao mai (HC), dài yếm (LP) và dài đuôi (LT).

Phương pháp xử lý số liệu: Tác giả sử dụng phần mềm PAST (Hammer và cs, 2001) để tính toán chỉ số tương đồng Sorensen - Dice theo công thức: $$D = \frac{2C}{A + B}$$ Trong đó C là số loài chung giữa hai khu vực, A là số loài của khu vực thứ nhất, B là số loài của khu vực thứ hai. Phương pháp phân tích mức độ ưu tiên bảo tồn sinh cảnh áp dụng hệ thống tiêu chí của Nguyễn Quảng Trường và cs (2011) với thang điểm đánh giá từ 1 đến 5.

Nguồn tư liệu nghiên cứu thực tế bao gồm 630 mẫu vật được phân tích trực tiếp (380 mẫu lưỡng cư và 113 mẫu bò sát được giữ làm tiêu bản, 89 mẫu quan sát tự nhiên, 48 di vật như mai rùa, xác ngâm rượu, thuộc da), cùng với 827 bức ảnh chụp, ghi nhận âm thanh tiếng kêu và 97 phiếu phỏng vấn người dân địa phương. Bộ mẫu vật hiện được lưu giữ tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế và Trường Đại học Đồng Tháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng kết lịch sử nghiên cứu về lưỡng cư và bò sát tại khu vực Đông Dương, miền Trung Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi. Đồng thời, tác giả khái quát các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Vị trí và địa hình: Diện tích tự nhiên của tỉnh là 515.300 ha; địa hình phân hóa rõ rệt thành 4 dạng: vùng rừng núi (391.192 ha, chiếm 2/3 diện tích tỉnh, tập trung ở 6 huyện miền núi, sườn dốc 30-40°, đỉnh cao nhất là núi Cà Đam 1.413 m, Ha Peo 1.371 m), vùng trung du (1.770 ha, chiếm 0,3%), vùng đồng bằng (150.678 ha, chiếm 25,54%) và vùng bãi cát ven biển (2.446,8 ha).
  • Thủy văn: Bao gồm 4 hệ thống sông lớn (Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ, Trà Câu) cùng các phụ lưu chính như sông Liên (21 km), sông Re (17 km), sông Tô (6 km).
  • Khí hậu: Mang tính chất nhiệt đới gió mùa ven biển, chịu tác động của sườn Đông dãy Trường Sơn. Năm 2015, nhiệt độ trung bình năm đạt 26,5°C (cao nhất tháng 6 đạt 29,7°C, thấp nhất tháng 12 là 21,5°C); lượng mưa trung bình năm đạt 2.011 mm (mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau chiếm 70-75% tổng lượng mưa); độ ẩm trung bình năm đạt 84%.
  • Sinh cảnh rừng: Tỉnh có 198.254,8 ha đất có rừng, phân thành 3 kiểu chính: rừng kín thường xanh ít bị tác động (chiếm 1/6 diện tích), rừng phục hồi (chiếm 1/6 diện tích) và rừng trồng nguyên liệu keo, quế (chiếm 1/3 diện tích).
Yếu tố khí hậu (Năm 2015) Trị số cả năm Trị số cao nhất (Tháng) Trị số thấp nhất (Tháng)
Nhiệt độ trung bình (°C) 26,5 29,7 (Tháng 6) 21,5 (Tháng 12)
Lượng mưa (mm) 2.011 584 (Tháng 10) 19 (Tháng 5 & 12)
Độ ẩm trung bình (%) 84 89 (Tháng 11) 74 (Tháng 6)
Số giờ nắng (giờ) 1.981 262 (Tháng 5) 75 (Tháng 12)

Chương 2: Thời gian, địa điểm, phương pháp và tư liệu nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thực địa và phân tích thực nghiệm:

