Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về người Dao Quần Chẹt ở Ba Vì Chương 2: Nghi lễ vòng đời truyền thống của người Dao Quần Chẹt ở Ba Vì Chương 3: Chức năng, giá trị nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt ở Ba Vì Chương 4: Nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt ở Ba Vì trong bối cảnh hiện nay 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI DAO QUẦN CHẸT Ở BA VÌ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu nghi lễ vòng đời của người Dao ở Việt Nam Người Dao ở Việt Nam là một trong các tộc người thiểu số được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Thời kỳ Pháp thuộc do nhu cầu đặt ách cai trị, nhiều linh mục, sĩ quan, nhà nghiên cứu tích cực nghiên cứu các dân tộc ít người, trong đó có người Dao.
Đã có một số học giả người Pháp nghiên cứu về người Dao như L.Tharand, Auguste Bonifacy,. trong đó phải kể đến Auguste Bonifacy - một sĩ quan Pháp với nghiên cứu Một cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng mười 1901 đến cuối tháng giêng 1902 [7]. Trong nghiên cứu này, ông đã mô tả khá sinh động, hấp dẫn về đời sống văn hóa của một số “bộ lạc” Dao quần cộc, Đại bản. như nhà cửa, trang phục, phương thức mưu sinh, phong tục tập quán, tổ chức xã hội, tôn giáo, văn học, nghệ thuật.
Có thể nói đây là một nghiên cứu nghiêm túc, phương pháp điền dã với kỹ thuật quan sát tham dự được sử dụng hiệu quả, đặc biệt phần mô tả khá hấp dẫn. Tuy nhiên, phần giới thiệu về phong tục tập quán tác giả mới chỉ đề cập đến hôn nhân, các phong tục tập quán khác trong NLVĐ và đặc biệt phần nghi lễ chưa được chú ý. Trong Hội thảo Quốc tế lần thứ VII (tháng 12 năm 1995) về người Dao được tổ chức tại Thái Nguyên [87], có 2 bài tham luận của tác nước ngoài về người Dao ở Việt Nam đó là: Mấy vấn đề về người Dao di cư vào Việt Nam của tác giả người Trung Quốc Trương Hữu Tuấn đề cập đến thời gian, con đường và nguyên nhân người Dao di cư vào Việt Nam. Tham luận thứ hai Khái quát về di sản văn hóa Dao và hiện đại hóa ở Việt Nam của tác giả người Pháp Jacques Lemoine bàn về vấn đề bản sắc với hai nội dung chính: Những dấu ấn về bản sắc của người Dao ở Việt Nam từ nguồn gốc, lễ hội - tôn giáo, nhà ở, trang phục, phong tục,.
vấn đề bản sắc dân tộc Dao trong phát triển và hiện đại hóa. NLVĐ chưa được đề cập, chỉ xuất hiện một vài nhận định nhỏ về phong tục tập quán liên quan đến NLVĐ. 11 Đối với nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục (1977), tác giả Lê Quý Đôn đã đề cập đôi nét về các tộc người thiểu số Việt Nam. Khi nói về xứ Tuyên Quang, tác giả nói đến 7 chủng tộc người Man nhưng chỉ đề cập đến văn hóa vật chất như: mặc áo chàm xanh, tay áo rộng, hoặc áo màu trắng, để tóc dài, búi tóc nhọn,…, cắt tóc chít khăn vải hoa, áo xanh, quần vắn,…[27, tr.
NLVĐ chưa được tác giả nói đến. Năm 1778, tác giả Hoàng Bình Chính viết tác phẩm Hưng hóa xứ phong thổ lục [13] đề cập sơ lược đến nhóm người Mán có mặt tại Châu Thủy Vĩ (Lào Cai) và Châu Văn Bàn, do dung lượng có hạn, tác phẩm chưa miêu tả cụ thể về NLVĐ của nhóm người này. Năm 1856 tác phẩm Hưng hóa ký lược của Phạm Thận Duật [109] ra đời có đề cập đến người Dao ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Trong mục phong tục tập quán, ông có đề cập đến người Mán Sừng Đỏ (Dao Đỏ), người Mán Đạn Tiên (Dao Làn Tẻn), người Sơn Tạng nhưng chưa đề cập đến NLVĐ của các nhóm này.
Như vậy, thời kỳ phong kiến, một số tác giả nghiên cứu đã đề cập đến người Dao nhưng chỉ dừng lại ở việc khái quát một vài nét về phong tục tập quán. Vấn đề NLVĐ chưa được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, đây cũng là nguồn sử liệu quan trọng để tìm hiểu về thời gian di cư, địa bàn cư trú của người Dao ở Việt Nam. Cuối những năm 50, đầu những năm 60 của Thế kỷ XX, ngành Dân tộc học với tư cách là một khoa học độc lập ra đời.
