Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Chương 3. Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Hòa Bình Chương 4.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch điểm đến tỉnh Hòa Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh Nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới quan tâm. Cho đến nay, cách tiếp cận về cạnh tranh còn rất nhiều quan điểm khác nhau. Khởi nguồn cho nghiên cứu về hệ thống lý luận hoàn chỉnh về năng lực cạnh tranh phải kể A.
Ông là người tiên phong khi cho khẳng định cạnh tranh là sự cần thiết cho phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, lý luận cạnh tranh và năng lực cạnh tranh chỉ được làm sáng tỏ, rõ ràng và có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong các nghiên cứu của M. Khi đó, khái niệm về cạnh tranh đã bắt đầu được sử dụng phổ biến, thống nhất trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh đó, những nghiên cứu của W.Aglietta, Micheal Eairbank… đã hệ thống lý luận về cạnh tranh.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh phải kể đến các nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Trần Sửu (2006), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” [28] tác giả đã nhận định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cấu thành bởi các yếu tố như nguồn nhân lực của doanh nghiệp, năng lực quản lý, hoạt động marketing từ giai đoạn nghiên cứu sản phẩm đến việc xây dựng thương hiệu, chiếm lĩnh thị phần. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tỷ lệ nhân viên, sáng kiến mới, cơ sở vật chất, thị phần, năng suất lao động, tài chính, chất lượng môi trường sinh thái, giá trị vô hình. Một số công trình tiêu biểu cũng đưa ra các tiêu chí như tác giả Trần Sửu để phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam có thể kể đến như công trình của Ngô Thị Hương Giang (2011), “Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”, Dương Ngọc Dũng (2012), “Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết của Michael Porter”, Nguyễn Hữu Thắng (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” [12, 13, 33] đề tài nghiên cứu khoa học 8 cấp bộ đã đưa chỉ tiêu năng lực chiếm lĩnh thị trường, thị phần, sản phẩm, hiệu quả hoạt động, năng suất, khả năng thu hút nguồn lực, khả năng liên kết của doanh nghiệp từ đó giúp doanh nghiệp có thể đối mặt với áp lực gia tăng từ các đối thủ cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2007), “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” [30].
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ được nghiên cứu chuyên sâu cho một đối tượng cụ thể phân tích các khía cạnh như marketing, thị trường, sản phẩm và dịch vụ lữ hành, công nghệ, vốn, trình độ quản lý, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới là những tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp của Việt Nam. Hà Thanh Hải (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các khách sạn trong trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới [14], luận án tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành du lịch, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của khách sạn. Tác giả sử dụng các yếu tố cơ sở hạ tầng du lịch, hệ thống dịch vụ, giá cả, nguồn nhân lực để đi sâu phân tích một số đối tượng cụ thể, từ đó đưa ra những khái quát chung để nâng cao năng lực cạnh tranh của các khách sạn trong thời gian tới.2 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch (1) Evans, M. B, Identifying competitive strategies for successful tourism destination development, Journal of Hospitality and Leisure Marketing, 3(1), (1995), 37-45.
Nghiên cứu chỉ ra những năm 1990 là thời điểm quan trọng hình thành một thị trường cạnh tranh cho ngành du lịch. Trên thị trường này thì chỉ có các điểm đến du lịch được quản lý tốt nhất mới có khả năng phát triển thịnh vượng. Vì lý do đó, trong các chiến lược kinh doanh toàn diện, các điểm đến du lịch phải giải quyết nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm du lịch bao gồm: vấn đề quá tải, vấn đề môi trường, an toàn và an ninh của du khách, vấn đề thời vụ, vấn đề văn hóa địa phương. Phát triển và thực hiện các chiến lược cạnh tranh sẽ tạo ra một ngành công nghiệp du lịch phát triển bền vững, đó cũng chính là một yêu cầu thiết yếu nếu muốn đạt được hiệu quả cho các điểm đến du lịch trong tương lai.
Trong nghiên cứu tác giả sử dụng các lý thuyết được chấp nhận rộng rãi của M. Porter trong quản lý chiến lược để hướng dẫn các nhà quản lý mục tiêu trong quy trình lập kế hoạch này. Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận tích hợp, kết nối truyền thống khoa học về quản lý điểm đến và khả năng cạnh tranh nhằm làm sáng tỏ năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch. Nghiên cứu được thực hiện với trường hợp các điểm đến du lịch của Karnataka.