  • Bố trí mạng lưới 22 điểm khảo sát thực địa trải rộng trên 14 huyện, thành phố, gồm 14 điểm vùng núi (như Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Hà, Tây Trà, Minh Long, Sơn Tây) và 8 điểm đồng bằng ven biển (Bình Sơn, Mộ Đức, Đức Phổ, TP. Quảng Ngãi...).
  • Lịch trình nghiên cứu gồm 20 đợt công tác thực địa trong thời gian từ tháng 9/2010 đến tháng 2/2015, huy động 211 ngày làm việc và 110 lượt người dân địa phương tham gia dẫn đường, thu mẫu.
  • Chuẩn hóa quy trình định lượng kích thước cơ thể và đếm vảy cho từng taxon lưỡng cư và bò sát.
  • Xác lập cơ sở tài liệu định loại chuyên sâu từ các công trình kinh điển của Bourret, Đào Văn Tiến, Nguyễn Văn Sáng, Ziegler, Orlov, Rowley và hệ thống phân loại của Frost (2015), Uetz và Hosek (2015).
  • Thiết lập phương pháp điều tra xã hội học thông qua 97 phiếu phỏng vấn người dân bản địa (đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số Hrê và Cor) nhằm ghi nhận tên gọi bản địa, tập tính và giá trị sử dụng của các loài.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện chuyên môn về thành phần loài, phân loại học, đặc trưng phân bố và giải pháp bảo tồn:

  • Xác định khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi gồm 137 loài thuộc 82 giống, 31 họ, 4 bộ. Trong đó, lớp Lưỡng cư có 41 loài thuộc 24 giống, 8 họ, 2 bộ; lớp Bò sát có 96 loài thuộc 58 giống, 23 họ, 2 bộ (31 loài thằn lằn, 50 loài rắn, 15 loài rùa). Về phương thức xác định, có 124 loài ghi nhận từ mẫu thu thực tế, 1 loài qua tư liệu và 12 loài xác định qua phỏng vấn, di vật và ảnh chụp.
Bậc bộ Tên họ Số giống Tỷ lệ giống trong bộ (%) Số loài Tỷ lệ loài trong bộ (%)
Anura Bufonidae 2 8,33 2 4,88
Hylidae 1 4,17 1 2,44
Megophryidae 3 12,50 5 12,20
Microhylidae 2 8,33 4 9,76
Dicroglossidae 5 20,83 9 21,95
Ranidae 3 12,50 6 14,63
Rhacophoridae 7 29,17 13 31,71
Gymnophiona Ichthyophiidae 1 4,17 1 2,44
Squamata Agamidae 4 6,90 9 9,38
Leiolepidae 1 1,72 1 1,04
Gekkonidae 3 5,17 5 5,21
Lacertidae 1 1,72 2 2,08
Scincidae 6 10,34 11 11,46
Anguidae 1 1,72 1 1,04
Varanidae 1 1,72 2 2,08
Typhlopidae 1 1,72 1 1,04
Pythonidae 1 1,72 2 2,08
Xenopeltidae 1 1,72 2 2,08
Colubridae 11 18,97 17 17,71
Homalopsidae 1 1,72 2 2,08
Lamprophiidae 1 1,72 1 1,04
Natricidae 5 8,62 9 9,38
Pareatidae 1 1,72 2 2,08
Pseudoxenodontidae 1 1,72 1 1,04
Xenodermidae 1 1,72 1 1,04
Elapidae 4 6,90 6 6,25
Viperidae 3 5,17 6 6,25
Testudines Platysternidae 1 1,72 1 1,04
Geoemydidae 4 6,90 9 9,38
Testudinidae 2 3,45 2 2,08
Trionychidae 3 5,17 3 3,13
Tổng số 31 họ 82 100% 137 100%
  • Cập nhật phân loại học: Tách phân họ Leiolepidinae khỏi Agamidae thành họ riêng Leiolepidae; tách 5 phân họ thuộc Colubridae thành 5 họ riêng biệt gồm Lamprophiidae, Natricidae, Pareatidae, Pseudoxenodontidae và Xenodermidae; chuyển đổi tên gọi của các giống Aquixalus thành Gracixalus, Ophisaurus thành Dopasia, Amphiesma thành Hebius, sáp nhập Cryptelytrops và Viridovipera vào giống Trimeresurus; thực hiện đổi tên cho 20 loài theo phân loại học cập nhật.
  • Ghi nhận 3 loài mới của Việt Nam được phát hiện gần đây xuất hiện tại vùng Quảng Ngãi:
    • Ếch cây ro bet in go (Rhacophorus robertingeri): Thu thập tại Ba Tơ và Trà Bồng, trên cây bụi và cây gỗ dọc suối rừng thường xanh.
    • Ếch cây sần việt nam (Theloderma vietnamense): Thu thập tại xã Ba Vinh (huyện Ba Tơ) và xã Sơn Lập (huyện Sơn Tây), trên cây gỗ trong rừng kín thường xanh.
    • Nhông ba chê (Calotes bachae): Thu thập tại xã Trà Thủy (huyện Trà Bồng), trên cây bụi và cây gỗ thấp dọc lối đi ven suối.
  • Đặc điểm phân bố và địa lý động vật: Luận án phân tích số lượng loài phân bố theo các dạng sinh cảnh (rừng tự nhiên thường xanh, rừng phục hồi, rừng trồng, đất nông nghiệp, khu dân cư), theo đai độ cao và nơi ở (dưới nước, trên cạn, trên cây); đánh giá chỉ số tương đồng Dice bằng phần mềm PAST so sánh với các tiểu vùng địa lý động vật Đông Dương và các tỉnh lân cận (Bình Định, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai).
  • Giá trị bảo tồn và giải pháp: Thống kê các loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2017) và các nghị định quản lý của Nhà nước; phân tích các nhân tố đe dọa trực tiếp (săn bắt thương mại, suy giảm sinh cảnh do phá rừng và chuyển đổi đất); xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn (khu vực Cà Đam, Cao Muôn) và đề xuất các nhóm giải pháp quản lý, quy hoạch bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học chuyên ngành:

