Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài "Tang ma của người Tày ở Đắk Lắk: Nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên" do nghiên cứu sinh Lài Thị Vân thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Yên và TS. Lương Thanh Sơn.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng người Tày sở hữu kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, trong đó tang ma là nghi lễ tiêu biểu thuộc hệ thống nghi lễ vòng đời, đóng vai trò chuẩn bị cho người chết bước vào cuộc sống mới ở thế giới vĩnh hằng thông qua các lễ thức chuyển đổi. Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung khảo sát người Tày tại địa bàn cội nguồn ở vùng núi phía Bắc. Sau năm 1975, đặc biệt sau chiến tranh biên giới năm 1979 và các đợt di dân kinh tế từ thập niên 1980, một bộ phận lớn người Tày đã di chuyển vào Tây Nguyên sinh sống. Hiện tượng lưu giữ, thực hành và biến đổi tập quán tang ma của nhóm cư dân này trong bối cảnh thay đổi môi trường tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và giao lưu văn hóa đa tộc người tại Đắk Lắk vẫn chưa được khảo sát một cách toàn diện. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là khảo sát tang ma của người Tày ở Đắk Lắk từ góc độ nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên; cung cấp một nghiên cứu trường hợp về vai trò, chức năng văn hóa - xã hội của nghi lễ tang ma, trên cơ sở đó phân tích ý nghĩa các thực hành nghi lễ trong quy trình tổ chức đám tang của người Tày di cư.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua năm nội dung:
- Nhận diện và phân tích cơ sở sinh kế, văn hóa, xã hội, chính sách tác động đến thực hành nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk.
- Sưu tầm tư liệu thành văn, khảo sát điền dã thực địa về đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày tại địa bàn nghiên cứu.
- Khảo sát quy trình thực hành nghi lễ tang ma của người Tày tại những điểm cư trú tiêu biểu ở tỉnh Đắk Lắk.
- Phân tích quy trình nghi lễ chuyển đổi cho người chết về thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk.
- Phân tích nghi lễ tang ma dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi nhằm làm rõ nhân sinh quan, thế giới quan và quá trình biến đổi, thích ứng văn hóa của người Tày di cư tại vùng đất mới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghi lễ tang ma của người Tày cao tuổi ở Đắk Lắk (cụ thể là huyện Krông Năng) qua thực hành nghi lễ chuyển đổi cho người chết về thế giới tổ tiên; đồng thời có khảo sát đối chiếu với đám tang của người chết trẻ và người làm nghề thầy cúng.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, trong đó xã Ea Tam (địa bàn có tỷ lệ người Tày, Nùng chiếm 83,3% dân số) được chọn làm địa bàn khảo sát trọng điểm. Để có tư liệu so sánh, tác giả mở rộng quan sát tham dự tại một số huyện có người Tày sống xen cư như Buôn Đôn, Ea H'Leo, Krông Pắk (Đắk Lắk) và huyện Cư Jút (tỉnh Đắk Nông).
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ đầu những năm 1980 (đặc biệt là mốc di cư lớn năm 1986) cho đến thời điểm thực hiện luận án.
- Thời gian tiến hành điền dã, khảo sát: Triển khai từ năm 2016 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu liên quan thành bốn nhóm nghiên cứu chính:
Nhóm nghiên cứu về tang ma của các tộc người thiểu số từ góc độ nghi lễ chuyển đổi: Tác giả điểm lại luận án của Lò Xuân Dừa (nghiên cứu tang ma người Thái tại Phù Yên, Sơn La dưới góc độ tạo cuộc sống mới cho người chết); Nguyễn Công Hoan (nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ); Trần Hạnh Minh Phương (nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông ở Thành phố Hồ Chí Minh); Vũ Thị Uyên (nghi lễ vòng đời người Dao Quần Chẹt ở Ba Vì, Hà Nội); và công trình của Lê Hải Đăng (nghi lễ gia đình của người Thái nhìn từ lý thuyết chuyển tiếp). Các công trình này chủ yếu vận dụng lý thuyết của Arnold Van Gennep để phân tích cấu trúc ba giai đoạn: tiền ngưỡng (tách biệt), ngưỡng (chuyển tiếp) và hậu ngưỡng (tái hợp).
