Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9 34 02 01) của tác giả Lê Hoàng Anh, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thạch tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, hoàn thành vào tháng 01 năm 2020. Tên đề tài chính thức là: "Tác động của Chi tiêu công, Quản trị công đến Tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Châu Á".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong bối cảnh các thất bại thị trường (market fiasco), sự can thiệp của chính phủ vào thị trường nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua công cụ chi tiêu công là một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng. Tuy nhiên, tác động thực tế của chi tiêu công vẫn còn nhiều tranh luận trái chiều giữa các trường phái lý thuyết: trường phái của Wagner (1883) xem chi tiêu công là biến nội sinh do tăng trưởng kinh tế kéo theo; trường phái của Keynes (1936) xem chi tiêu công là ngoại sinh kích cầu; mô hình tân cổ điển của Solow (1956) cho rằng chính sách tài khóa không tạo ra thay đổi trong dài hạn; trong khi mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1989, 1990) nhấn mạnh tác động tiêu cực do chèn ép đầu tư tư nhân và chi phí từ thuế. Về mặt thực tiễn tại các quốc gia đang phát triển châu Á, quy mô chi tiêu công gia tăng liên tục từ giữa thập niên 1990 và tăng mạnh trong giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2009, nhưng hiệu quả sử dụng nguồn vốn này ở mức thấp; theo Gupta và cộng sự (2014), mỗi đơn vị chi tiêu công tại các quốc gia đang phát triển chỉ tạo ra một nửa đơn vị giá trị vật chất tương ứng. Nghiên cứu của Zhuang và cộng sự (2010) nhận thấy chi tiêu công tác động khác nhau giữa các quốc gia có cùng điều kiện vĩ mô, xuất phát từ sự khác biệt về đặc thù chính trị và chất lượng thể chế. Mặc dù các yếu tố quản trị công đã được đề cập, nhưng chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện các thành phần cấu thành quản trị công ảnh hưởng đến tác động của chi tiêu công lên tăng trưởng kinh tế, đồng thời các phương pháp đo lường quản trị công trước đây dựa trên bộ chỉ số WGI và ICRG bộc lộ sự chồng chéo giữa các chỉ tiêu (Knoll & Zloczysti, 2012; Langbein & Knack, 2010).
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp. Các mục tiêu cụ thể được xác định như sau:
- Đánh giá tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á.
- Đánh giá tác động của quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á.
- Đánh giá tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á.
- Đưa ra các hàm ý chính sách cải thiện chất lượng quản trị công nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á như thế nào?
- Các nhân tố nào đại diện cho các thành phần của quản trị công tại các quốc gia châu Á?
- Tác động của quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á như thế nào?
- Tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á như thế nào?
- Các hàm ý chính sách nào cải thiện chất lượng quản trị công nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế?
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á, trong đó quản trị công được tiếp cận ở góc độ quản trị hoạt động chi tiêu công.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên mẫu 43 quốc gia châu Á (chiếm 86% trong tổng số 50 quốc gia châu Á theo thống kê của Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB). Theo phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank), mẫu gồm 11 quốc gia thu nhập cao, 30 quốc gia thu nhập trung bình và 2 quốc gia thu nhập thấp.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2004 – 2017, bao gồm giai đoạn trước khủng hoảng (2004 – 2007), giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới (2008 – 2009, căn cứ theo phân kỳ của Filardo, 2011 và Keat, 2009) và giai đoạn sau khủng hoảng (2010 – 2017).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong quá trình điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả đã hệ thống hóa các dòng nghiên cứu theo ba hướng tiếp cận chính:
Thứ nhất, hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã kiểm định các quan điểm của Wagner (1883), Keynes (1936), Solow (1956), Barro (1989, 1990), Devarajan, Swaroop & Zou (1996), Davoodi & Zou (1998). Về mặt thực nghiệm, các công trình của Alexiou (2009), Anh (2008), Gemmell, Kneller & Sanz (2014), Malek (2014), Thon, Hương & Thủy (2010), Yasin (2000), Nurudeen & Usman (2010) ghi nhận những kết quả trái chiều: chi tiêu công có thể mang tác động tích cực, tiêu cực hoặc không tác động, thậm chí Malek (2014) cho thấy khả năng tồn tại tác động phi tuyến theo dạng ngưỡng.