  • Luận án đã xác lập một danh lục thành phần loài lưỡng cư và bò sát đầy đủ và có căn cứ mẫu vật cho tỉnh Quảng Ngãi gồm 137 loài thuộc 82 giống, 31 họ và 4 bộ.
  • Cập nhật và điều chỉnh các bậc taxon phân loại học của khu hệ địa phương phù hợp với các hệ thống phân loại hiện đại trên thế giới, bao gồm việc công nhận 6 họ mới được tách lập và điều chỉnh danh pháp của 20 loài.
  • Mở rộng vùng phân bố đã biết tại Việt Nam cho 3 loài mới công bố trong giai đoạn 2012-2015 (Rhacophorus robertingeri, Theloderma vietnamense, Calotes bachae).
  • Cung cấp bộ dẫn liệu định lượng chi tiết về các chỉ số đo đạc hình thái của các loài ghi nhận bổ sung, phục vụ cho công tác phân loại học và giảng dạy bộ môn Động vật học.
  • Đánh giá định lượng quan hệ địa lý động vật học của khu hệ Quảng Ngãi thông qua chỉ số tương đồng Sorensen - Dice với các khu vực tiếp giáp.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp danh mục các loài quý hiếm, nguy cấp cần ưu tiên bảo tồn trên địa bàn tỉnh theo các bậc đánh giá của Sách Đỏ Việt Nam 2007, Danh lục Đỏ IUCN 2017, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
  • Xác định các sinh cảnh và địa điểm trọng điểm cần ưu tiên bảo tồn (đặc biệt là vùng rừng núi cao tự nhiên Cà Đam và Cao Muôn) dựa trên phương pháp cho điểm tiêu chí khách quan.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi phục vụ quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật tại địa phương, hỗ trợ các cơ quan kiểm lâm và môi trường trong việc kiểm soát săn bắt, buôn bán động vật hoang dã.
  • Xây dựng và lưu giữ bộ mẫu vật chuẩn gồm 630 mẫu tại các cơ sở đào tạo đại học (Đại học Sư phạm Huế và Đại học Đồng Tháp) phục vụ nghiên cứu và thực hành chuyên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Do điều kiện địa hình rừng núi hiểm trở và thời gian điều tra thực địa có giới hạn, một số loài bò sát có tập tính ẩn kín hoặc số lượng cá thể trong tự nhiên quá ít chỉ mới được ghi nhận thông qua phỏng vấn người dân (như Trăn gấm, Rắn hổ mang xiêm, Rùa đỏ) hoặc qua di vật, ảnh chụp mà chưa thu được mẫu vật sống ngoài tự nhiên.
  • Các dẫn liệu về sinh thái học, tập tính sinh sản và thức ăn của các loài trong khu vực nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ ghi nhận quan sát bước đầu, chưa thực hiện được các phân tích định lượng chuyên sâu theo mùa hoặc theo vòng đời.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục tổ chức các đợt khảo sát thực địa chuyên sâu tại các sinh cảnh đặc thù để thu thập bổ sung mẫu vật kiểm chứng cho các loài mới chỉ ghi nhận qua phỏng vấn và di vật.
  • Mở rộng nghiên cứu về sinh thái học quần thể, tập tính sinh sản, cấu trúc thức ăn và tác động của biến đổi khí hậu đối với các loài đặc hữu, nguy cấp ở vùng núi cao.
  • Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (phân tích trình tự ADN) kết hợp với hình thái học để làm rõ vị trí phân loại học của các nhóm loài phức tạp.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Động vật học, Sinh thái học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý tài nguyên thiên nhiên tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
  • Cán bộ quản lý tại Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh duyên hải miền Trung trong công tác hoạch định chính sách bảo tồn động vật hoang dã.
  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng trong việc xây dựng phương án giám sát đa dạng sinh học và phân hạng bảo vệ sinh cảnh.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm: bảng danh mục phân loại học 137 loài có kèm tọa độ và phương thức ghi nhận; bảng số đo chi tiết các chỉ số hình thái phân loại; quy trình điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn dân tộc bản địa; và ma trận phân tích mức độ tương đồng khu hệ bằng chỉ số Dice thông qua phần mềm PAST.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi có cấu trúc phân loại học tổng thể như thế nào?
Khu hệ tại vùng nghiên cứu được xác định gồm 137 loài thuộc 82 giống, 31 họ và 4 bộ. Trong đó, lớp Lưỡng cư có 41 loài (thuộc 24 giống, 8 họ, 2 bộ) và lớp Bò sát có 96 loài (thuộc 58 giống, 23 họ, 2 bộ, phân bố thành 31 loài thằn lằn, 50 loài rắn và 15 loài rùa).

