CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI ĐẾN XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 1. Các nghiên cứu về tác động của hiệp định thương mại đến xuất khẩu gạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 1. Các nghiên cứu về lợi ích của xuất khẩu và yếu tố tác động đến xuất khẩu Về lợi ích của xuất khẩu, lý thuyết thương mại đã được nghiên cứu từ lâu và là một trong những luận cứ quan trọng để phân tích các tác động đến hoạt động thương mại trong đó xuất khẩu là hoạt động cơ bản. Bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên giữa các nước nhưng bản thân mỗi nước lại khan hiếm hoặc không đầy đủ các nguồn lực cần thiết, hàng loạt các lý thuyết thương mại đã ra đời và liên tục biến đổi, phát triển cho phù hợp với thực tiễn.
Theo những cách giải thích khác nhau, các lý thuyết thương mại đã chỉ rõ cơ chế và lý do mà thương mại tạo ra lợi ích cho các quốc gia (Đỗ Đức Bình và Ngô Thị Tuyết Mai, 2013). Thứ nhất, lý do của thương mại trong lý thuyết lợi thế của mỗi quốc gia chính là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và các yếu tố sản xuất trong đó có cơ chế chính sách và môi trường kinh tế vĩ mô. Thứ hai, ngoài những lợi thế sẵn có về điều kiện tự nhiên, các quốc gia còn có lợi thế kinh tế nhờ quy mô, với sự tập trung sản xuất lớn, giảm chi phí trung gian không cần thiết và lợi thế kinh tế nhờ quy mô rất quan trọng trong điều kiện thị trường nội địa nhỏ bé vì việc tập trung sản xuất quy mô nhỏ để phục vụ thị trường nội địa, mở rộng thị trường xuất khẩu biến lợi thế kinh tế tĩnh thành lợi thế động to lớn trong quan hệ thương mại. Thứ ba, xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu và tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu là một chiến lược phát triển tốt để thay thế nhập khẩu, xuất khẩu giúp phân bổ hiệu quả hơn nguồn lực thông qua việc thay đổi các yếu tố sản xuất, làm tăng khả năng sản xuất và cho phép khai thác quy mô nền kinh tế, làm tăng sự khuếch tán kiến thức thông qua tác động qua lại với những người mua nước ngoài và học hỏi kinh nghiệm.
Về các yếu tố tác động đến xuất khẩu, các nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau trong đó có Việt Nam đều chỉ ra rằng tác động đến xuất khẩu được phân chia ra các yếu tố ảnh hưởng đến cung, cầu xuất khẩu và các yếu tố mang tính hấp dẫn hoặc cản trở xuất khẩu, trong đó năng lực sản xuất của nước xuất khẩu tác động đến cung xuất khẩu, sức mua của thị trường ảnh hưởng đến cầu xuất khẩu và yếu tố hấp dẫn hoặc cản trở xuất khẩu là khoảng cách giữa các nước và các chính sách xuất khẩu (Carrere, 11 2006; Inmaculada và Felicitas, 2003; Sandberg, 2004; Do Tri Thai, 2006; Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng, 2008; Dao Ngoc Tien, 2009; Bikker, 2009). - Đánh giá các yếu tố tác động đến cung, cầu xuất khẩu: Sandberg (2004) với bối cảnh nghiên cứu các hiệp định thương mại châu Mỹ (FTAA) và Carrere (2006) đánh giá xuất khẩu cùng quá trình biến đổi của các yếu tố tác động đến xuất khẩu của một số hiệp định thương mại khu vực đã cho rằng GDP và dân số có ảnh hưởng tích cực và mô hình thương mại của những nền kinh tế nhỏ hơn bị ảnh hưởng tiêu cực ở phạm vi lớn hơn bởi các mối liên kết hơn là mô hình thương mại của các đối tác lớn hơn. Kwentua (2006) khi nghiên cứu những ảnh hưởng sự hình thành và chuyển hướng thương mại của những hiệp định khu vực cũng cho thấy các nước phát triển những mối quan hệ thương mại quốc tế nhiều hơn với những nước có GDP lớn hơn. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Inmaculada và Felicitas (2003) khi đánh giá thương mại của 20 nước trong khu vực tự do mậu dịch và 15 nước trong Liên minh châu Âu với những tiềm năng thương mại và các hiệp định đạt được giữa các khối thương mại và nghiên cứu Bikker (2009) với số liệu dòng thương mại năm 2005 đánh giá dòng thương mại giữa 178 nước thì dân số lại ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu.