Du lịch là một hoạt động kinh tế chiến lược ở Karnataka. Tầm nhìn và khả năng tạo ra sự độc đáo, khác biệt trong chiến lược phát triển du lịch của các cơ quan chủ quản đã tạo ra sự thành công của điểm đến du lịch Karnataka. Kết quả của nghiên cứu về cuộc điều tra sự phát triển du lịch của Karnataka với những phân tích cụ thể về quy hoạch lãnh thổ của bang đã chỉ ra các kết luận về vai trò của các tổ chức quản lý điểm đến trong du lịch đối với sự phát triển đô thị và đương đại. Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh vai trò của quản trị điểm đến du lịch và khả năng đáp ứng nhu cầu quản lý điểm đến.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu chỉ ra các chức năng, hoạt động và vai trò khác nhau của quản trị điểm đến du lịch. Nhóm tác giả đã hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan và áp dụng với trường hợp điển hình Karnataka nhằm làm sáng tỏ nhận định về vai trò quản trị điểm đến du lịch. (3) Phạm Hồng Chương, Hoàng Văn Hoa, Trần Văn Hòe, Kenichi Ohno, Nguyễn Đình Thọ (2006), Khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa ngành du lịch. Nghiên cứu này đã chỉ rõ khả năng cạnh tranh và tiềm năng của ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, những đòi hỏi về nguồn lực đầu tư cho ngành du lịch và những định hướng cơ bản để tăng đầu tư cho phát triển bền vững ngành du lịch Việt Nam.
Công trình này đã khảo sát và đánh giá về năng lực thu hút đầu tư phát triển du lịch Việt Nam trong xu hướng hội nhập, chỉ rõ những định hướng cần đáp ứng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể sẵn sang đầu tư cho phát triển du lịch vào các địa phương với tiềm năng khác nhau. (4) Nguyễn Anh Tuấn (2010), Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án chỉ ra các lợi thế cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam là vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nền văn hóa đa dạng. Tuy nhiên, muốn thu hút được du khách quốc tế đến với Việt Nam cần nâng cao năng 10 lực cạnh tranh điểm đến so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới với những chiến lược và giải pháp cụ thể gắn liền với lợi thế riêng có của Việt Nam.
(5) Thái Thị Kim Oanh (2015), Đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch biển, đảo của tỉnh Nghệ An, Luận án tiến sĩ trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả đã kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu, sử dụng mô hình nghiên cứu của Dwyer và Kim (2003) nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh biển, đảo Nghệ An. Tác giả chỉ những đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của điểm đến du lịch biển nhằm làm luận cứ để đề xuất 04 nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch biển, đảo Nghệ An trong bối cảnh mới. (6) Vũ Văn Hùng (2016), Năng lực cạnh tranh du lịch biển đảo Khánh Hoà, Đề tài khoa học công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ Khánh Hoà.
Nghiên cứu được tác giả thực hiện nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch biển đảo Khánh Hòa. Tác giả đã phát triển bộ chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước và đặc thù của biển đảo Khánh Hòa. Bộ tiêu chí mà tác giả xây dựng gồm 5 nhóm nhân tố chính và 44 chỉ tiêu đánh giá thông qua thang Likert 1-5. Trên cơ sở bộ chỉ tiêu được xây dựng, tác giả phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh biển đảo Khánh Hòa để đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch biển đảo Khánh Hoà trong thời gian tới.
(7) Nguyễn Thanh Sang và cộng sự (2018), Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Đề xuất mô hình cấu trúc đo lường năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bạc Liêu, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, số 54. Nhóm tác giả đã đề xuất được mô hình cấu trúc đo lường các thuộc tính về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch và áp dụng cho đối tượng cụ thể là tỉnh Bạc Liêu. Với đặc thù tỉnh Bạc Liêu nhóm tác giả đã đề xuất 6 chỉ số chính là sự hấp dẫn của điểm đến du lịch, cơ sở hạ tầng, hình ảnh của điểm đến du lịch, quản lý điểm đến du lịch, dịch vụ điểm đến du lịch và điều kiện cầu của khách du lịch. (8) Cao Tuấn Phong (2019), Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển du lịch: Nghiên cứu trường hợp Cát Bà, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội.