CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chính sách thuế thu nhập nói chung và thuế TNDN, thuế TNCN nói riêng trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập và toàn cầu hóa luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, các nhà quản lý và các tầng lớp dân cư, DN. Xét trên góc độ các nhà quản lý, hoạch định chính sách nhìn nhận việc hoàn thiện chính sách thuế TN nhằm tạo thuận lợi và bảo vệ lợi ích quốc gia trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, tạo môi trường sản xuất - kinh doanh thuận lợi để thúc đẩy phát triển sản xuất; tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích thu hút đầu tư đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tăng thu NSNN. Còn đối với các DN, cá nhân nhìn nhận sự tác động của chính sách thuế TN đến hoạt động sản xuất - kinh doanh hoặc tiêu dùng của họ. Như vậy, mỗi chủ thể có cách nhìn nhận và sự quan tâm khác nhau đối với chính sách thuế TN, nhưng có thể khái quát lại ở các góc độ như sau: 1.
Nghiên cứu về hoàn thiện chính sách thuế thu nhập DN và chống thất thu thuế thu nhập DN Lars P. Feld và cộng sự (2002) trong nghiên cứu “The impact of corporate and personal income taxes on the location of firms and on employment: some panel evidence for the Swiss cantons” cho thấy tác động của chính sách thuế TNDN và thuế TNCN đến việc lựa chọn địa điểm kinh doanh của các DN tại Thụy Sỹ. Nghiên cứu đã chỉ ra các bằng chứng cho thấy khu vực nào có mức thuế suất thuế TNDN và cá nhân thấp sẽ thu hút các DN đầu tư và cũng là nơi thu hút lao động. Nghiên cứu “Corporate tax systems, multinational enterprises, and economic integration” của Hans JarleKind và cộng sự (2005) cho thấy những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế kéo theo các hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia theo những cách thức khác nhau.
Điều đó buộc các quốc gia phải nghiên cứu và hoàn thiện chính sách thuế TNDN nhằm hạn chế các hoạt động này. Một trong những đề xuất đó là chuyển đổi từ hệ thống thuế DN được hầu hết các nước châu Âu sử dụng được gọi là kế toán riêng (SA) sang hệ thống phân bổ theo công thức (FA). Yuchen Shao và cộng sự (2019) với nghiên cứu “Corporate tax policy and heterogeneous firm innovation: Evidence from a developing country” đã tìm ra mối liên hệ giữa cải cách chính sách thuế TNDN ở Trung Quốc với sự đổi mới của các DN dựa trên dữ liệu thuế TNDN của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các 12 DN Nhà nước từ năm 2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc giảm cơ sở thuế TNDN thay vì cắt giảm thuế suất thuế TNDN ở cấp địa phương đã tác động mạnh mẽ đến sự đổi mới và gia tăng ứng dụng công nghệ của các DN ở Trung Quốc.
Điều này có được là do các DN có thêm nguồn lực để đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại, gia tăng nghiên cứu phát minh mới, từ đó giúp đẩy nhanh sản lượng tiêu thụ. Đồng thời, có một sự khác biệt giữa các DN có quy mô lớn hoạt động tại phía Đông của Trung Quốc so với các DN hoạt động tại các khu vực khác. Shengqiang Zuo và các cộng sự (2022) trong nghiên cứu “Does government reduction of the corporate income tax rate increase employment? Evidence from China” chỉ ra tác động của việc giảm thuế suất thuế TNDN đến việc làm. Nghiên cứu đã áp dụng mô hình bảng tĩnh và mô hình bảng động để kiểm tra chính xác hơn tác động của sự thay đổi chính sách thuế TNDN đến hoạt động của các DN.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc giảm thuế suất thuế TNDN có thể làm tăng việc làm nói chung, thông qua đó gia tăng tỷ lệ lợi nhuận của DN trên tổng tài sản và kéo theo gia tăng tiền lương cho người lao động. Tác động của giảm thuế suất thuế TNDN đến tăng việc làm của các loại hình DN cũng khác nhau. Đối với DN tư nhân, công ty cổ phần thì việc giảm thuế suất này tác động tích cực đến gia tăng việc làm nhưng ngược lại việc giảm thuế suất thuế TNDN không tác động đáng kể đến việc làm của các DN nhà nước. Trong nghiên cứu “Evaluating Japan's corporate income tax reform using firm-specific effective tax rates” của Toshiyuki Uemura (2022) đã đánh giá các cải cách thuế TNDN của Nhật Bản trong những năm 2010 bằng cách ước tính thuế suất trung bình hiệu quả (EATR) và thuế suất biên hiệu quả (EMTR) và sử dụng dữ liệu của các DN Nhật Bản.
Nhật Bản giảm thuế suất thuế TNDN theo luật định trong khi mở rộng cơ sở tính thuế. Nghiên cứu này phân tích các tác động khác nhau của việc giảm thuế suất thuế TNDN và điều chỉnh phương pháp khấu hao đến EATR và EMTR. Cải cách thuế TNDN theo hướng giảm thuế suất thuế TNDN của Nhật Bản trong những năm 2010 đã làm giảm cả EATR và EMTR. Đối với hướng nghiên cứu chống thất thu thuế TNDN, Rosanne Altshuler và các cộng sự (2008) trong nghiên cứu về “Understanding U.