Nhóm nghiên cứu giới thiệu về tang ma của người Tày nói chung: Các công trình khảo cứu dân tộc học và văn hóa dân gian ở miền núi phía Bắc gồm nghiên cứu của Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968); Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1984); Hoàng Quyết và Tuấn Dũng; Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Tuấn Anh (trong Văn hóa dân gian Tày trình bày quan niệm thế giới ba tầng); Bế Viết Đẳng và cộng sự (1992); Đỗ Thúy Bình (phân tích sáu nghi lễ chính trong tang ma Tày, Nùng). Các tài liệu này cung cấp mô tả tổng quan về phong tục ma chay truyền thống nhưng chưa đi sâu vào từng địa phương cụ thể.
Nhóm nghiên cứu về các khía cạnh nghi lễ chuyển đổi trong tang lễ người Tày ở quê gốc: Tác giả tiếp cận các chuyên khảo tại Cao Bằng và Bắc Kạn, gồm La Công Ý (Đến với người Tày và văn hóa Tày); Hoàng Tuấn Nam (Việc tang lễ cổ truyền của người Tày ở Cao Bằng); Nguyễn Thị Yên (Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng, miêu tả nghi thức "Quyển đẳm" trong tang ma thầy cúng và lối "Hát thợ" ở Ba Bể); Lương Thị Hạnh (Tang ma của người Tày ở tỉnh Bắc Kạn); Đỗ Mạnh Hải (nghiên cứu tang lễ người Tày vùng hồ Ba Bể). Những công trình này làm sáng tỏ tiến trình tiễn đưa linh hồn về trời và trách nhiệm của các nhóm thực hành nghi lễ.
Nhóm nghiên cứu về văn hóa và nghi lễ tang ma của người Tày ở Tây Nguyên: Gồm các nghiên cứu bước đầu của Đỗ Hồng Kỳ (Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển bền vững); Phạm Thị Thúy An (2012, về xu hướng biến đổi văn hóa của người Tày ở Đắk Lắk); và bài báo của chính tác giả Lài Thị Vân (2018, khảo sát tang ma người Tày tại xã Đắk D'rông, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông). Các tác phẩm trên mới phác thảo thực trạng bảo tồn văn hóa, chưa đánh giá chuyên sâu về cấu trúc nghi lễ chuyển đổi.
Từ việc tổng quan, luận án xác định bốn khoảng trống nghiên cứu chính:
- Chưa có công trình miêu tả hệ thống và giải mã ý nghĩa các biểu tượng nghi lễ nhằm chuyển đổi người chết sang thế giới tổ tiên của người Tày ở Đắk Lắk, cũng như tác dụng của quy trình này trong việc ổn định tâm lý người sống.
- Chưa có luận giải về mối liên hệ giữa các lễ thức tang ma với hệ thống thần linh trong quan niệm thế giới quan ba tầng (mường Trời, mường Đất, mường Nước).
- Chưa làm rõ sự tương đồng, biến đổi và thích ứng của tang ma người Tày di cư trong môi trường giao lưu đa sắc tộc và đa tôn giáo tại Tây Nguyên.
- Chưa có công trình nào tiếp cận toàn diện tang ma người Tày di cư dưới góc độ quy trình nghi lễ tạo dựng cuộc sống mới cho người chết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng lý thuyết nghi lễ chuyển đổi (rites of passage) của Arnold Van Gennep và Victor Turner để phân tích sự thay đổi trạng thái, vị thế xã hội và nơi cư trú của người chết cũng như thân nhân qua ba giai đoạn chuyển tiếp. Về mặt phương pháp luận cốt lõi, luận án sử dụng quan điểm chức năng tâm lý của Charles Keyes trong công trình "From Death to Birth: Ritual Process and Buddhist Meanings in Northern Thailand". Keyes xem tang lễ là một "công trình của văn hóa" nhằm tạo ra sự tiếp nối sinh mệnh sau cái chết, qua đó xoa dịu nỗi đau mất mát và tái lập trật tự xã hội bị phá vỡ. Luận án đối chiếu mô hình của Keyes: nếu người Thái ở Bắc Thái Lan vận dụng giáo lý Phật giáo Thượng tọa bộ thì người Tày ở Đắk Lắk vận dụng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên kết hợp với hệ thống kinh sách, khoa nghi của thầy Tào để thực hiện sự chuyển đổi cho người chết. Luận án cũng tiếp thu các luận điểm của Émile Durkheim, Robert Hertz về mối quan hệ giữa thể xác, linh hồn và người sống, cùng quan niệm của L. Cadière về quyền năng của tổ tiên đối với gia tộc.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu định tính và liên ngành được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận liên ngành khoa học xã hội: Kết hợp tri thức giữa Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học và Tôn giáo học nhằm giải mã các hiện tượng văn hóa tâm linh và thực hành xã hội.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả cư trú tại địa bàn, thực hiện quan sát tham dự, ghi chép, chụp ảnh và ghi hình tại các đám tang tiêu biểu:
- Đám tang người già: bà L.H (sinh năm 1940, mất năm 2018 tại thôn Tam Thành, xã Ea Tam, chủ tang là con trai T.Đ sinh năm 1973).
