Nghiên Cứu Khu Hệ Lưỡng Cư Và Bò Sát Tại Quảng Ngãi - Luận Án Tiến Sĩ Sinh Học

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu khu hệ lưỡng cư và bò sát tại vùng Quảng Ngãi, cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng về đa dạng sinh học địa phương.

Chuyên ngành

Động vật học

Tác giả

Lê Thị Thanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

164
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Nội dung nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.5. Đóng góp của luận án

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư và Bò sát

2.1.1. Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư và Bò sát ở Trung Bộ

3. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1. Địa điểm nghiên cứu

3.1.2. Thời gian nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Khảo sát thực địa

3.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

3.3. Tư liệu nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần loài Lưỡng cư và Bò sát ở vùng Quảng Ngãi

4.1.1. Danh sách thành phần loài

4.1.2. Ghi nhận bổ sung và sự thay đổi về phân loại học

4.1.3. Cấu trúc thành phần phân loại học khu hệ LCBS VQN

4.1.4. Đặc điểm hình thái nhận dạng các loài LCBS ở VQN

4.1.5. Đặc trưng khu hệ Lưỡng cư và Bò sát vùng Quảng Ngãi

4.1.6. Đặc điểm phân bố của các loài LCBS. Đặc trưng địa lý động vật

4.1.7. Giá trị bảo tồn và đề xuất giải pháp phát triển bền vững khu hệ Lưỡng cư và Bò sát vùng Quảng Ngãi

4.1.7.1. Giá trị tài nguyên Lưỡng cư và Bò sát vùng Quảng Ngãi
4.1.7.2. Các nhân tố tác động tiêu cực đến Lưỡng cư và Bò sát vùng Quảng Ngãi
4.1.7.3. Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của luận án

Luận án tiến sĩ này tập trung vào nghiên cứu khoa học về khu hệ lưỡng cưkhu hệ bò sát tại Quảng Ngãi, một tỉnh thuộc vùng duyên hải Trung Trung Bộ. Việt Nam được biết đến với đa dạng sinh học cao, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế. Động vật lưỡng cưđộng vật bò sát là những nhóm quan trọng trong hệ sinh thái, nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi các hoạt động con người. Nghiên cứu này nhằm cung cấp dữ liệu khoa học để bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án tiến sĩ là xác định đa dạng loài, đặc điểm phân bố theo môi trường sống, và các yếu tố sinh thái học của lưỡng cưbò sát tại Quảng Ngãi. Nghiên cứu cũng nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và quản lý hiệu quả các loài này.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học lớn khi cập nhật hiện trạng khu hệ lưỡng cưbò sát tại Quảng Ngãi. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên sinh vậtbảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.

II. Phương pháp nghiên cứu và khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua nghiên cứu thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Khu vực Quảng Ngãi được chọn làm địa bàn nghiên cứu do sự đa dạng về hệ sinh tháiđịa hình. Các phương pháp bao gồm khảo sát thực địa, thu thập mẫu vật, và phân tích hình thái học.

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại các khu bảo tồn và vùng rừng núi tại Quảng Ngãi trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2017. Các địa điểm được lựa chọn dựa trên sự đa dạng về sinh cảnhđộng vật hoang dã.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát thực địa để thu thập mẫu vật, phân tích hình thái học, và đánh giá đa dạng loài. Các mẫu vật được định loại và lưu trữ để phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nghiên cứu đã xác định được 130 loài lưỡng cư và bò sát tại Quảng Ngãi, bao gồm 41 loài lưỡng cư, 31 loài thằn lằn, 50 loài rắn, và 15 loài rùa. Các loài này phân bố chủ yếu ở các sinh cảnh rừng núi và ven sông. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự thay đổi về phân loại học và đặc điểm hình thái của một số loài.

3.1. Thành phần loài và đặc điểm phân bố

Kết quả nghiên cứu cho thấy khu hệ lưỡng cư và bò sát tại Quảng Ngãi có sự đa dạng cao, với nhiều loài quý hiếm và đặc hữu. Các loài phân bố chủ yếu ở các sinh cảnh rừng núi, ven sông, và khu vực đất thấp.

