CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trong khoảng mười năm gần đây, trên thế giới đã có nhiều công trình, sách giáo khoa, tài liệu nghiên cứu về tính hiệu quả của các tổ chức tài chính được thực hiện bởi chính phủ, các nhà kinh tế, các học giả và những người có quan tâm đến lĩnh vực này. Gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu tính cạnh tranh trên thị trường ngân hàng do các tổ chức quốc tế thực hiện ở các nước đã và đang phát triển.
Barbara Casu, Philip Molyneux (2000) [49], giảng viên khoa kế toán của Trường đại học xứ Wales đã tiến hành nghiên cứu so sánh kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Châu Âu. Các tác giả đã dùng phương pháp phân tích phát triển dữ liệu phi tham số (Non – parametric Data Development Analysis) kết hợp với cách tiếp cận hồi quy Tobit để phân tích tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trường Châu Âu thống nhất trong giai đoạn 1993 – 1997. Về phương pháp, các tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình hồi quy Tobit, tuy nhiên mô hình này chỉ được sử dụng khi biến phụ thuộc bị kiểm duyệt nên mô hình này không phù hợp với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy kể từ khi có thị trường Châu Âu thống nhất, đã có một sự cải thiện ít ỏi về mức hiệu quả của hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, do có sự khác biệt giữa các thị trường ngân hàng ở các quốc gia ở Châu Âu, các yếu tố xác định hiệu quả của ngân hàng cũng phụ thuộc vào những đặc điểm riêng của từng quốc gia. Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, nó giúp cho các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể về cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trường Châu Âu thống nhất, và được các nhà quản lý ứng dụng vào hoạt động kinh doanh ngân hàng. Bert Scholtens (2000) [50], đã nghiên cứu về cạnh tranh, tăng trưởng và hiệu 2 quả của ngành công nghiệp ngân hàng. Tác giả đã phân tích mối liên hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả của ngân hàng bằng phương pháp phân tích ổn định có giới hạn EBA (Extreme Bounds stability Analysis – EBA).
Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận ngân hàng liên hệ nghịch với tài sản ngân hàng và liên hệ thuận với vốn chủ sở hữu. Về phương pháp, các tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình hồi quy, nghiên cứu này cũng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mối quan hệ lợi nhuận ngân hàng liên hệ nghịch với tài sản ngân hàng và liên hệ thuận với vốn chủ sở hữu. Còn nhiều nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng cần được làm rõ.Berger và Loretta J.Mester (2003) [48], đã nghiên cứu về sự thay đổi hiệu quả của hệ thống ngân hàng của Mỹ do sự thay đổi về các yếu tố kỹ thuật, cạnh tranh và quy định của Nhà nước.
Đề tài nghiên cứu đã cho thấy trong giai đoạn 1991 – 1997, hiệu quả về mặt chi phí giảm sút trong khi hiệu quả về mặt lợi nhuận được cải thiện một cách đáng kể, đặc biệt là khi các ngân hàng tham gia vào quá trình sát nhập. Nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng lợi nhuận bằng cách gia tăng các dịch vụ cao cấp. Tuy nhiên, theo khuyến cáo của công trình nghiên cứu, việc loại bỏ doanh thu trong quá trình nghiên cứu có thể dẫn đến những kết quả sai. Về phương pháp, hai Ông đã sử dụng phương pháp định tính thông qua việc chứng minh bằng công thức toán học và tính toán kết quả dựa trên các công thức, phương pháp này có tính chính xác tuy nhiên lại phức tạp và mất nhiều thời gian tính toán.
Nghiên cứu này cũng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở mối quan hệ nghịch biến giữa chi phí và lợi nhuận; giữa các dịch vụ cao cấp và lợi nhuận, chưa nghiên cứu sâu sự tác động của một số nhân tố khác tới lợi nhuận. Sahut et al (2011) [62], đã nghiên cứu các yếu tố của điều kiện cạnh tranh của các ngân hàng thông thường và các ngân hàng Islamic hoạt động trong cùng một thị trường trong khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Các tác giả đã xác định mức độ cạnh tranh giữa hai loại hình ngân hàng bằng cách sử dụng chỉ số thống kê PR – H của Panzar và Ross (1987) và chỉ số Lerner.