- Đám tang người trẻ: anh N.M (sinh năm 1990, mất ngày 25/3/2020 tại thôn Tam Phong, xã Ea Tam).
- Nghi lễ mãn tang: bà H.B (quê gốc Cao Bằng, chủ lễ là con trai út B.T sinh năm 1978 tại xã Ea Tam).
- Tham dự các sinh hoạt tín ngưỡng khác: Tết Nguyên đán, Rằm tháng Bảy, Tết Thanh minh và Lễ hội Văn hóa dân gian Việt Bắc tại Ea Tam.
- Phỏng vấn sâu và hồi cố: Thực hiện với các thầy Tào am hiểu nghi lễ (như thầy Tào H.Đ sinh năm 1958 tại thôn Tam An; thầy Tào H.T sinh năm 1966 tại Ea Tam), các người già am hiểu phong tục và cán bộ chính quyền cơ sở.
- Thu thập và xử lý văn bản: Sưu tầm, dịch giải và phân tích các văn bản cúng chữ Hán cổ của thầy Tào tại địa phương, gồm các bài: Khai thàn, Xá tội, Văn tế cho người chết làm nghề Tào - Then, Tế tổ tông, Con cái kể công ơn mẹ, Phá ngục, Thành phục, Lấy nước, Vào áo quan, Cúng cơm rượu - khai quang, Niệm phép, Ký công đức, Cách biệt âm dương, Tam hiến.
- Phương pháp chuyên gia, hệ thống, phân tích, tổng hợp và so sánh lịch đại - đồng đại: So sánh đối chiếu văn hóa tang ma của người Tày giữa hai mốc không gian (Cao Bằng, Bắc Kạn và Đắk Lắk) và các mốc thời gian trước và sau di cư.
Nguồn dữ liệu bao gồm số liệu thống kê hành chính của huyện Krông Năng, xã Ea Tam; các báo cáo kinh tế - xã hội địa phương và tư liệu điền dã sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2016 - 2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ cở lý luận, khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết tổng quan lịch sử nghiên cứu, xác lập cơ sở lý thuyết, các khái niệm công cụ và phác thảo diện mạo địa bàn khảo sát.
Huyện Krông Năng được thành lập ngày 9/11/1987 (tách ra từ huyện Krông Búk), cách thành phố Buôn Ma Thuột 50 km về phía Đông Bắc, diện tích tự nhiên 614,61 km² với 12 đơn vị hành chính. Đến tháng 6/2019, huyện có 24 tộc người cùng sinh sống với 5 tôn giáo (Công giáo 1.113 hộ, Phật giáo 910 hộ, Tin Lành 842 hộ, Cao Đài 17 hộ, Hòa Hảo 01 hộ).
Xã Ea Tam được thành lập tháng 3/1989 theo Quyết định 09/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, cách trung tâm huyện 17 km, tổng diện tích tự nhiên là 8.425,31 ha (đất nông - lâm nghiệp chiếm 7.941,32 ha). Dân số xã có 16 thành phần dân tộc, trong đó nhóm Tày - Nùng di cư từ Cao Bằng và Bắc Kạn chiếm đa số. Năm 1987, nhóm người Tày đầu tiên (khoảng 50 người thuộc "tập đoàn Ba Bể") di cư vào Dliê Ya rồi chuyển về Tam Giang, sau đó định cư tại Ea Tam.
Bảng tổng hợp đặc điểm dân số và cơ cấu tộc người tại địa bàn nghiên cứu theo số liệu văn bản:
| Chỉ số / Tiêu chí |
Huyện Krông Năng (tháng 6/2019) |
Xã Ea Tam (thời điểm khảo sát) |
| Diện tích tự nhiên |
614,61 km² |
8.425,31 ha |
| Số đơn vị cư trú |
12 đơn vị hành chính (01 thị trấn, 11 xã) |
16 thôn, buôn |
| Tổng số dân / Hộ |
130.258 người (mật độ 207 người/km²) |
2.470 hộ với 10.874 nhân khẩu |
| Tỷ lệ người Tày |
Cư trú rải rác, tập trung đông tại Ea Tam, Tam Giang, Dliê Ya, Ea Tóh |
1.383 hộ với 6.074 nhân khẩu (chiếm 55,8%) |
| Tỷ lệ người Nùng |
Phân bố tại các xã phía Bắc huyện |
661 hộ với 2.989 nhân khẩu (chiếm 27,5%) |
| Các tộc người khác |
24 tộc người (Kinh, Êđê, Gia Rai, Mạ, Mnông...) |
Người Kinh (324 hộ, 1.310 khẩu), Êđê (88 hộ, 424 khẩu), 12 tộc người khác |
Sau khi định cư, người Tày khai hoang các dải đất trũng để trồng lúa nước truyền thống, đồng thời học hỏi kỹ thuật canh tác cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su, điều), tham gia giữ các chức danh chủ chốt trong bộ máy chính trị cơ sở của xã Ea Tam.
Chương 2: Cơ sở thực hành nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
Chương 2 luận giải cơ sở văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và tôn giáo tín ngưỡng định hình các thực hành tang ma:
- Cơ sở văn hóa vật chất: Nhà sàn truyền thống ba gian hai mái với ba tầng chức năng đã được thay thế bằng nhà trệt (nhà xây gạch lợp ngói/tôn hoặc đổ bê tông). Tuy nhiên, gian thờ tổ tiên vẫn luôn được bố trí ở vị trí trang trọng nhất (gian giữa hoặc tầng trên); phía dưới nền nhà có đặt bàn thờ Thổ địa. Tập quán ẩm thực quy định đồ cúng: do người Tày ăn ngày ba bữa cơm tẻ nên trong tang lễ linh hồn cũng được cúng cơm ba bữa mỗi ngày vì quan niệm "trần sao âm vậy". Bánh dày là vật cúng đặc trưng; rượu men lá, lợn, gà, xôi là lễ vật không thể thiếu. Trang phục tang lễ may bằng vải xô trắng mua từ dịch vụ, bắt buộc phải mặc mặt trái ra ngoài; con trai chống gậy đeo dao, con gái và con dâu đội mũ chào mào (vạt áo và dải mũ sau của con gái ngắn hơn con dâu).
- Cơ sở văn hóa xã hội: Mối quan hệ xóm giềng đồng hương Việt Bắc và sự tương trợ cộng đồng bền chặt trong việc lo liệu ma chay khi có người qua đời.
- Cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng: Người Tày quan niệm vũ trụ ba tầng (mường Trời, mường Đất, mường Nước). Cái chết không phải là sự kết thúc mà là sự phân tách giữa thể xác và linh hồn để bắt đầu cuộc sống mới. Luận án chỉ ra quan niệm đa hồn: linh hồn sau khi chết được phân chia thành ba nơi ngụ (trú ngụ tại khu mộ, trở về mường Trời với tổ tiên, và ngự trên bàn thờ gia đình). Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giữ vị trí trung tâm, dung hợp các yếu tố Tam giáo: Đạo giáo cung cấp hệ thống thần linh và pháp thuật của thầy Tào; Nho giáo định hình đạo hiếu và trật tự tang chế; Phật giáo bổ sung quan niệm nghiệp quả và cứu rỗi ngục hình.