Công tác nghiên cứu về các tộc người trong đó có người Dao được đẩy mạnh nhằm mục đích xác định thành phần dân tộc. Từ đó đến nay đã xuất hiện nhiều công trình mang tính khái quát về người Dao ở Việt Nam như: Người Dao ở Việt Nam của tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến [24]; Văn hóa truyền thống của người Dao ở Hà Giang (1999) do Phạm Quang Hoan và Hùng Đình Quý (chủ biên) [36]; Một số vấn đề người Dao Quảng Ninh (1999) của Nguyễn Quang Vinh [121]; Phong tục tập quán người Dao Thanh Hóa (2001) của Đào Thị Vinh [120]; Người Dao (2004) của Chu Thái Sơn (chủ biên) [77]; Văn hóa người Dao ở Hòa Bình (2014) của tác giả Bùi Chí Thanh [96]; Người Dao Quần Chẹt ở Trung Du đồng bằng Bắc Bộ 12 (2015) của Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên) [99]; … Với phương pháp điền dã dân tộc học, các tác giả đã cung cấp cho người đọc những tư liệu phong phú về nhiều mặt trong đời sống của người Dao ở các địa phương như: nguồn gốc lịch sử, dân số, đặc điểm KT - XH, phong tục tập quán,… NLVĐ chưa được chú trọng nghiên cứu chuyên sâu mà chủ yếu chỉ mô tả chung trong phong tục tập quán của người Dao. Tuy nhiên, những công trình ấy cũng cho chúng tôi thấy được sự đa dạng trong NLVĐ của người Dao, là tư liệu để so sánh với người DQC ở Ba Vì. Trong những công trình kể trên, đáng chú ý là cuốn Người Dao ở Việt Nam của tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến, ….
Với nguồn tư liệu phong phú, chính xác, cụ thể, các tác giả đã mô tả khá chi tiết về người Dao, các hình thái kinh tế, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt xã hội, văn học nghệ thuật, tri thức dân gian,… Đáng chú ý NLVĐ được giới thiệu trong chương 5 – “Một số tục lệ chủ yếu trong đời sống của người Dao” do tác giả Nguyễn Khắc Tụng và Nông Trung viết với 4 tục lệ: sinh đẻ và nuôi con, cưới xin, làm nhà mới, ma chay. Tuy nhiên, phần nghi lễ chưa được tìm hiểu kỹ lưỡng. “Tục cấp sắc” được tác giả Nguyễn Nam Tiến giới thiệu trong chương 6 - tôn giáo, tín ngưỡng. Năm 2014, tác giả Bùi Chí Thanh xuất bản cuốn Văn hóa người Dao Quần Chẹt ở Hòa Bình.
Cuốn sách là sự tổng hợp nghiên cứu trong nhiều năm của tác giả tại các vùng có người DQC sinh sống trong tỉnh Hòa Bình như Đà Bắc, Kỳ Sơn, Mai Châu, Lương Sơn, Cao Phong,… Trong phần hệ thống nghi lễ theo chu kỳ vòng đời người, tác giả giới thiệu về nghi lễ nam hoa, lễ cưới, lễ cấp sắc, tang lễ và lễ tạ mả. Nghi lễ tạ mả được sắp xếp trong NLVĐ có phần không chính xác vì đây không phải là nghi lễ mà tất cả người Dao đều phải trải qua. Nó là một nghi lễ liên quan đến việc tách nhà tổ của người DQC. Vì vậy, nếu tác giả xếp vào phần tôn giáo, tín ngưỡng sẽ hợp lý hơn.
Cuốn sách cũng mới chỉ dừng lại ở sự mô tả dân tộc học mà chưa đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của việc thực hành các nghi lễ. Tuy nhiên đây cũng là một tư liệu để so sánh với người DQC ở Ba Vì trong quá trình thực hiện luận án. NLVĐ được tách thành nghiên cứu riêng trong cuốn “Người Dao Quần Chẹt ở Trung du đồng bằng Bắc Bộ” của Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên). Tuy nhiên, tác 13 giả chỉ giới thiệu 3 nghi lễ chính: sinh đẻ, cưới xin, tang ma.
Nghi lễ cấp sắc được xếp vào phần văn hóa tinh thần. Với nguồn tư liệu phong phú từ điền dã dân tộc học, nhóm tác giả đã có những phân tích khái quát nhất về NLVĐ của nhóm DQC. Các phong tục tập quán liên quan cũng được nghiên cứu để làm sáng tỏ NLVĐ. Cuốn sách là tư liệu có giá trị để so sánh với NLVĐ của người DQC ở Ba Vì.
Tuy nhiên, do đây là công trình chuyên khảo tổng thể về người DQC ở miền núi Trung du Bắc bộ nên NLVĐ cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả khái quát. Một số nghi lễ chưa có sự giải thích thỏa đáng. Nghiên cứu chuyên sâu về các nghi lễ trong hệ thống NLVĐ cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học. Đã có khá nhiều công trình được công bố dưới dạng sách chuyên khảo, bài tạp chí, tham luận, luận án, luận văn,… Một số công trình tiêu biểu phải kể đến: Những nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của tác giả Lý Hành Sơn [80], Nghi lễ trong việc cưới, việc tang của người Dao Khâu ở Lai Châu của tác giả Tẩn Kim Phu [69], luận văn thạc sĩ: Lễ cấp sắc và tang ma của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai của tác giả Hà Thị Thuận [104].
Luận án Nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà [32],. Các công trình kể trên đã khái quát được NLVĐ của một số nhóm Dao, nhiều thực hành nghi lễ đã được giải thích rõ. Đây là nguồn tư liệu giúp NCS so sánh để làm rõ đặc trưng văn hóa trong NLVĐ của người DQC ở Ba Vì. Trong số những công trình kể trên, đáng chú ý có Những nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn.
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và có hệ thống về nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Dao nói chung cũng như người Dao Tiền ở Ba Bể nói riêng. Với cách tiếp cận theo hướng dân tộc học, tác giả mô tả, phân tích và đưa ra kết luận: “Trong một chu kỳ đời người, các nghi lễ sinh đẻ và nuôi con, cấp sắc, cưới xin và tang ma là những nghi lễ chủ yếu, bởi vì một mặt chúng đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong từng giai đoạn phát triển của con người, mặt khác mỗi người trong cuộc đời của mình nhất thiết phải trải qua một lần.