Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 62 34 04 10) với đề tài "Mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam" được tác giả Hoàng Trường Giang thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Thị Nga và TS. Nguyễn Ngọc Toàn.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án nêu rõ trong hơn 30 năm đổi mới, doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN) giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, xây dựng hạ tầng và đóng góp ngân sách. Khu vực này nắm giữ 33% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp gần 30% GDP. Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, tiến độ cơ cấu lại và cổ phần hóa chậm, tỷ lệ vốn được cổ phần hóa thấp, tình trạng thất thoát, lãng phí và quản trị yếu kém vẫn tồn tại. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa hoàn thiện, chưa tách bạch triệt để giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu. Mặc dù chủ trương tách bạch đã có từ năm 2001 và bước đầu được cụ thể hóa bằng việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (năm 2018) quản lý 19 tập đoàn, tổng công ty, song phần vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp vẫn trực thuộc các bộ ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) và địa phương (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, 63 công ty xổ số). Đồng thời, hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng bộc lộ những hạn chế như chậm trễ trong phê duyệt đầu tư và xây dựng chiến lược. Luận án giải quyết khoảng trống về cơ sở khoa học, phân tích nhân tố ảnh hưởng và bài học quốc tế để xác lập mô hình chủ sở hữu phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN; phân tích, đánh giá thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam giai đoạn 1995-2020; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình đến năm 2030.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nhiệm vụ:
- Phân tích, hệ thống hóa và bổ sung làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở lý luận về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN;
- Nghiên cứu kinh nghiệm về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN của một số nước trên thế giới, làm rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2020, chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam giai đoạn từ nay đến năm 2030.
Đối tượng nghiên cứu là mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam, tập trung vào cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Nội dung: Tập trung vào mô hình tổ chức, cơ chế vận hành thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước, cơ chế phối hợp và nhân lực vận hành bộ máy.
- Loại hình doanh nghiệp: Tập trung vào doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối (nắm giữ trên 50% vốn điều lệ).
- Không gian: Các cơ quan chủ sở hữu nhà nước hiện hành gồm Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các bộ, ngành, UBND Thành phố Hà Nội, UBND Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp trực thuộc.
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng mô hình từ năm 1995 đến năm 2020 (chuỗi số liệu thống kê DNCVNN từ năm 2012 đến năm 2020; có tham khảo dữ liệu trước 2012 và sau 2020 để so sánh); các quan điểm và giải pháp định hướng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung chính:
Các nghiên cứu trong nước về vị trí, vai trò, bản chất của DNCVNN và tái cơ cấu:
- Nguyễn Mạnh Quân (bài viết "Tái cấu trúc DNCVNN, một số vấn đề nguyên tắc và phương pháp tiếp cận") phân tích sự thay đổi vai trò của DNCVNN trong chuyển đổi kinh tế.
- Phạm Việt Dũng ("Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước") khẳng định vị trí cơ bản của DNCVNN trong thành phần kinh tế nhà nước.
- Ngô Quang Minh ("Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay") chỉ ra quan hệ sở hữu chưa rõ ràng dẫn đến tài sản công bị xem là "vô chủ".
- Trần Thị Minh Châu ("Tái cơ cấu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCVNN ở Việt Nam") nhấn mạnh vị trí của DNCVNN nhằm bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; ngược lại, Trần Đình Thiên ("Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế và nhiệm vụ tái cơ cấu khu vực DNCVNN") cho rằng cần coi DNCVNN bình đẳng như các doanh nghiệp khác, không nên gán chức năng điều tiết vĩ mô.
- Nguyễn Kế Tuấn (chủ nhiệm Đề tài khoa học cấp quốc gia KX04.09/06-10 giai đoạn 2006-2010: "Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam") và cuốn sách do Lê Quốc Lý chủ biên ("Thành công và bài học đắt giá của doanh nghiệp nhà nước") phân tích các bất cập thể chế và hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nhà nước.
- Trần Văn Tá phân tích mô hình tập đoàn kinh tế sau 6 năm thí điểm (từ năm 2005 với 12 tập đoàn).
- Trần Đình Thiên và cộng sự ("Tái cơ cấu DNCVNN các điểm nghẽn và giải pháp thúc đẩy"), Lê Xuân Bá ("Tổng quan tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng tại Việt Nam") nghiên cứu việc cổ phần hóa, thoái vốn và đổi mới quản trị.