Trong trường hợp của Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy mối quan hệ tích cực của xuất khẩu với các yếu tố trên (Do Thai Tri, 2006; Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng, 2008; Dao Ngoc Tien, 2009). Tuy nhiên, những nghiên cứu trong hay ngoài nước trên chỉ cho thấy những tác động về quy mô nói chung (xem xét đồng thời tác động của GDP hoặc dân số của các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu) chứ không phản ánh những ảnh hưởng riêng lẻ (của từng biến). Theo hướng này, còn có nghiên cứu của Nguyen Khanh Doanh và Yoon Heo (2009) về Việt Nam và Singapo trong khu vực ASEAN và các yếu tố cũng mang lại tác động tích cực. Những nhóm sản phẩm khác nhau có cầu và cung khác nhau, vì vậy, xuất khẩu những sản phẩm khác nhau được cho rằng bị ảnh hưởng theo các phương thức trái ngược nhau.
Nghiên cứu của Sandberg (2004) với nhóm sản phẩm thực phẩm và chế tác và của Nguyễn Thanh Thủy và Arcand, J. (2009) với ba nhóm: hàng hóa thuần nhất, hàng hóa giá tham chiếu, và hàng hóa không đồng nhất đã nghiên cứu dựa trên giả định trên và kết quả đều cho thấy những tác động của thu nhập và dân số lên giá trị xuất khẩu của nhóm hàng hóa thiết yếu sẽ ít hơn xuất khẩu của những nhóm hàng hóa khác. - Đánh giá các yếu tố tác động đến tính hấp dẫn hoặc cản trở thương mại: các biến hấp dẫn thương mại và hạn chế thương mại bao gồm nhóm các biến khoảng cách như khoảng cách địa lý, khoảng cách kinh tế - xã hội và nhóm các biến chính sách như những chính sách khuyến khích và quản lý thương mại như thuế quan, hiệp định 12 thương mại song phương (BTA), thương mại khu vực (FTA), chính sách công nghiệp, nông nghiệp,. với những đặc điểm riêng biệt của từng nhóm.
Các nghiên cứu hầu như cho thấy khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực đến xuất khẩu như trong nghiên cứu của, Carrere (2006), Dao Ngoc Tien (2009), Nguyen Khanh Doanh và Yoon Heo (2009). Những đặc điểm khác nhau về khoảng cách kinh tế có thể mang lại tác động tích cực và tiêu cực đến giá trị thương mại của 2 nước dựa trên các đặc điểm khách nhau đối với từng trường hợp riêng biệt. Theo học thuyết H – O, tác động tích cực của biến khoảng cách kinh tế được phản ánh qua nghiên cứu của Egger (2000), Gilbert và cộng sự (2000) và tác động tiêu cực phù hợp với các học thuyết thương mại mới phán ánh qua nghiên cứu của Inmaculada và Felicitas (2003) Các nhóm yếu tố thuộc về các chính sách quản lý và khuyến khích thương mại như thuế, tỷ giá hối đoái, thương mại song phương và khu vực cũng tác động đến giá trị xuất khẩu ở tất cả các nhóm sản phẩm. Hầu hết các nghiên cứu đồng ý rằng sự mất giá đồng tiền nội tệ sẽ thúc đẩy xuất khẩu các nước (Do Thai Tri, 2006; Nguyễn Thị Quy và cộng sự, 2008; Inmaculada và Felicitas, 2003), thuế có ảnh hưởng tiêu cực lên xuất khẩu (Dao Ngoc Tien, 2009), trong khi đó các biến thể hiện sự tham gia vào các hiệp định lại không rõ ràng.