3.2. Giá trị bảo tồn và đề xuất giải pháp

Nghiên cứu đã xác định các loài có giá trị bảo tồn cao và đề xuất các giải pháp bảo tồn thiên nhiên như thiết lập các khu bảo tồn, hạn chế khai thác quá mức, và nâng cao nhận thức cộng đồng.

IV. Kết luận và kiến nghị

Luận án tiến sĩ này đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về khu hệ lưỡng cư và bò sát tại Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

4.1. Đóng góp của luận án

Luận án đã cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng về đa dạng loài, đặc điểm phân bố, và giá trị bảo tồn của lưỡng cư và bò sát tại Quảng Ngãi. Đây là nguồn tư liệu quý giá cho các nghiên cứu và giảng dạy trong tương lai.

4.2. Kiến nghị cho tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sinh thái họcbảo tồn các loài lưỡng cư và bò sát tại Quảng Ngãi. Đồng thời, cần có các chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ các khu bảo tồntài nguyên sinh vật tại địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sinh học khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam được đánh giá là nước có đa dạng sinh học khá cao của thế giới, là nước đang phát triển nên bên cạnh thuận lợi, Việt Nam cũng gặp không ít những thách thức trong phát triển kinh tế xã hội, tăng dân số, biến đổi khí hậu đã tạo ra áp lực lớn đến môi trường sống và sự đa dạng sinh học các hệ sinh thái. Nhiều loài động thực vật hoang dã có nguy cơ bị mất sinh cảnh sống, giảm số lượng cá thể của loài hoặc không còn gặp. Nhóm lưỡng cư và bò sát là mắt xích quan trọng của chuỗi và lưới thức ăn trong tự nhiên, từ lâu đã gắn bó và có giá trị kinh tế đối với con người, đồng thời cũng là nhóm động vật được khai thác dễ dàng, tương đối nhạy cảm và dễ bị biến động trước những thay đổi của môi trường và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người.

Nghiên cứu điều tra khu hệ lưỡng cư và bò sát ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được quan tâm, tiến hành nghiên cứu trên nhiều khu vực, vùng, miền, theo đó số lượng các loài lưỡng cư và bò sát mới phát hiện và cả những loài ghi nhận bổ sung được công bố khá nhiều trên các tạp chí quốc tế, tuy nhiên diễn ra chưa đồng đều ở các vùng miền của đất nước, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Ngãi là một trong các tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp nối hệ sinh thái với tỉnh Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, có sự đa dạng địa hình và các hệ sinh thái đặc trưng của vùng khí hậu Trung Trung Bộ, đã tạo nên sự đa dạng sinh cảnh và các loài sinh vật. Từ trước đến nay công tác nghiên cứu đa dạng sinh học và cảnh quan môi trường ở khu vực này trong đó có việc điều tra nghiên cứu khu hệ lưỡng cư và bò sát ở đây còn ít và mới chỉ được tiến hành ở một số khu vực trong thời gian ngắn, phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp, do đó, việc điều tra nghiên cứu khu hệ lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi là định hướng quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học động vật, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho bộ môn lưỡng cư và bò sát học, phục vụ trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn cảnh quan, môi trường sống, cũng như 2 phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Vì vậy, để có kết quả nghiên cứu đầy đủ về lớp Lưỡng cư (Amphibia) và lớp Bò sát (Reptilia) ở vùng Quảng Ngãi, chúng tôi chọn đề tài Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng Quảng Ngãi làm đề tài luận án tiến sĩ sinh học. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đa dạng thành phần loài, đặc trưng phân bố (theo sinh cảnh, nơi ở, đai độ cao), một số đặc điểm sinh thái học làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý và bảo tồn các loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi. Nội dung nghiên cứu Điều tra nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc khu hệ theo bậc phân loại của các loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi. Mô tả đặc điểm nhận dạng chính các loài lưỡng cư và bò sát ghi nhận bổ sung cho vùng Quảng Ngãi.