Các nghiên cứu trong nước về mô hình chủ sở hữu và phân tách chức năng:
- Trần Tiến Cường nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tập đoàn kinh tế tại Trung Quốc, Singapore và pháp luật điều chỉnh mô hình chủ sở hữu tại các nước Châu Âu, Đông Âu, Châu Á; phân tích yêu cầu phân tách chức năng đại diện chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước.
- Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên nghiên cứu cơ sở pháp lý và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước Trung Quốc (SASAC).
- Nguyễn Đình Cung và Bùi Văn Dũng (sách và đề án thành lập cơ quan chuyên trách) phân tích mô hình tập trung, phân tán, hỗn hợp và đề xuất mô hình cơ quan chuyên trách thuộc Chính phủ.
- Phan Thị Hồng Nhung phân tích sự chồng chéo khi cơ quan nhà nước vừa quản lý nhà nước vừa đại diện chủ sở hữu.
- Nguyễn Thị Minh Phương (luận án tiến sĩ "Cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp ở Việt Nam") nghiên cứu cơ chế đại diện và người đại diện vốn.
- Kỷ yếu hội thảo của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ - Thời báo Tài chính Việt Nam (2017) với các tham luận của Nguyễn Viết Lợi, Nguyễn Đình Cung về mô hình Ủy ban Quản lý vốn và thực tiễn Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
- Hội thảo của Ban Kinh tế Trung ương (2017) với các bài viết của Trần Thị Nguyệt Cầm, Nguyễn Thị Tuyết Trinh, Nguyễn Thị Bích Thủy, Võ Tá Tri, Nguyễn Thị Minh Hằng.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước:
- Trâu Đông Đào (báo cáo "Phát triển kinh tế và cải cách thể chế phát triển Trung Quốc - 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc 1978-2008") phân tích mô hình SASAC của Trung Quốc.
- Laksamana Sukardi (báo cáo của Bộ Quản lý Doanh nghiệp Nhà nước Indonesia) phân tích Luật DNNN và việc thành lập Bộ DNNN để quản lý tập trung.
- Zhang Jun (Đại học Fudan) nghiên cứu tính thực nghiệm và thực dụng trong cải cách DNCVNN tại Trung Quốc.
- Gary H. phân tích kinh nghiệm cải cách DNNN tại Trung Quốc, Brazil, Singapore và Hàn Quốc.
- Hướng dẫn quản trị DNNN của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khuyến nghị việc tập trung đầu mối đại diện chủ sở hữu và phân định rõ quyền sở hữu với chức năng quản lý nhà nước.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Chưa có công trình luận án tiến sĩ nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam; làm rõ căn cứ lựa chọn mô hình tổ chức dưới dạng cơ quan hành chính hay doanh nghiệp; đánh giá đầy đủ thực trạng tồn tại của mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng như sự phân tán vốn tại các bộ, ngành, địa phương để đưa ra giải pháp hoàn thiện đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và lý thuyết tiếp cận:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Lý thuyết người đại diện (Principal-Agent Theory, hình thành từ đầu những năm 1970) giải thích mối quan hệ ủy quyền giữa chủ sở hữu nguồn lực và người đại diện, cũng như vấn đề thông tin bất cân xứng và xung đột lợi ích.
- Lý thuyết về tổ chức bộ máy và cơ cấu tổ chức doanh nghiệp: Tiếp cận quan điểm của Bartol và Martin (1994), Mintzberg (2009), Greenberg (2011) về thiết kế cơ cấu tổ chức, phân công lao động quản lý và phân bổ thẩm quyền.
- Tiếp cận hệ thống và khoa học quản lý kinh tế để xác định 3 yếu tố cấu thành mô hình chủ sở hữu nhà nước: Cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, và nguồn lực (nhân lực và vật chất).
Khung phân tích của luận án được thiết lập qua các bước:
- Nghiên cứu lý luận về chủ sở hữu, tổ chức mô hình chủ sở hữu và kinh nghiệm quốc tế;
- Xây dựng khung lý thuyết về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN (phân loại mô hình theo cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tài chính đặc biệt; theo mô hình tập trung, phân tán, hỗn hợp);
- Khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để phân tích, đánh giá thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN ở Việt Nam;
- Rút ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu, giải pháp và lộ trình hoàn thiện mô hình đến năm 2030.