Chương 3: Thực hành nghi lễ chuyển đổi cho người chết sang thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk
Chương này khảo tả chi tiết quy trình tang lễ dưới sự chủ trì của thầy Tào qua ba chiều kích chuyển đổi tương ứng với ba không gian cư trú của người chết:
- Chuyển đổi thân xác và linh hồn về khu mộ: Bắt đầu từ khâu thầy Tào xem ngày giờ, bói đất tìm vị trí làm mộ (lập "nhà mới"). Tiếp đó là các nghi thức tắm rửa thi thể, khâm liệm, bảo quản xác, phát tang (thành phục), con cháu dâng lễ vật báo hiếu và cúng cơm rượu. Khi di quan, do chuyển sang nhà trệt nên quan tài được đưa ra bằng cửa chính (thay vì cầu thang phụ như nhà sàn cổ truyền), sau đó đưa ra nghĩa địa làm lễ an táng, lấp đất và hoàn tất việc đưa thân xác người chết về định cư tại nghĩa trang của làng.
- Chuyển đổi đưa linh hồn người chết về với tổ tiên ở mường Trời: Chuẩn bị các đồ dùng sinh hoạt, tiền vàng, nhà táng, ngựa mã để gửi sang thế giới bên kia. Thầy Tào tiến hành các lễ thức mở đường, khai quang, niệm phép và thực hiện khoa cúng "Phá ngục" nhằm giải thoát linh hồn khỏi các tầng địa ngục u ám. Sau đó, thầy Tào diễn xướng dẫn giải linh hồn vượt qua các sông suối, ải hiểm trở để lên mường Trời yết kiến Ngọc Hoàng và nhập vào cộng đồng tổ tiên cõi trên.
- Chuyển đổi linh hồn người chết về với tổ tiên trên ban thờ: Đây là giai đoạn chuyển tiếp được duy trì sau khi chôn cất. Gia đình thực hiện cúng cơm hàng ngày, cúng tuần 7 ngày, 49 ngày và 100 ngày. Tiến trình chuyển đổi hoàn tất bằng Lễ mãn tang (thực hiện sau ba năm). Qua lễ mãn tang, linh hồn người chết trút bỏ trạng thái tang ma tạm thời, chính thức được rước nhập vào bát hương tổ tiên chung trên ban thờ để nhận sự phụng thờ lâu dài của con cháu.
Chương 4: Nghi lễ chuyển đổi người chết sang thế giới tổ tiên trong tang ma của người Tày ở Đắk Lắk: yếu tố bản địa, sự giao lưu tiếp biến và thích ứng, biến đổi ở vùng đất mới
Chương 4 đúc kết thế giới quan, nhân sinh quan và quá trình biến đổi của nghi lễ trong môi trường mới:
- Thế giới quan và nhân sinh quan: Tang ma thể hiện quan niệm sống gửi thác về, đạo lý trả nghĩa sinh thành và trách nhiệm cộng đồng.
- Hiện tượng bản địa hóa Tam giáo: Yếu tố Nho giáo được bản địa hóa thành bổn phận hiếu thảo cụ thể của con cháu trong văn tế; yếu tố Đạo giáo hòa quyện với tín ngưỡng phù chú dân gian qua vai trò dẫn đường của thầy Tào; yếu tố Phật giáo được tích hợp vào nghi thức phá ngục và cầu siêu thoát.
- Thích ứng và biến đổi tại Đắk Lắk:
- Biến đổi của thầy Tào: Sự suy giảm về số lượng thầy Tào truyền thống am hiểu chữ Hán cổ; các bài cúng được rút ngắn; có sự dung hòa giữa truyền thống cúng của nhóm Tày Cao Bằng và Tày Bắc Kạn.
- Biến đổi trong nhận thức và thực hành của người dân: Thời gian tổ chức đám tang rút ngắn từ 3 - 5 ngày xuống còn khoảng 1,5 - 2 ngày để phù hợp với nếp sống văn minh và quy định vệ sinh; các hủ tục tốn kém được tinh giản.
- Thay đổi cơ sở vật chất nghi lễ: Sử dụng dịch vụ tang lễ chuyên nghiệp (mua sẵn quan tài, tang phục vải xô may công nghiệp, dựng rạp bạt hiện đại, sử dụng xe tang cơ giới thay thế khiêng đòn bộ); kèn đồng hiện đại xuất hiện xen kẽ với nhạc cụ truyền thống (kèn pí lè).