Kết quả ước lượng cho thấy rằng ngành ngân hàng trong khu vực Trung Đông và Bắc Phi hoạt động theo cạnh tranh độc quyền. Và các ngân hàng 3 Islamic có năng lực cạnh tranh và sức mạnh thị trường cao hơn so với các ngân hàng khác. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy lợi nhuận và sức mạnh thị trường có quan hệ đồng biến với nhau, nhưng điều này không đảm bảo mức lợi nhuận cao hơn cho các ngân hàng Islamic. Về phương pháp, các tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình hồi quy logarit, đây là phương pháp có nhiều ưu điểm có thể vận dụng vào đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu này cũng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Nghiên cứu này hướng vào chất lượng dịch vụ, nỗ lực khuyến mại, công nghệ mới và giá cho thuê ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh như thế nào và mức độ tác động của chúng đến năng lực cạnh tranh. Để thu thập dữ liệu một bảng câu hỏi có cấu trúc đã được sử dụng cho 77% khách hàng với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Các dữ liệu được phân tích thông qua các mối tương quan của các biến và hồi quy đa biến để trả lời cho các giả thuyết nghiên cứu.
Kết quả cho thấy chất lượng dịch vụ và giá cho thuê tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh, công nghệ mới và nỗ lực khuyến mại không ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Các phân tích sâu cho rằng giá cho thuê là nhân tố mạnh nhất (81% tương quan) và tiếp theo là chất lượng dịch vụ (22% tương quan) tác động đến năng lực cạnh tranh. Đây là nghiên cứu có phương pháp phân tích định lượng và chuyên sâu, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, do đó có thể vận dụng vào đề tài nghiên cứu của tác giả. Nhiều nghiên cứu khác được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới tập trung vào lĩnh vực năng suất và từ năng suất có thể phân tích về tính cạnh tranh thông qua các chỉ tiêu năng suất.
Các nghiên cứu này hầu hết đều vận dụng mô hình kinh tế lượng, hàm sản xuất để đo lường các nhân tố tác động đến năng suất của công ty hay của ngành. Từ kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất với các yếu tố đầu vào có tác động đến năng suất, đã đi đến lập luận về tác động của nó đến hiệu quả và cạnh tranh ở mức độ doanh nghiệp và mức độ ngành. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước - Các bài báo nghiên cứu và sách xuất bản trong khoảng 10 năm gần đây: - Bài báo:”Nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại Việt nam trong thời gian tới” của Đinh Duy Đông (2007) [3]. Nội dung cho thấy một số hạn chế trong lĩnh vực cạnh tranh của các NHTM Việt nam hiện nay như: cạnh tranh trong các NHTM Việt nam mang tính chất độc quyền nhóm các NHTM Nhà nước chiếm thị phần tuyệt đối và có tiềm lực tài chính lớn do sự trợ giúp của Nhà nước, nhiều NHTM Việt nam chưa thật an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế, các nghiệp vụ ngân hàng hiện tại còn quá đơn giản và chưa đa dạng, trình độ quản lý kinh doanh chưa cao, tính chuyên nghiệp trong hoạt động NHTM hiện đại còn thấp.
Trên cơ sở đó, tác giả đề ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM. Bài báo này chỉ dựa vào phân tích định tính đề đưa ra kết quả như trên nên về mặt phương pháp còn nhiều hạn chế và ý nghĩa thực tiễn chưa cao. - Bài báo:“Bàn về nâng cao năng lực cạnh tranh cho các Ngân hàng Thương mại Việt nam trên thị trường dịch vụ ngân hàng” của Phí Trọng Hiển (2006) [35]. Tác giả đưa ra một số tồn tại nổi bật trong hệ thống dịch vụ ngân hàng hiện nay như: chủng loại sản phẩm nghèo nàn, đơn điệu, chất lượng sản phẩm chưa cao, phương thức tiếp cận sản phẩm dịch vụ cho khách hàng đơn giản, thuần túy, quy mô cung cấp sản phẩm nhỏ, tính cạnh tranh thấp, ngoài ra tác giả còn đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong nước vẫn còn thấp hơn so với thế giới.
Tác giả đề ra chiến lược phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các NHTM Việt nam dựa trên hệ thống các chính sách vững chắc và đồng bộ bao gồm: chính sách hoạt động, tài chính, tiếp thị (Marketing), khách hàng, sản phẩm, nhân lực, công nghệ và chính sách giá. Phương pháp sử dụng là phương pháp định tính, kết quả chưa được kiểm định nên ý nghĩa thực tiễn chưa cao. - Cuốn sách:“Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại trong xu thế hội nhập” của tác giả Nguyễn Thị Quy xuất bản năm 2005 [29]. Tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh lý thuyết và thực tiễn về năng lực cạnh 5 tranh và đánh giá năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam.
Tác giả đã đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh của NHTM:”Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Tác giả cũng đưa ra 6 tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các NHTM như: Tiềm lực tài chính; Năng lực công nghệ; Nguồn nhân lực; Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức; Hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp; Mức độ cạnh tranh và khả năng hợp tác giữa các ngân hàng trong nước.