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo tài chính hàng năm về DNCVNN của Bộ Tài chính, số liệu thống kê của các cơ quan Trung ương Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết, kỷ yếu hội thảo và tài liệu chuyên ngành giai đoạn 2012-2020.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (thiết kế tại Phụ lục 2 của luận án) khảo sát 2 nhóm đối tượng gồm cán bộ lãnh đạo tại các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và nhóm chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý chuyên sâu thuộc Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ ngành. Kết hợp điều tra phiếu trực tiếp, gửi thư điện tử và phỏng vấn chuyên gia.
- Phương pháp xử lý và phân tích: Thống kê mô tả, phân loại, tổng hợp dữ liệu theo chuyên đề, phân tích so sánh và khái quát hóa thực tiễn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến DNCVNN và quản lý vốn nhà nước. Tác giả chỉ ra sự thống nhất trong các nghiên cứu về yêu cầu tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu, thu hẹp phạm vi DNCVNN vào các lĩnh vực then chốt, công ích, hạ tầng hoặc những nơi tư nhân không đầu tư. Tuy nhiên, các công trình trước đây còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc lựa chọn hình thức cơ quan đại diện chủ sở hữu (tổ chức hành chính nhà nước hay doanh nghiệp/quỹ đầu tư) và mức độ tập trung của mô hình.
Chương 1 xác định 4 vấn đề luận án tập trung giải quyết:
- Lựa chọn mô hình chủ sở hữu nhà nước theo dạng doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước hay tổ chức đặc biệt, cùng điều kiện áp dụng tương ứng;
- Dự báo quy mô, số lượng và yêu cầu nâng cao quản trị DNCVNN đến năm 2030 tác động đến mô hình chủ sở hữu;
- Phân tách DNCVNN thành nhóm nắm giữ lâu dài và nhóm thoái vốn ngắn hạn để thiết lập phương thức quản lý phù hợp;
- Phân tích các tồn tại, bất cập cụ thể của mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và mô hình phân tán tại các bộ ngành, địa phương ở Việt Nam để đưa ra giải pháp hoàn thiện.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng:
- Khái niệm DNNN theo OECD (doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng), theo CPTPP (doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn, kiểm soát trên 50% quyền biểu quyết hoặc giữ quyền chỉ định đa số ban quản trị). Tại Việt Nam, khái niệm thay đổi qua Luật Doanh nghiệp 2014 (100% vốn điều lệ), Nghị quyết 12-NQ/TW 2017 và Luật Doanh nghiệp 2020 (trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết).
- Tác giả đưa ra định nghĩa: Doanh nghiệp có vốn nhà nước là doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước; Nhà nước tham gia với tư cách cổ đông và thực hiện quyền, trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ vốn nắm giữ. DNCVNN bao gồm DNNN (nắm giữ trên 50% vốn) và doanh nghiệp có vốn nhà nước không chi phối (dưới 50% vốn).
- Phân loại DNCVNN: Theo mục đích hoạt động (doanh nghiệp công cộng và doanh nghiệp thương mại); theo tỷ lệ sở hữu vốn (100% vốn, từ trên 50% đến dưới 100%, và dưới 50% vốn).
Luận án tổng hợp số liệu quốc tế về quy mô DNCVNN: Theo Fortune Global (2014), DNNN chiếm 22,8% số lượng, 23% tài sản, 19,9% lợi nhuận và 30% lao động trong 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tại khối OECD (2012) có 2.111 DNNN với tổng tài sản đạt 2.218,1 tỷ USD, giải quyết việc làm cho hơn 6 triệu lao động.