- Giao thoa văn hóa tộc người: Tiếp thu một số cách thức bài trí lễ vật, vòng hoa viếng của người Kinh; tuân thủ quy hoạch nghĩa địa tập trung của chính quyền địa phương, đồng thời giữ vững các nghi thức cốt lõi thông qua Lễ hội Văn hóa dân gian Việt Bắc tổ chức hàng năm tại Ea Tam.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đóng góp một nghiên cứu trường hợp cụ thể nhằm kiểm chứng và mở rộng lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep và quan điểm chức năng tâm lý ("công trình của văn hóa") của Charles Keyes trong bối cảnh nghiên cứu một tộc người thiểu số di cư nội địa tại Việt Nam.
- Luận án làm sáng tỏ bản chất tang ma của người Tày: cái chết không phải là sự chấm dứt mà là một tiến trình chuyển đổi đa chiều kích về không gian cư trú (về khu mộ, về mường Trời, lên ban thờ) và thay đổi vị thế xã hội của người chết (từ người sống thành ma nhà, ma tổ tiên), qua đó giải tỏa khủng hoảng tâm lý và duy trì sự cố kết của cộng đồng người sống.
Về mặt thực tiễn:
- Khắc họa toàn diện diện mạo và quy trình thực hành nghi lễ tang ma của cộng đồng người Tày di cư tại Đắk Lắk từ sau năm 1975 đến nay, chỉ rõ các điểm bảo lưu truyền thống và các khía cạnh biến đổi, thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội mới.
- Cung cấp nguồn cứ liệu khoa học và thực tiễn xác thực giúp các cơ quan quản lý văn hóa địa phương xây dựng quy ước, chính sách quản lý nếp sống văn minh trong việc tang, vừa tôn trọng tự do tín ngưỡng vừa hạn chế các hủ tục tốn kém, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người Tày tại Tây Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Địa bàn khảo sát điền dã chuyên sâu chủ yếu tập trung tại huyện Krông Năng (trọng điểm là xã Ea Tam), chưa tiến hành điều tra diện rộng trên tất cả các địa bàn có người Tày cư trú tại các tỉnh khác của vùng Tây Nguyên.
- Quá trình điền dã gặp trở ngại khách quan do tâm lý e ngại của gia đình lúc tang gia bối rối, dẫn đến việc chụp ảnh, ghi hình và tiếp cận một số nghi thức đặc thù bị giới hạn.
- Khối lượng văn bản cúng chữ Hán của thầy Tào rất đồ sộ; luận án mới chỉ dịch nghĩa và phân tích những văn bản cốt lõi liên quan trực tiếp đến tiến trình chuyển đổi linh hồn mà chưa khảo cứu toàn bộ kho tàng văn bản học Hán Nôm của thầy Tào tại địa phương.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh tang ma của người Tày tại các tỉnh Tây Nguyên khác như Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng để nhận diện các mô hình thích ứng đa dạng.
- Đi sâu nghiên cứu văn bản học, ngôn ngữ và nghệ thuật diễn xướng âm nhạc trong các nghi lễ tang ma của các dòng thầy Tào, Then, Pụt của người Tày trong bối cảnh biến đổi văn hóa đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Tôn giáo học và Văn hóa dân gian khi tìm hiểu về nghi lễ vòng đời, văn hóa di dân và tín ngưỡng các dân tộc thiểu số.
- Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác dân tộc và tôn giáo tại tỉnh Đắk Lắk và khu vực Tây Nguyên trong việc hoạch định chính sách xây dựng nếp sống văn hóa mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số di cư.
- Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống tư liệu điền dã dân tộc học phong phú, các biên bản phỏng vấn sâu thông tín viên và việc giải mã hệ thống văn bản cúng chữ Hán cổ của thầy Tào phục vụ các nghi thức chuyển đổi linh hồn.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quan niệm của người Tày ở Đắk Lắk, linh hồn người chết sau khi qua đời chuyển đổi đến những không gian nào?