Ghi nhận bước đầu đặc điểm sinh thái và nơi phân bố trong khu vực nghiên cứu của lưỡng cư và bò sát. Nghiên cứu đặc trưng phân bố các loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi. Phân tích quan hệ địa lý động vật của khu hệ lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi với vùng lân cận. Xác định giá trị bảo tồn loài và sinh cảnh ưu tiên bảo tồn, các mối đe dọa và đề xuất giải pháp phát triển bền vững tài nguyên lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và cập nhật hiện trạng khu hệ lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi. Bổ sung dẫn liệu về đặc điểm nhận dạng, ghi nhận đặc điểm sinh thái và phân bố lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi. Xác định các giá trị bảo tồn (các loài quý hiếm, sinh cảnh ưu tiên bảo tồn) và các mối đe dọa ảnh hưởng đến khu hệ, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi.

Ý nghĩa thực tiễn Cung cấp dẫn liệu khoa học và đề xuất kiến nghị phát triển bền vững tài nguyên lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi là cơ sở khoa học giúp địa phương quản lý và bảo tồn. Lưu giữ và sử dụng bộ mẫu vật lưỡng cư và bò sát trong nghiên cứu và giảng dạy các học phần liên quan đến động vật. Đóng góp của luận án * Đối với khoa học chuyên ngành Cung cấp danh sách thành phần loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi (gồm 41 loài lưỡng cư, 31 loài thằn lằn, 50 loài rắn và 15 loài rùa) cùng với bộ mẫu vật và tư liệu về đặc điểm hình thái nhận dạng, sinh thái, phân bố góp phần phục vụ nghiên cứu và giảng dạy động vật. * Đối với khu vực nghiên cứu Cập nhật danh sách thành phần loài, ghi nhận nơi sống, đặc điểm sinh thái và mô tả đặc điểm nhận dạng của 130 loài lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi làm cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học trong vùng.

Xác định giá trị sử dụng và bảo tồn, các mối đe dọa đến tài nguyên lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi, từ đó đề xuất giải pháp phát triển bền vững lưỡng cư và bò sát trong vùng Quảng Ngãi. Nhận định bước đầu về quan hệ địa lý động vật của khu hệ lưỡng cư và bò sát ở vùng Quảng Ngãi với một số khu vực lân cận. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư và Bò sát 1.

Lược sử nghiên cứu Lưỡng cư và Bò sát ở Trung Bộ Về lược sử nghiên cứu LCBS ở Trung bộ trong nghiên cứu này tập trung phân tích ở các tỉnh dọc theo bờ biển từ Thanh Hóa đến Phú Yên, giới hạn tọa độ địa lý: 13041'28'' - 20040' vĩ độ Bắc, 104022' - 109027'47'' kinh độ Đông. Các nghiên cứu về khu hệ, phân loại và phân bố Nghiên cứu về LCBS ở Trung Bộ trước năm 1954 chủ yếu do người nước ngoài thực hiện, điển hình là các nghiên cứu của Bourret từ 1934 đến 1942: Năm 1934, ông ghi nhận 9 loài rắn ở Quảng Trị và Quảng Bình gồm Natrix piscato, Natrix laobaoensis, Dryocalamus davisoni, Holarchus purpurascens cyclurus, Hypsirhina plumbea, Calliophis macclellandi swinhoei, Trimeresurus gramineus gramineus, Typhlops braminus, Elaphe radiate. Đến 1937, Bourret đưa ra danh sách 2 loài và 1 phân loài thằn lằn (Agamidae), 3 phân loài rắn (Cobubridae, Crotalidae), có 6 loài bổ sung cho Quảng Trị, Quảng Bình gồm: Ophryophryne poilani, Leiolopisma reevesi reevesi, Siaphos poilani, Varanus nebulosus, Sibynophis collaris sinensis, Natrix khasiensis, đồng thời ghi nhận 2 loài rùa: Clemmys quadriocellata, Mauremys sinensis. đã ghi nhận và mô tả 2 loài: Pelochelys cantorii và Calamaria septentrionalis ở khu vực sông mã [164].

Anderson ghi nhận 8 loài phân bố ở Thừa Thiên Huế gồm: Bufo melanostictus, Hyla annectans, Oxyglossus laevis, Rana tigrina, R. Sau ngày miền Bắc được giải phóng, hòa bình được lập lại, năm 1957, Đào Văn Tiến là người VN đầu tiên điều tra TPL LCBS ở Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau đó, hàng loạt các đợt khảo sát về động vật có xương sống trong đó có LCBS do cán bộ khoa Sinh vật, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội I, tiến hành ở Hà Tĩnh. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường tập trung vào phân loại, bước đầu tìm hiểu giá trị kinh tế và giá trị sử dụng.