| Quốc gia |
Số lượng DN |
100% vốn |
>50% vốn |
<50% vốn |
Quy mô đầu tư (% GDP) |
| Pháp |
58 |
50 |
8 |
- |
- |
| Thụy Điển |
60 |
46 |
- |
- |
- |
| Trinidad & Tobago |
54 |
44 |
7 |
3 |
- |
| Indonesia |
146 |
14 |
115 |
17 |
40% |
| Ma-rốc |
725 |
42 |
- |
- |
- |
| Trung Quốc |
115 |
- |
- |
- |
30% |
| Ấn Độ |
- |
- |
- |
- |
25% |
| Thái Lan |
- |
- |
- |
- |
25% |
| Malaysia |
66 |
- |
23 |
43 |
15% |
| Singapore |
35+52 |
5 |
9 |
73 |
15% |
| Nga |
4.823 |
- |
- |
- |
- |
| Chile |
32 |
- |
- |
- |
- |
| Philippines |
158 TƯ / 425 ĐP |
123 |
18 |
17 |
- |
(Nguồn: Luận án tổng hợp từ tài liệu nghiên cứu quốc tế, số liệu giai đoạn 2010-2011)
Tác giả cấu trúc mô hình chủ sở hữu gồm 3 bộ phận: Cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành và nguồn lực (nhân lực, vật chất). Về phân loại, mô hình được chia theo cơ chế tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp/quỹ đầu tư, tổ chức tài chính đặc biệt) và theo mức độ tập trung (tập trung, phân tán, hỗn hợp). Tác giả xác lập 8 yêu cầu quản lý và các tiêu chí định tính, định lượng để đánh giá hiệu quả mô hình.
Về kinh nghiệm quốc tế, chương này phân tích các mô hình đại diện chủ sở hữu tiêu biểu:
- SASAC (Trung Quốc): Cơ quan đặc biệt trực thuộc Quốc vụ viện thực hiện quản lý tài sản nhà nước tập trung tại các tập đoàn then chốt;
- Bộ Doanh nghiệp Nhà nước (Indonesia): Cơ quan cấp bộ thực hiện quyền chủ sở hữu tập trung;
- Khazanah Nasional (Malaysia) và Temasek Holdings (Singapore): Mô hình công ty đầu tư / tập đoàn đầu tư nhà nước hoạt động chuyên nghiệp;
- Cơ quan APE (Pháp), mô hình giám sát tại Canada và mô hình quản lý vốn nhà nước tại các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan).
Chương 3: Thực trạng mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 phân tích quy mô và diễn biến hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam giai đoạn 1995-2020 (dữ liệu thống kê tập trung từ năm 2012 đến năm 2019/2020 qua các chỉ tiêu tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, đóng góp GDP, nộp ngân sách nhà nước, doanh thu, lợi nhuận và nợ phải trả).
Luận án đánh giá quá trình tiến hóa của mô hình chủ sở hữu nhà nước qua 3 dạng thức thực tế:
- Mô hình phân tán tại các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh: Tình trạng các cơ quan hành chính vừa ban hành chính sách quản lý ngành, vừa thực hiện quyền chủ sở hữu dẫn đến xung đột lợi ích, bảo hộ doanh nghiệp trực thuộc và thiếu minh bạch.
- Mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC): Được thành lập để tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa, vận hành theo cơ chế doanh nghiệp đầu tư vốn (kết quả hoạt động giai đoạn 2010-2020 phản ánh trong Bảng 3.2).
- Mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (thành lập tháng 9/2018): Cơ quan thuộc Chính phủ được giao quản lý vốn nhà nước tại 19 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.
Đánh giá tổng quát giai đoạn 1995-2020, luận án chỉ ra các hạn chế lớn:
- Mô hình đại diện chủ sở hữu thực chất vẫn mang tính hỗn hợp và phân tán: 19 tập đoàn, tổng công ty chuyển về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước, nhưng nhiều doanh nghiệp lớn vẫn do các bộ quản lý (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) và địa phương quản lý (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, 63 công ty xổ số).
- Cơ chế vận hành của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn nặng tính hành chính, chậm phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư, lúng túng trong bổ nhiệm nhân sự quản lý.
- Cơ chế phân cấp, ủy quyền chưa rõ ràng; thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp bị hạn chế.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước ở Việt Nam
Chương 4 xác định bối cảnh hội nhập quốc tế (các cam kết CPTPP, EVFTA về cạnh tranh bình đẳng và minh bạch đối với DNNN) và định hướng tái cơ cấu DNCVNN ở Việt Nam đến năm 2030.
Quan điểm hoàn thiện mô hình gồm: Tách bạch triệt để chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn; bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp; quản lý vốn theo nguyên tắc thị trường; tinh gọn bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ đại diện vốn.
Tác giả đề xuất lộ trình hoàn thiện mô hình theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (hoàn thiện mô hình hiện hành): Tiếp tục củng cố mô hình Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan trực thuộc Chính phủ; thực hiện chuyển giao dứt điểm phần vốn nhà nước còn lại tại các bộ, ngành và địa phương về cơ quan chuyên trách; đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền cho Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị doanh nghiệp; tinh gọn thủ tục hành chính nội bộ.
- Giai đoạn 2 (đến năm 2030 - chuyển đổi mô hình): Đề xuất chuyển đổi mô hình cơ quan chủ sở hữu từ dạng cơ quan hành chính sang mô hình định chế tài chính/đầu tư chuyên nghiệp (mô hình Quỹ đầu tư quốc gia hoặc Tập đoàn đầu tư quốc gia - tổ chức tài chính đặc biệt) để thực hiện quản lý, kinh doanh và đầu tư vốn nhà nước hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường, tương tự mô hình Temasek (Singapore) hay Khazanah (Malaysia).
Nhóm giải pháp bổ trợ:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (sửa đổi Luật số 69/2014/QH13);
- Đổi mới cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, đánh giá và đãi ngộ người đại diện phần vốn nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ (KPIs);
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước và công khai, minh bạch thông tin tài chính của DNCVNN.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu 4 điểm đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Bổ sung và làm rõ khái niệm doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN); củng cố khung lý thuyết về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN với 2 dạng hình thức tổ chức (cơ quan hành chính nhà nước và doanh nghiệp/quỹ đầu tư); xác định mô hình gồm 3 yếu tố cấu thành (cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, nguồn lực) cùng các nhân tố ảnh hưởng và hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả.
- Về mặt phân loại và nhận dạng: Thiết lập khung phân tích giúp nhận dạng các mô hình chủ sở hữu nhà nước trong nước và quốc tế; rút ra bài học kinh nghiệm để xây dựng nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá toàn diện vị trí, quy mô, sứ mệnh và mức độ đóng góp của DNCVNN đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995-2020; chỉ ra các điểm hợp lý, hạn chế và nguyên nhân của từng mô hình đại diện chủ sở hữu đã và đang áp dụng.
- Về mặt giải pháp: Đề xuất quan điểm, giải pháp và lộ trình 2 giai đoạn hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước đến năm 2030, bao gồm việc hoàn thiện Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong ngắn hạn và chuyển đổi sang mô hình định chế đầu tư chuyên nghiệp (Quỹ/Tập đoàn đầu tư quốc gia) trong dài hạn, kết hợp xử lý dứt điểm phần vốn nhà nước tại các bộ ngành, địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế của đề tài (dựa trên phạm vi và nội dung văn bản):
- Luận án tập trung phân tích sâu nhóm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối (trên 50% vốn điều lệ), chưa đi sâu phân tích chi tiết cơ chế quản trị đối với nhóm doanh nghiệp có phần vốn nhà nước thiểu số (dưới 50%).
- Chuỗi số liệu thống kê chi tiết về tình hình tài chính DNCVNN phản ánh chủ yếu trong giai đoạn 2012-2020.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả hoạt động thực tế của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong giai đoạn sau năm 2020;
- Nghiên cứu thiết kế chi tiết cơ cấu tổ chức và quy chế vận hành pháp lý cho mô hình Quỹ đầu tư quốc gia / Tập đoàn đầu tư quốc gia khi Việt Nam chuyển sang giai đoạn 2 (đến năm 2030);
- Nghiên cứu cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh và hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Ban Kinh tế Trung ương, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và xây dựng Đề án cơ cấu lại DNCVNN.
- Cơ quan đại diện chủ sở hữu: Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, SCIC, các bộ ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý vốn.
- Khối doanh nghiệp: Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị và người đại diện vốn nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhằm nâng cao năng lực quản trị.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế tham khảo khung phân tích và dữ liệu thực chứng về sở hữu nhà nước.
Nội dung đáng tham khảo nhất gồm hệ thống 8 yêu cầu thiết lập mô hình, khung phân tích kinh nghiệm quốc tế (SASAC Trung Quốc, Temasek Singapore, Khazanah Malaysia) và đề xuất lộ trình 2 giai đoạn chuyển đổi mô hình chủ sở hữu tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt giữa "Doanh nghiệp nhà nước" (DNNN) và "Doanh nghiệp có vốn nhà nước" (DNCVNN) như thế nào?
Theo luận án, DNCVNN là khái niệm rộng hơn, chỉ tất cả doanh nghiệp có vốn nhà nước góp vào (bao gồm 100% vốn, trên 50% vốn và dưới 50% vốn). Nhà nước tham gia với tư cách cổ đông. DNNN là trường hợp DNCVNN mà trong đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (trên 50% vốn điều lệ theo Luật Doanh nghiệp 2020) hoặc giữ quyền chi phối ban quản trị. Doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước và không giữ quyền chi phối thì chỉ là DNCVNN chứ không phải là DNNN.
2. Khung lý thuyết của luận án xác định mô hình chủ sở hữu nhà nước gồm những yếu tố cấu thành nào?
Luận án xác lập mô hình gồm 3 yếu tố cấu thành cơ bản: (1) Cơ cấu tổ chức (được thiết lập dưới dạng cơ quan hành chính nhà nước, doanh nghiệp/quỹ đầu tư, hoặc tổ chức tài chính đặc biệt); (2) Cơ chế vận hành (quy chế phân công, phân cấp, mối quan hệ giữa chủ sở hữu với Hội đồng quản trị và cơ quan quản lý); (3) Nguồn lực thực hiện (nhân lực quản lý, người đại diện vốn và nguồn lực tài chính, vật chất vận hành bộ máy).
3. Thực trạng mô hình đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Việt Nam giai đoạn sau năm 2018 có những tồn tại gì?
Luận án chỉ ra việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (tháng 9/2018) mới chỉ tập trung được 19 tập đoàn, tổng công ty. Vốn nhà nước tại nhiều đơn vị vẫn phân tán tại các bộ (Quốc phòng, Công an, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) và địa phương (Hà Nội, TP.HCM, 63 công ty xổ số). Hoạt động của Ủy ban còn mang tính hành chính, chậm trễ trong phê duyệt kế hoạch, quyết định đầu tư và nhân sự, chưa thực hiện phân cấp triệt để cho doanh nghiệp.
4. Lộ trình hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước đến năm 2030 được tác giả đề xuất gồm các giai đoạn nào?
Tác giả đề xuất 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 tập trung hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban Quản lý vốn), tiếp nhận nốt phần vốn từ các bộ ngành, địa phương và đẩy mạnh phân cấp cho doanh nghiệp; Giai đoạn 2 (đến năm 2030) chuyển đổi mô hình sang dạng định chế đầu tư chuyên nghiệp (mô hình Quỹ đầu tư quốc gia hoặc Tập đoàn đầu tư quốc gia) để quản lý, kinh doanh vốn hoàn toàn theo cơ chế thị trường.
5. Luận án rút ra bài học gì từ mô hình SASAC của Trung Quốc và Bộ DNNN của Indonesia?
Mô hình SASAC (Trung Quốc) cho thấy hiệu quả của việc tập trung một đầu mối cơ quan đặc biệt trực thuộc Chính phủ chuyên trách quản lý tài sản nhà nước tại các tập đoàn lớn, tách khỏi chức năng quản lý hành chính ngành của các bộ. Mô hình Bộ DNNN (Indonesia) cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng Luật DNNN riêng biệt để tạo hành lang pháp lý quản trị công ty và thực hiện cổ phần hóa, tái cơ cấu tập trung.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Trường Giang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình chủ sở hữu nhà nước tại DNCVNN, làm rõ 3 yếu tố cấu thành mô hình và phân tích kinh nghiệm quốc tế từ các mô hình quản lý vốn tiêu biểu. Luận án đã phản ánh thực trạng mô hình đại diện chủ sở hữu tại Việt Nam giai đoạn 1995-2020, chỉ ra tính chất phân tán, sự chồng chéo chức năng và những hạn chế trong cơ chế vận hành của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng như các bộ ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất quan điểm, giải pháp và lộ trình 2 giai đoạn nhằm hoàn thiện mô hình chủ sở hữu nhà nước đến năm 2030, phục vụ quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng vốn nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.