Corporate Tax Losses” cho thấy sự thất thu thuế TN do việc sử dụng cổ phiếu từ những năm 1990 ở Hoa Kỳ. Nghiên cứu cũng chỉ ra khi các DN bị thua lỗ sẽ không mang lại lợi ích về thuế, việc đóng thuế bị giảm đi. Do vậy, các DN đã lên các kế hoạch đóng thuế an toàn hơn nhằm tạo ra lợi nhuận kinh tế kỳ vọng trong tương lai. Norman Gemmell, John Hasseldine (2012) trong nghiên cứu “The Tax Gap: A Methodological Review” xem xét toàn diện các nghiên cứu về mức độ thất thu 13 thuế trong bối cảnh đang diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế là do thiếu sót khi không nắm bắt được hành vi của NNT một cách đầy đủ. Nghiên cứu chỉ ra phương pháp đo lường thất thu thuế trên cả hai mặt khái niệm và thực nghiệm trước khi các nhà nghiên cứu đưa ra các ước tính về thất thu thuế cho phù hợp việc phân tích các chính sách. Nghiên cứu về “Meta-analysis categorization of EU countries in the context of corporate income tax” của Andrejovská Alena và cộng sự (2017) đã tập trung phân tích và đánh giá các nhóm nước Châu Âu với những đặc trưng tương đồng nhau. Tuy nhiên, với sự tương đồng như vậy, nhưng giữa các quốc gia Châu Âu vẫn có sự chênh lệch về thuế suất thuế TNDN.
Điều này đã dẫn tới hiệu quả hoạt động của các DN nơi áp dụng các sắc thuế khác nhau là khác nhau. Do đó, cần đảm bảo tính trung lập thuế tại các quốc gia trong liên minh nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng. OECD (2017) với báo cáo “Effective Inter – Agency Co-Operation in Fighting Tax Crimes and Other Financial Crimes” đã đề cập đến tình hình hiện nay của 51 quốc gia trên thế giới về pháp luật và thực tế hợp tác giữa các cơ quan trong nước trong cuộc chiến chống các sai phạm về thuế và sai phạm tài chính khác, đồng thời chỉ ra vai trò của các cơ quan chức năng ở các nước khác nhau, cơ chế pháp lý giúp các cơ quan này chia sẻ thông tin và các mô hình hợp tác khác như tham gia hợp tác điều tra và thành lập những trung tâm thông tin, bao gồm các đại diện đến từ các nước khác nhau. Nghiên cứu “Club convergence in the corporate income tax: The case of European effective rates” của Francisco J.
Delgado và các cộng sự (2019) điều tra mức thuế suất thuế TNDN tại 21 quốc gia ở Châu Âu. Cụ thể, các quốc gia bao gồm: Pháp, Malta, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, có thuế suất thuế TNDN là 32,27%. Bỉ, Đức, Hy Lạp, Luxembourg, Ý, Áo, Slovakia, Hungary, Ba Lan và Cộng hòa Séc, có mức thuế suất TNDN trung bình 20,38% và các quốc gia còn lại có mức thuế suất trung bình là 16,99%. Kết quả nghiên cứu cho thấy thuế suất thuế TNDN khác nhau ở các quốc gia Châu Âu có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DN và sự đầu tư, tăng trưởng của từng quốc gia nói riêng và khu vực nói chung.
Các quốc gia có mức thuế suất thuế TNDN thấp sẽ có khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư lớn hơn nhóm có mức thuế suất thuế TNDN cao.Athira và cộng sự (2023) trong nghiên cứu “COVID-19 and corporate tax avoidance: International evidence” cho thấy những tác động của đại dịch Covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN ở Hoa Kỳ. Trong bối cảnh đó, các DN có xu hướng trốn các nghĩa vụ thuế, nhất là thuế TNDN bằng nhiều cách thức 14 khác nhau. Điều này đòi hỏi Chính phủ Hoa Kỳ cần có những biện pháp thay đổi trong chính sách thuế TNDN để một mặt kiểm soát chặt chẽ hơn nghĩa vụ nộp thuế TNDN của các DN, hạn chế tình trạng thất thu thuế cho NSNN nhưng mặt khác cũng hỗ trợ các DN vượt qua khó khăn trong giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid 19. Nguyễn Thị Lan (2009) với nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam” đã hệ thống hóa lý luận về các hành vi trốn thuế, tránh thuế của các công ty đa quốc gia.
Nghiên cứu đã phân tích thực trạng trốn, tránh thuế của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh của các công ty đa quốc gia theo cơ chế APA trong định giá chuyển giao giữa công ty ở Việt Nam với công ty liên kết. Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) “Hoàn thiện quản lý thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của DN (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội)” đã chỉ ra các tiến bộ cơ bản, như quan điểm đã thay đổi từ DN là đối tượng cai trị của cơ quan thuế trở thành trung tâm của hệ thống thuế, đã xuất hiện quan điểm đảm bảo quyền lợi cho DN.