Thứ hai, hướng nghiên cứu về tác động của quản trị công đến tăng trưởng kinh tế. Bắt nguồn từ các tư tưởng của Adam Smith (1755) và Buchanan (1987), vai trò của thể chế được kiểm định thực nghiệm rõ nét qua nghiên cứu tại châu Phi của Ndulu & O’Connell (1999) và các luận giải của Dethier (1999). Các tác giả xem xét các khía cạnh đơn lẻ của quản trị công như tham nhũng (Glaeser & Saks, 2004; Xu, Li & Zou, 2000; Mauro, 1995; Davoodi & Tanzi, 1997; d’Agostino và cộng sự, 2016), bất ổn chính trị (Brunetti, 1997; Alesina và cộng sự, 1996; Chen & Feng, 1996; Jong-A-Pin, 2009), chất lượng quy định và hiệu lực pháp luật (Guasch & Hahn, 1999; Bishop & Thompson, 1992; Feld & Voigt, 2003; Knack & Keefer, 2006). Siddiqui & Ahmed (2013) tổng hợp và nhận định cách thức đo lường chất lượng quản trị công trong các nghiên cứu trước đây chưa thực sự thống nhất.
Thứ ba, hướng nghiên cứu về vai trò của quản trị công đối với mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Dưới góc độ lý thuyết lựa chọn công và kinh tế chính trị, Dethier (1999) và Larcinese và cộng sự (2019) giải thích sự can thiệp của chính phủ qua ba giả thuyết về phân phối nguồn lực công: giả thuyết "cử tri dễ lung lay" (swing-voter), giả thuyết "đấu trường bầu cử" (electoral battleground) (Lizzeri & Persico, 2001; Persson & Tabellini, 2004), và giả thuyết "ủng hộ đảng phái" (partisan supporters). Dưới góc độ lý thuyết kinh tế học thể chế mới (North & Thomas, 1973; Ménard & Shirley, 2005; Weingast, 1993; Totikidis, Armstrong & Francis, 2005; Acemoglu & Robinson, 2010; Dzhumashev, 2014; Morrissey & Udomkerdmongkol, 2012), thể chế và quản trị công tạo ra khuôn khổ luật lệ, bảo vệ quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và định hướng các nguồn lực tài chính công vào khu vực sản xuất.
Về phương pháp luận đo lường quản trị công, các nghiên cứu của Knoll & Zloczysti (2012) và Langbein & Knack (2010) phát hiện sự chồng chéo và tương quan cao giữa 6 chỉ số thành phần thuộc bộ chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và Chỉ số Đánh giá Rủi ro Quốc gia (International Country Risk Guide - ICRG). Một số nghiên cứu (Al-Marhubi, 2004; Bjørnskov, 2006; Easterly & Levine, 2002) chọn giải pháp tính trung bình giản đơn cả 6 chỉ số, nhưng theo Siddiqui & Ahmed (2013), cách thức này làm mất đi tính đại diện và không phản ánh chính xác bản chất đa chiều của quản trị công.
Từ tổng quan tài liệu, luận án xác định ba khoảng trống nghiên cứu chính:
- Thiếu vắng các công trình đánh giá toàn diện tác động tương tác của quản trị công lên mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế trong phạm vi các quốc gia châu Á.
- Phương pháp đo lường quản trị công còn gặp bất cập về sự chồng chéo dữ liệu giữa các biến thành phần của WGI và ICRG chưa được xử lý bằng kỹ thuật thống kê thích hợp để trích xuất các nhân tố đại diện độc lập.
- Cần một phương pháp ước lượng dữ liệu bảng động kiểm soát được đồng thời các khuyết tật mô hình (nội sinh, phương sai thay đổi, tự tương quan) và được kiểm định tính vững hệ số bằng kỹ thuật kinh tế lượng Bayes (Bayesian Model Averaging - BMA).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên các khái niệm và mô hình kinh tế lượng nền tảng:
- Khái niệm chi tiêu công: Theo Minh (2005) và Shah và cộng sự (2005), chi tiêu công là các khoản chi của nhà nước để cung cấp hàng hóa công, ổn định kinh tế vĩ mô và phân bổ nguồn lực, mang đặc trưng không hoàn trả trực tiếp. Phân loại thực nghiệm tập trung vào: chi tiêu công cho giáo dục, y tế, quốc phòng và chi tiêu dùng chính phủ (Anh, 2008; Efendic & Trkic-Izmirlija, 2013).