Kết quả nghiên cứu được tổng hợp thành báo cáo khoa học song chưa được công bố trên tạp chí hay sách chuyên khảo [71]. 5 Sau 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất nên công tác nghiên cứu cơ bản trong đó có LCBS được quan tâm hơn, tiến hành ở các vùng trên toàn quốc, kết quả được công bố trên các tạp chí trong nước: Năm 1984, Campden - Main xuất bản chuyên khảo kết quả nghiên cứu rắn miền Nam, VN [92]. Năm 1992, Trần Kiên và Hoàng Xuân Quang chia thành 7 phân khu động vật - địa lý học ếch nhái, BS VN [44]. Tiếp theo, năm 1993, Hoàng Xuân Quang xác định 128 loài LCBS ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, số loài phân bố nhiều nhất ở rừng núi đất (56 loài), 2 sinh cảnh có ít loài phân bố nhất là bãi cát ven biển và núi đá vôi [57].

Năm 1997, Lê Nguyên Ngật nghiên cứu TPL LCBS ở vùng núi Ngọc Linh [51]; Năm 1999, xác định có 22 loài LC và 44 loài BS ở rừng Tây Quảng Nam tập trung phân bố ở rừng thứ sinh, trong đó có 18 loài quý hiếm [52]. Năm 2000, Nguyễn Văn Sáng và Hoàng Xuân Quang xác nhận 31 loài LC và 54 loài BS ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa [73]. Đinh Thị Phương Anh và Nguyễn Minh Tùng ghi nhận ở KBTTN Sơn Trà có 9 loài LC và 25 loài BS thuộc 3 bộ [4]. Năm 2001, Lê Nguyên Ngật và Hoàng Xuân Quang công bố kết quả điều tra bước đầu ở KBTTN Pù Mát, tỉnh Nghệ An có 22 loài LC và 51 loài BS [53].

Năm 2002, Nguyễn Quảng Trường khảo sát TPL BS và ếch nhái ở khu vực rừng sản xuất Konplong, tỉnh Kon Tum, công bố trên Tạp chí Sinh học. Năm 2003, Lê Vũ Khôi và Nguyễn Văn Sáng xác định danh sách loài ở khu vực Bà Nà, TP Đà Nẵng [42]. Năm 2005, Lê Nguyên Ngật và Nguyễn Văn Sáng đã thống kê toàn tỉnh Thanh Hóa có 44 loài LC và 80 loài BS [54]. Hoàng Xuân Quang và Mai Văn Quế ghi nhận 18 loài LC và 35 loài BS ở Chúc A, Hương Khê, Hà Tĩnh [60]; Hoàng Xuân Quang và cs đã thống kê được 25 loài LC và 62 loài BS ở KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An [65].

Năm 2006, Hoàng Xuân Quang và cs đã nhận xét về tên khoa học trong nội bộ giống Takydromus và tu chỉnh khóa định loại cho họ Thằn lằn chính thức vùng Bắc Trung Bộ [66]. Năm 2007, Hoàng Xuân Quang và Hoàng Ngọc Thảo nghiên cứu đặc điểm hình thái phân loại các loài trong giống Trimeresurus ở khu vực Bắc Trung Bộ [61]. 6 Kế tiếp, Hoàng Xuân Quang và cs xác định 37 loài LC và 56 loài BS ở VQG Bạch Mã [67].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên Cứu Khu Hệ Lưỡng Cư Và Bò Sát Tại Quảng Ngãi" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học của các loài lưỡng cư và bò sát trong khu vực Quảng Ngãi. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của các loài này mà còn đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về môi trường sống, hành vi sinh học và vai trò của các loài này trong hệ sinh thái, từ đó nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường tự nhiên.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, nơi cung cấp thông tin về chất lượng nước, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sống của các loài lưỡng cư và bò sát. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các nguồn nước trong khu vực và tác động của chúng đến hệ sinh thái. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người sẽ cung cấp cái nhìn về ô nhiễm môi trường, một vấn đề có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài động vật hoang dã. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố môi trường và sinh thái liên quan đến nghiên cứu lưỡng cư và bò sát.