Theo quan niệm của người Tày được luận án phân tích, linh hồn người chết sau khi lìa khỏi thể xác không tan biến mà phân chia để chuyển đổi đến ba không gian cư trú mới: một phần ngụ tại khu mồ mả (thế giới ngầm/khu mộ mới), một phần được thầy Tào làm lễ dẫn đường vượt ngục lên mường Trời đoàn tụ với ông bà tổ tiên cõi trên, và một phần ngự tại ban thờ tổ tiên trong nhà sau lễ mãn tang để tiếp nhận sự cúng giỗ của con cháu.
2. Thầy Tào đóng vai trò gì trong quy trình tang ma của người Tày tại địa bàn nghiên cứu?
Thầy Tào là nhân vật trung tâm điều hành toàn bộ quy trình nghi lễ tang ma. Thầy Tào sử dụng các văn bản cúng bằng chữ Hán cổ, thực hiện các phép thuật tôn giáo để xem ngày giờ, bảo quản thi thể, lập đàn tràng, cúng xá tội, làm lễ phá ngục giải thoát linh hồn và diễn xướng các khoa nghi mở đường dẫn dắt linh hồn người chết vượt qua các cửa ải để về chầu Ngọc Hoàng và hòa nhập với thế giới tổ tiên.
3. Vì sao xã Ea Tam (huyện Krông Năng) được lựa chọn làm địa bàn khảo sát trọng điểm của luận án?
Xã Ea Tam là nơi có tỷ lệ người Tày và Nùng di cư tập trung đông nhất tỉnh Đắk Lắk (chiếm 87,9% dân số toàn xã, riêng người Tày chiếm 55,8% với 1.383 hộ). Địa bàn này hình thành từ làn sóng di cư sau năm 1979 và cao điểm 1986 - 1990 từ Cao Bằng, Bắc Kạn, tạo nên một cộng đồng cư dân tập trung có điều kiện bảo lưu đậm nét các phong tục, lễ hội dân gian và nghi lễ tang ma truyền thống của quê hương gốc.
4. Nghi lễ tang ma của người Tày ở Ea Tam đã có những biến đổi cụ thể nào so với truyền thống tại quê gốc miền núi phía Bắc?
Luận án ghi nhận các biến đổi chính: thời gian tang lễ rút ngắn từ 3 - 5 ngày xuống còn 1,5 - 2 ngày; quan tài được đưa ra ngoài bằng cửa chính của nhà trệt thay vì đưa qua cầu thang phụ như nhà sàn truyền thống; sử dụng các dịch vụ tang lễ hiện đại (mua sẵn áo quan, tang phục vải xô may công nghiệp, dùng xe tang cơ giới, rạp bạt lưu động); nhạc cụ kèn đồng hiện đại xuất hiện xen kẽ với kèn pí lè truyền thống; và một số nghi thức cúng của thầy Tào được tinh giản do thiếu hụt người kế nghiệp am hiểu Hán văn.
5. Nghi lễ mãn tang có ý nghĩa như thế nào trong cấu trúc chuyển đổi của tang ma Tày?
Lễ mãn tang (thường tổ chức sau ba năm kể từ khi người chết qua đời) là nghi thức đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của thời gian chuyển tiếp (giai đoạn ngưỡng). Thông qua lễ này, linh hồn người chết trút bỏ tư cách người mới mất, hoàn tất sự tách biệt khỏi cõi trần để chính thức nhập vào bát hương tổ tiên chung trên ban thờ, đồng thời người sống hoàn thành nghĩa vụ tang chế và khôi phục trạng thái sinh hoạt đời thường.
Kết luận
Luận án của Lài Thị Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tang ma của người Tày tại Đắk Lắk tiếp cận dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi và lý thuyết chức năng tâm lý. Bằng nguồn tư liệu điền dã phong phú thu thập từ năm 2016 đến 2021 tại huyện Krông Năng và việc khai thác hệ thống văn bản cúng chữ Hán của thầy Tào, tác giả đã làm rõ cấu trúc ba chiều kích chuyển đổi linh hồn người chết về khu mộ, mường Trời và ban thờ tổ tiên. Công trình phản ánh chân thực bức tranh bảo lưu văn hóa truyền thống song song với quá trình thích ứng, biến đổi tập quán tang ma của cộng đồng Tày di cư tại Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu quan trọng cho ngành Văn hóa học và Dân tộc học mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác quản lý văn hóa và chính sách dân tộc tại địa phương.