Carrere (2006) cho rằng việc gia nhập NAFTA, ASEAN, CACM là nguyên nhân gây ra ảnh hưởng tiêu cực nhưng khi tham gia ASEAN (Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng, 2008) và gia nhập MECORSUR (Carrere, 2006) lại mang lại tác động tích cực đến giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên những nghiên cứu này đã không cân nhắc đến những tác động khác nhau của các yếu tố lên những nhóm sản phẩm khác nhau. Có thể tóm lược các yếu tố tác động đến xuất khẩu được đánh giá qua các nghiên cứu đã được công bố như sau: 13 Bảng 1. Tóm tắt các yếu tố tác động đến xuất khẩu Yếu tố Xu thế tác Nghiên cứu công bố tác động động Nhóm yếu tố liên quan đến cung, cầu xuất khẩu GDP Tích cực Do Tri Thai (2006), Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008), Dao Ngoc Tien (2009), Bikker (2009), Nguyễn Thanh Thủy và Arcand, J.
Dân số Tích cực và Sandberg (2004), Carrere (2006), Inmaculada và Felicitas (2003), tiêu cực Sandberg (2004), Do Tri Thai (2006), Dao Ngoc Tien (2009), Bikker (2009), Nguyen Khanh Doanh và Yoon Heo (2009), Do Ba Khai (2014). Nhóm yếu tố khoảng cách địa lý và kinh tế Khoảng cách Tiêu cực Carrere (2006), Kwentua (2006), Dao Ngoc Tien (2009), Dao Ngoc Tien địa lý (2009), Nguyen Khanh Doanh và Yoon Heo (2009), Nguyen Anh Thu và cộng sự (2015) Khoảng cách Tích cực Egger (2000), Gilbert và cộng sự (2000). kinh tế Tiêu cực Inmaculada và Felicitas (2003). Nhóm yếu tố hấp dẫn/hạn chế xuất khẩu Thuế Tiêu cực Dao Ngoc Tien (2009).
Tỷ giá hối đoái Tích cực Do Tri Thai (2006), Nguyễn Thị Quy và cộng sự, 2008; Inmaculada và (giá đồng nội tệ Felicitas (2003). so với ngoại tệ) Hiệp định Tích cực Carrere (2006), Nguyen Anh Thu và cộng sự (2015), Do Ba Khai (2014). thương mại Tiêu cực Carrere (2006), Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008), Nguyen Anh Thu và cộng sự (2015). Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ những các nghiên cứu Các nghiên cứu trên cho thấy các hiệp định thương mại là một trong những yếu tố tác động đến xuất khẩu, có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực hoặc cả hai nhưng là yếu tố rất quan trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp mà còn có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các chính sách đến hoạt động xuất khẩu.
Các nghiên cứu về tác động của các hiệp định thương mại đến xuất khẩu Hợp tác và hội nhập là hai thuật ngữ khác nhau cả về mặt lượng và mặt chất trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là một dạng thức được biểu hiện dưới nhiều hình thức hội nhập khác nhau, đó là thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), khu vực mậu dịch tự do (FTA), liên minh thuế quan (CU), thị trường chung (CM) và liên minh kinh tế (EU) (Kennan và Riezman (1990), Syropoulos (1999)). Cụ thể, thỏa thuận thương mại ưu đãi là hình thức liên kết giữa các nước nhằm dành cho nhau hàng rào thương mại thấp hơn so với các quốc gia không phải thành viên. Trong khu vực mậu dịch tự do, thuế quan giữa các quốc gia được loại bỏ nhưng trong mỗi quốc gia lại duy trì thuế quan 14 đối với các quốc gia không thành viên.