- Khái niệm quản trị công: Được định nghĩa qua thẩm quyền quản lý tài nguyên (Schneider, 1999), trách nhiệm giải trình và tính minh bạch (USAID, 2002; Zinnbauer, 2002), thực thi quyền lực điều hành (World Bank, 1992; African Development Bank / Paul Kagundu, 2006; Jreisat, 2002; Keefer, 2004). Đo lường qua 6 nhóm chỉ tiêu của WGI và ICRG: Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability), Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political Stability and Absence of Violence), Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness), Chất lượng các quy định (Regulatory Quality), Nhà nước pháp quyền (Rule of Law), Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption).
- Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Theo Samuelson & Nordhaus (1985), là sự dịch chuyển ra ngoài của đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF), phản ánh sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc thu nhập bình quân đầu người.
- Các mô hình toán lý thuyết:
- Mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990): $Y = A \cdot L^{1-\alpha} \cdot K^\alpha \cdot G^{1-\alpha}$, với thuế suất cố định $\tau$ tài trợ cho chi tiêu chính phủ $G$, dẫn xuất phương trình tăng trưởng: $y' = \alpha [s(1-\tau)(\tau A L)^{(1-\alpha)/\alpha} + \delta]$, cho thấy thuế suất cao sẽ kéo giảm tích lũy tư bản và tốc độ tăng trưởng.
- Mô hình Devarajan, Swaroop & Zou (1996): Mở rộng mô hình Barro với hai thành phần chi tiêu công $g_1$ và $g_2$: $y = f(k, g_1, g_2) = [\alpha k^{-\delta} + \beta g_1^{-\delta} + \gamma g_2^{-\delta}]^{-1/\delta}$.
- Mô hình Davoodi & Zou (1998): Phân cấp tài khóa 3 cấp chính quyền (trung ương, bang, địa phương) tác động đến tăng trưởng mà không nhất thiết phải tăng quy mô chi tiêu/GDP.
- Khung phân tích nghiên cứu: Luận án kế thừa và phát triển khung phân tích của Brahmbhatt & Canuto (2012) về "Chính sách tài khóa và các mục tiêu phát triển kinh tế: vai trò ràng buộc thể chế - chính trị và ràng buộc ngân sách". Ba nguyên nhân can thiệp bằng chính sách tài khóa là: ổn định vĩ mô, giải quyết thất bại thị trường và phân phối nguồn lực, nhằm hướng tới ba mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và quản lý rủi ro. Hiệu quả của chính sách chi tiêu công chịu hai nhóm ràng buộc trọng yếu: ràng buộc ngân sách (chi phí thu thuế và nợ công) và ràng buộc về thể chế - chính trị (chất lượng quản trị công).
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp định tính: Sử dụng phân tích nội dung tài liệu (content analysis), phương pháp quy nạp, suy diễn, phân tích - tổng hợp để lập luận logic và hệ thống hóa khung lý thuyết.
- Phương pháp định lượng:
- Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA): Áp dụng kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, kiểm định tính thích hợp của mẫu bằng chỉ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) và kiểm định Bartlett, trích xuất phương sai và ma trận xoay nhân tố trên hai bộ chỉ số WGI và ICRG nhằm hình thành các biến đại diện độc lập cho chất lượng quản trị công.
- Kỹ thuật ước lượng hồi quy: Sử dụng phương pháp Moment tổng quát sai phân (Difference Generalized Method of Moments - DGMM) của Arellano & Bond (1991) cho dữ liệu bảng động tuyến tính, được kế thừa từ mô hình của Alexiou (2009), Cooray (2009) và Siddiqui & Ahmed (2013). Phương pháp DGMM xử lý được các vấn đề nội sinh của biến độc lập, hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong chuỗi thời gian kinh tế vĩ mô.
- Kiểm định phi tuyến và kiểm định khủng hoảng: Đưa vào mô hình biến bậc hai của chi tiêu công và biến tương tác giữa chi tiêu công với biến giả khủng hoảng kinh tế (2008 – 2009).
- Kiểm định tính vững của mô hình: Sử dụng phương pháp Trung bình hóa mô hình Bayes (Bayesian Model Averaging - BMA) để đánh giá độ bền vững và sự hội tụ về dấu của các hệ số hồi quy khi thay đổi số lượng các biến giải thích trong không gian mô hình.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:
Dữ liệu bảng được thu thập tại 43 quốc gia châu Á trong 14 năm (2004 – 2017) từ các cơ sở dữ liệu quốc tế: World Development Indicators (WDI) của World Bank, World Economic Outlook (WEO) của IMF, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Worldwide Governance Indicators (WGI) của World Bank, và International Country Risk Guide (ICRG) của PRS Group.
| Tên biến trong mô hình |
Ký hiệu / Thang đo |
Nguồn trích xuất dữ liệu |
| Tăng trưởng kinh tế |
Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế hàng năm |
WDI (World Bank) / WEO (IMF) |
| Chi tiêu công |
Tỷ lệ tổng chi tiêu công trên GDP |
WDI (World Bank) / ADB |
| Quản trị công toàn cầu |
6 nhóm chỉ tiêu WGI (Voice, PV, GE, RQ, RL, CC) |
World Bank (WGI) |
| Rủi ro quốc gia |
6 nhóm chỉ tiêu ICRG tương ứng thể chế |
PRS Group (ICRG) |
| Nhân tố quản trị trích xuất |
Các nhân tố EFA: ICRG, WGI, PV |
Tác giả tính toán từ EFA |
| Biến giả khủng hoảng |
Biến nhận giá trị 1 cho năm 2008 – 2009, 0 cho năm khác |
Căn cứ Filardo (2011), Keat (2009) |
| Đầu tư tư nhân |
Tỷ lệ vốn đầu tư tư nhân trên GDP |
WDI (World Bank) |
| Lực lượng lao động |
Tỷ lệ lực lượng lao động trong tổng dân số |
WDI (World Bank) |
| Lạm phát |
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) |
WDI (World Bank) / IMF |
| Độ mở thương mại |
Tỷ lệ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP |
WDI (World Bank) |
| Thu nhập kỳ trước |
GDP bình quân đầu người trễ 1 năm |
WDI (World Bank) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 1 thiết lập nền tảng của đề tài thông qua việc làm rõ bối cảnh nghiên cứu về chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế, đồng thời đặt vấn đề về vai trò điều tiết của quản trị công. Tác giả xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xây dựng hệ thống 5 câu hỏi nghiên cứu tương ứng, xác định đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ tác động giữa chi tiêu công, quản trị công và tăng trưởng kinh tế. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ trên mẫu 43 quốc gia châu Á trong giai đoạn 2004 – 2017. Chương này cũng phác thảo sơ bộ các đóng góp mới của đề tài về mặt học thuật và thực tiễn, cùng kết cấu 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế
Chương 2 trình bày có hệ thống các khái niệm cốt lõi: chi tiêu công, quản trị công và tăng trưởng kinh tế. Tác giả phân tích chuyên sâu các mô hình lý thuyết về chi tiêu công từ quy luật Wagner (1883), lý thuyết Keynes (1936), mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (1990), mô hình cấu phần chi tiêu của Devarajan và cộng sự (1996) đến mô hình phân cấp tài khóa của Davoodi & Zou (1998). Tiếp đó, chương 2 xây dựng nền tảng lý thuyết về tác động của quản trị công dựa trên quan điểm kinh tế học tân cổ điển, kinh tế học thể chế mới (North & Thomas, 1973; Acemoglu & Robinson, 2010), lý thuyết lựa chọn công và lý thuyết kinh tế chính trị với ba giả thuyết phân phối ngân sách của Larcinese và cộng sự (2019). Tác giả thiết lập khung phân tích toàn diện kế thừa từ Brahmbhatt & Canuto (2012) làm căn cứ kết nối chi tiêu công, quản trị công và tăng trưởng kinh tế trong mối ràng buộc về ngân sách và thể chế chính trị. Chương kết thúc bằng việc điểm luận chi tiết các công trình thực nghiệm liên quan và làm rõ khoảng trống nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế
Chương 3 xây dựng thiết kế nghiên cứu hoàn chỉnh, chi tiết hóa quy trình kiểm định kinh tế lượng. Tác giả phát triển mô hình định lượng kế thừa từ Alexiou (2009), Cooray (2009) và Siddiqui & Ahmed (2013). Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) được thiết kế chi tiết nhằm xử lý dữ liệu từ hai bộ chỉ số WGI và ICRG. Quy trình ước lượng mô hình dữ liệu bảng động tuyến tính bằng phương pháp DGMM của Arellano & Bond (1991) được thiết lập nhằm giải quyết khuyết tật nội sinh, tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp kiểm định tính vững của các hệ số hồi quy thông qua phân tích Bayesian Model Averaging (BMA). Cuối cùng, chương 3 trình bày các bước thu thập, xử lý và làm sạch dữ liệu của 43 quốc gia châu Á trong giai đoạn 2004 – 2017.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á
Chương 4 công bố toàn bộ các phát hiện định lượng thực nghiệm qua các bước:
- Thống kê mô tả và phân tích tương quan: Thống kê mô tả các biến, ma trận tương quan, kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (VIF), kiểm tra tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
- Kết quả phân tích EFA: Kiểm định Cronbach’s Alpha xác nhận độ tin cậy thang đo của WGI và ICRG; kiểm định KMO và Bartlett đạt yêu cầu thống kê; tổng phương sai giải thích và ma trận xoay nhân tố cho phép trích xuất thành công các nhân tố đại diện độc lập cho chất lượng quản trị công gồm biến ICRG, biến WGI và biến PV (Ổn định chính trị và không có bạo lực).
- Kết quả ước lượng tác động của chi tiêu công bằng phương pháp DGMM: Kết quả hồi quy chỉ ra việc gia tăng chi tiêu công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á (phù hợp với Barro, 1990 và Nurudeen & Usman, 2010). Tác giả kiểm định và xác nhận không tìm thấy bằng chứng về tác động phi tuyến của chi tiêu công. Trong điều kiện khủng hoảng tài chính (2008 – 2009), việc gia tăng chi tiêu công gây tác động tiêu cực mạnh hơn đến tăng trưởng kinh tế. Các biến kiểm soát gồm GDP bình quân đầu người kỳ trước, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ vốn đầu tư tư nhân trên GDP, tỷ lệ lực lượng lao động và độ mở thương mại đều có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê.
- Kết quả ước lượng tác động của quản trị công: Chất lượng quản trị công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á. Trong đó, tiêu chí Ổn định chính trị và không có bạo lực (PV) thể hiện tác động thúc đẩy tăng trưởng vượt trội và là nền tảng chi phối các chỉ số quản trị còn lại.
- Kết quả tác động tương tác giữa quản trị công và chi tiêu công: Khi đưa biến tương tác vào mô hình DGMM, kết quả chỉ ra rằng trong điều kiện quản trị công tốt, việc gia tăng chi tiêu công tạo ra tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này hội tụ và thống nhất đối với cả ba biến đại diện quản trị công (ICRG, WGI, PV).
- Kết quả kiểm định tính vững qua BMA: Phân tích Bayesian Model Averaging trên nhiều cấu trúc mô hình với số lượng biến độc lập thay đổi đều khẳng định sự hội tụ về dấu và độ tin cậy của các hệ số hồi quy chính.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các kết luận chính rút ra từ kết quả thực nghiệm ở Chương 4 và đưa ra hai nhóm hàm ý chính sách trọng tâm: (1) Cải thiện chất lượng quản trị công tổng thể nhằm tạo môi trường vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là củng cố ổn định chính trị, kiểm soát bạo lực và nâng cao trách nhiệm giải trình; (2) Nâng cao chất lượng quản trị công đối với hoạt động chi tiêu công nhằm giám sát, phân bổ và sử dụng ngân sách hiệu quả, triệt tiêu tác động tiêu cực của việc mở rộng tài khóa. Chương 5 cũng thẳng thắn chỉ ra các hạn chế của đề tài và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận, phương pháp và thực tiễn như sau:
Về mặt lý thuyết:
- Luận án cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm củng cố cho mô hình của Barro (1990) và các nhận định của Nurudeen & Usman (2010) khi khẳng định tại các quốc gia châu Á, chi tiêu công đơn thuần có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và không tồn tại tác động phi tuyến dạng ngưỡng.
- Đóng góp quan trọng của luận án là bổ sung bằng chứng thực nghiệm củng cố lý thuyết lựa chọn công, lý thuyết kinh tế chính trị và lý thuyết kinh tế học thể chế mới (North & Thomas, 1973; Acemoglu & Robinson, 2010; Brahmbhatt & Canuto, 2012) khi chứng minh rằng quản trị công đóng vai trò điều tiết bản chất mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế: trong điều kiện quản trị công tốt, chi tiêu công sẽ chuyển hóa tác động từ tiêu cực sang thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Khẳng định vai trò nền tảng của yếu tố ổn định chính trị và không có bạo lực (PV) như điều kiện tiên quyết hỗ trợ các thành phần kinh tế hoạt động hiệu quả và nâng cao chất lượng các khía cạnh quản trị khác.
Về mặt phương pháp nghiên cứu:
- Khắc phục hạn chế chồng chéo giữa các chỉ tiêu cấu thành của hai bộ chỉ số WGI và ICRG (vốn được chỉ ra bởi Knoll & Zloczysti, 2012; Langbein & Knack, 2010) bằng cách ứng dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để nhóm các chỉ tiêu cùng bản chất thành các nhân tố đại diện tách biệt, thay thế cho giải pháp tính trung bình giản đơn thiếu cơ sở.
- Sử dụng phương pháp DGMM (Arellano & Bond, 1991) để kiểm soát triệt để hiện tượng nội sinh, tự tương quan và phương sai thay đổi trong mô hình dữ liệu bảng động vĩ mô.
- Ứng dụng phân tích Bayesian Model Averaging (BMA) để kiểm định tính vững của mô hình, đảm bảo tính ổn định và sự hội tụ về dấu của các hệ số hồi quy trước các thay đổi về tập hợp biến giải thích.
Về mặt thực tiễn và hàm ý chính sách:
- Cung cấp cơ sở thực chứng cảnh báo các nhà hoạch định chính sách châu Á không nên chỉ thuần túy mở rộng quy mô chi tiêu công để kích cầu kinh tế, bởi việc tài trợ chi tiêu bằng thuế và vay nợ trong bối cảnh quản trị yếu kém sẽ kìm hãm tăng trưởng, đặc biệt khi xảy ra khủng hoảng tài chính.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản trị công trong điều hành ngân sách: tăng cường tính minh bạch, hoàn thiện khung pháp lý giám sát đầu tư công, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý và đẩy mạnh kiểm soát tham nhũng trong chu trình chi tiêu công.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án nêu rõ các điểm sau:
- Về phạm vi mẫu nghiên cứu: Mặc dù đã bao quát 43 quốc gia chiếm 86% số lượng các nước châu Á, nghiên cứu vẫn phải loại trừ 7 quốc gia châu Á khỏi mẫu phân tích do thiếu hụt chuỗi dữ liệu quan sát liên tục cho các biến số trong giai đoạn 2004 – 2017.
- Về phạm vi phân tích thành phần chi tiêu công: Do tính sẵn có và mức độ đồng bộ của số liệu thống kê giữa các quốc gia châu Á còn nhiều rào cản, luận án chưa thể đi sâu bóc tách toàn diện tất cả các tiểu mục chi tiêu công chi tiết ngoài các khoản mục chính (giáo dục, y tế, quốc phòng, chi tiêu dùng chính phủ).
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản định hướng:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các quốc gia còn lại khi hệ thống dữ liệu thống kê quốc gia được hoàn thiện và cập nhật đầy đủ hơn.
- Phân tích chuyên sâu tác động tương tác của từng cấu phần chi tiêu công cụ thể đối với từng khía cạnh quản trị công chi tiết hơn khi dữ liệu vi mô và chuỗi thời gian cho phép.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế học, Tài chính – Ngân hàng, Quản lý công: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về cách tích hợp khung phân tích lý thuyết thể chế vào mô hình tài chính công thực nghiệm; cung cấp quy trình mẫu về việc kết hợp kỹ thuật EFA để xử lý dữ liệu chỉ số quản trị phức tạp, kỹ thuật ước lượng DGMM cho dữ liệu bảng động và kỹ thuật Bayes BMA để kiểm định tính vững của mô hình kinh tế lượng.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại các quốc gia đang phát triển: Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực nghiệm rõ ràng để xem xét lại các gói kích thích tài khóa; khẳng định việc nâng cao hiệu lực thể chế, giữ vững ổn định chính trị và kiểm soát tham nhũng phải đi trước hoặc tiến hành song hành với việc phân bổ ngân sách chi tiêu công nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
-
Tác động của chi tiêu công tổng thể đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á được luận án kết luận như thế nào?
Trả lời: Kết quả ước lượng mô hình DGMM cho thấy chi tiêu công tổng thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại 43 quốc gia châu Á trong giai đoạn 2004 – 2017. Nguyên nhân được giải thích là do việc tăng chi tiêu công đòi hỏi tăng thuế hoặc tăng vay nợ nước ngoài để tài trợ, kết hợp với quản trị công yếu kém làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, qua đó kìm hãm tăng trưởng kinh tế.
-
Luận án có tìm thấy tác động phi tuyến của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế hay không?
Trả lời: Không. Khi đưa biến bậc hai của chi tiêu công vào mô hình ước lượng để kiểm tra giả thuyết tác động phi tuyến (ngưỡng chi tiêu công), kết quả thực nghiệm cho thấy chi tiêu công không có tác động phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á trong giai đoạn nghiên cứu.
-
Khủng hoảng tài chính thế giới giai đoạn 2008 – 2009 ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế?
Trả lời: Kết quả ước lượng chỉ ra ảnh hưởng tiêu cực rõ nét của khủng hoảng tài chính đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á. Đặc biệt, trong điều kiện khủng hoảng tài chính, việc gia tăng chi tiêu công lại gây ra các tác động tiêu cực mạnh hơn đối với nền kinh tế so với điều kiện bình thường.
-
Quản trị công đóng vai trò gì đối với mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế?
Trả lời: Quản trị công đóng vai trò điều tiết mang tính quyết định. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong điều kiện chất lượng quản trị công tốt, việc gia tăng chi tiêu công sẽ chuyển sang tạo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này duy trì sự thống nhất và ổn định trên cả ba biến đại diện quản trị công là ICRG, WGI và biến PV (Ổn định chính trị và không có bạo lực).
-
Tại sao tác giả phải sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với các bộ chỉ số WGI và ICRG?
Trả lời: Do hai bộ chỉ số WGI và ICRG có hiện tượng chồng chéo cao giữa 6 nhóm chỉ tiêu thành phần và một số chỉ tiêu khó tách biệt nhau (cùng đo lường một khái niệm). Phương pháp EFA được sử dụng nhằm gom các chỉ tiêu tương đồng lại với nhau để hình thành các nhân tố đại diện mới hoàn toàn tách biệt, từ đó khắc phục triệt để hiện tượng trùng lắp dữ liệu trước khi đưa vào hồi quy.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hoàng Anh đã làm rõ tác động của chi tiêu công và quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại 43 quốc gia châu Á trong giai đoạn 2004 – 2017 thông qua phương pháp ước lượng DGMM kết hợp kiểm định tính vững Bayes BMA. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc gia tăng chi tiêu công đơn thuần mang lại tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, nhưng chất lượng quản trị công tốt sẽ đảo chiều mối quan hệ này thành tác động tích cực, trong đó ổn định chính trị đóng vai trò là trụ cột nền tảng. Luận án đã giải quyết thành công những bất cập về sự chồng chéo của các chỉ số đo lường quản trị WGI và ICRG bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng để các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa việc phân bổ và giám sát chi tiêu công gắn liền với cải cách thể chế.