2. Ba loài mới của Việt Nam được ghi nhận có mặt tại Quảng Ngãi là những loài nào và ghi nhận tại đâu?
Ba loài gồm: Ếch cây ro bet in go (Rhacophorus robertingeri) thu tại Ba Tơ và Trà Bồng; Ếch cây sần việt nam (Theloderma vietnamense) thu tại xã Ba Vinh (Ba Tơ) và xã Sơn Lập (Sơn Tây); và Nhông ba chê (Calotes bachae) thu tại xã Trà Thủy (Trà Bồng).

3. Những thay đổi danh pháp phân loại học chính nào đã được tác giả cập nhật cho khu hệ?
Tác giả đã tách họ Leiolepidae khỏi họ Agamidae; tách 5 họ rắn mới gồm Lamprophiidae, Natricidae, Pareatidae, Pseudoxenodontidae và Xenodermidae khỏi họ Colubridae; đổi tên các giống Aquixalus thành Gracixalus, Ophisaurus thành Dopasia, Amphiesma thành Hebius; sáp nhập hai giống Cryptelytrops và Viridovipera vào giống Trimeresurus; đồng thời đổi tên khoa học cho 20 loài.

4. Họ nào chiếm ưu thế lớn nhất về số giống và số loài trong lớp Lưỡng cư tại Quảng Ngãi?
Họ Ếch cây (Rhacophoridae) chiếm ưu thế tuyệt đối trong lớp Lưỡng cư với 7 giống (chiếm 29,17% tổng số giống lưỡng cư) và 13 loài (chiếm 31,71% tổng số loài lưỡng cư), trong đó giống Rhacophorus có số lượng loài nhiều nhất với 6 loài.

5. Khối lượng tư liệu thực tế được sử dụng để phân tích trong luận án gồm những gì?
Luận án phân tích tổng số 630 mẫu vật (380 mẫu lưỡng cư, 113 mẫu bò sát thu tiêu bản, 89 mẫu quan sát tự nhiên, 48 di vật trong dân), 827 ảnh chụp mẫu và hiện trường, cùng 97 phiếu phỏng vấn người dân địa phương qua 20 đợt khảo sát kéo dài 211 ngày tại 22 điểm thực địa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thanh đã khảo sát và xác lập hệ thống dữ liệu toàn diện về khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi với 137 loài thuộc 82 giống, 31 họ và 4 bộ. Nghiên cứu cập nhật các biến động danh pháp phân loại học hiện đại, ghi nhận sự hiện diện của 3 loài mới công bố tại Việt Nam và làm rõ đặc điểm phân bố của các loài theo sinh cảnh, đai độ cao và nơi ở. Các kết quả đánh giá giá trị bảo tồn, phân tích quan hệ địa lý động vật bằng phần mềm chuyên dụng và đề xuất giải pháp quản lý cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật tại địa phương.