Chương 1 giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở phân tích bối cảnh nghiên cứu và xác định các khoảng trống nghiên cứu, Mục 1.1 cho thấy lý do cần thiết để thực hiện luận án. Từ đây, các câu hỏi và mục tiêu của nghiên cứu được xác định và thảo luận tại Mục 1. Phạm vi, đối tượng, và phương pháp nghiên cứu được lần lượt đề cập tại Mục 1.
Tiếp theo, Mục 1.5 phân tích những đóng góp từ luận án. Tại phần cuối của chương, Mục 1.6 mô tả kết cấu chương của luận án.1 Lý do thực hiện đề tài 1.1 Bối cảnh lý thuyết Tài chính toàn diện, với mục tiêu hướng đến là đảm bảo cho mọi người, nhất là những người bị thiệt thòi về tài chính được tiếp cận, cũng như sử dụng các DVTC thích hợp, ngày càng được công nhận là công cụ chiến lược để giảm nghèo và phát triển kinh tế. Vì thế, nghiên cứu về tài chính toàn diện chủ yếu tập trung đến các vấn đề như giảm nghèo; giảm bớt khoảng cách trong thu nhập; hay tăng trưởng, phát triển kinh tế (chẳng hạn, Anand và Chhikara, 2013; Kim, 2016; Park và Mercado, 2018a; Makina và Walle, 2019; Huang và Zhang, 2020; Emara và Said, 2021; Ozili và cộng sự, 2022). Từ đó cho thấy, ở phương diện lý thuyết lẫn thực thiễn, tài chính toàn diện đã được thừa nhận là có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung.
Rõ ràng, các DVTC (thanh toán, tiết kiệm và tín dụng) được cung cấp đầy đủ và hợp lý cho những người bị loại trừ tài chính có thể giúp họ cải thiện mức sống, tăng cơ hội đầu tư, nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, mức độ tiếp cận DVTC, nhất là dịch vụ tiết kiệm và vay vốn còn có liên quan đến CSTT. Những phân tích lý thuyết tại mục 2.4 của Chương 2 cho thấy, mức độ tài chính toàn diện là yếu tố có ảnh hưởng đến kênh lãi suất của cơ chế truyền dẫn CSTT. Theo lý thuyết Keynes về CSTT, NHTW có thể tăng hoặc giảm lãi suất để tác động đến các quyết định tổng cầu từ khu vực tư nhân, dẫn đến lạm phát và sản lượng bị ảnh hưởng.
Đây chính là cơ sở của cơ chế truyền dẫn CSTT. Tuy nhiên, độ 2 mạnh về sự tương tác của tổng cầu đối với lãi suất lại phụ thuộc vào mức độ tài chính toàn diện. Phát hiện này cũng được phân tích rõ trong Gali và cộng sự (2004); Bilbie (2008) và một số nghiên cứu khác. Nếu như phần lớn mô hình nghiên cứu theo trường phái Keynes mới trước đó ngẫu nhiên mặc định tất cả người tiêu dùng đều được tiếp cận với các DVTC, thì Gali và cộng sự (2004); Bilbie (2008); Di Bartolomeo và Rossi (2006) dựa vào lý thuyết cân bằng chung; mô hình DSGE và lý thuyết Keynes về CSTT, đã kết hợp sự phân biệt giữa hai loại người tiêu dùng (những người được tiếp cận DVTC và những người không được tiếp cận DVTC, tiêu dùng toàn bộ thu nhập từ tiền lương, còn gọi là nhóm người bị loại trừ tài chính) vào mô hình phân tích.
Kết quả cho thấy, sự xuất hiện người tiêu dùng bị loại trừ tài chính có thể làm ảnh hưởng độ co giãn của tổng cầu với lãi suất. Điều đó dẫn đến việc thực hiện quy tắc lãi suất theo nguyên tắc Taylor1 có thể không đảm bảo trạng thái cân bằng duy nhất. Bởi lẽ, nguyên tắc này biểu thị CSTT sẽ ổn định lạm phát với điều kiện khi lạm phát tăng, NHTW tăng lãi suất danh nghĩa nhiều hơn mức tăng lạm phát để lãi suất thực tăng (tức, cần phải thay đổi lãi suất lớn hơn để ổn định lạm phát). Thế nhưng, khi trọng số người bị loại trừ tài chính lớn, tính hợp lệ của nguyên tắc Taylor có khả năng khó xác định vì tổng cầu không co giãn với lãi suất.
Gali và cộng sự (2004) cũng hàm ý rằng, một tỷ trọng lớn người tiêu dùng bị loại trừ tài chính còn có thể làm cho việc truyền lãi suất của NHTW đến lãi suất thị trường bị suy yếu, vì lãi suất hoạt động của các TCTC sẽ chậm thay đổi trước những biến đổi của lãi suất chính sách, do lãi suất không tác động trực tiếp đến những người tiêu dùng này, nên nhu cầu của mỗi TCTD đối với tiền gửi hay vay vốn sẽ co giãn ít hơn (Cottarelli và Kourelis, 1994; 1 Quy tắc lãi suất được nhiều NHTW sử dụng để thiết lập lãi suất chính sách theo nguyên tắc do nhà kinh tế học John Taylor đưa ra, Taylor (1993). 3 Hồ Thị Lam, 2020). Các phát hiện tương tự cũng đã được tìm thấy bởi Cas và cộng sự (2011) và Loayza và Schmidt-Hebbel (2002). Dựa vào Gali và cộng sự (2004) và Bilbie (2008), Bilbiie và Straub (2012) đã chỉ ra rằng, khi tỷ lệ người được tiếp cận với DVTC thay đổi sẽ làm biến đổi dấu hiệu của hệ số lãi suất trong phương trình sản lượng Euler, tức độ co giãn của tổng cầu với lãi suất phụ thuộc vào tỷ lệ người được tiếp cận DVTC.
Ngoài ra, theo Brownbridge và cộng sự (2017), giả định về tất cả cá nhân và hộ gia đình có thể vay và tiết kiệm trong các mô hình phân tích chính sách trước đây hầu như khó có khả năng ở nhiều nước thuộc khu vực đang phát triển, vì đây là nơi có phần lớn dân số bị loại trừ tài chính, đặc biệt là tín dụng. Phát hiện này cũng hàm ý về nguyên tắc, khi trong nền kinh tế có một tỷ trọng lớn người tiêu dùng bị loại trừ tài chính thì sẽ làm giảm độ co giãn của tổng cầu với lãi suất và làm suy yếu việc truyền dẫn lãi suất của CSTT. Với Mehrotra và Yetman (2015), hai khía cạnh mà sự gia tăng về tài chính toàn diện có thể tác động đến CSTT là: (i) giúp các cá nhân và hộ gia đình thuận lợi trong tiêu dùng, vì họ có thể tiếp cận vốn tín dụng cũng như tiết kiệm dễ dàng hơn, điều này làm biến động sản lượng ít hơn và do đó có thể hỗ trợ CSTT trong việc ổn định mức giá; (ii) làm tăng vai trò của lãi suất trong việc truyền dẫn CSTT, do có một tỷ trọng người tiêu dùng lớn hơn chịu tác động bởi sự thay đổi của lãi suất. Vì thế, theo Khan (2011), đặc trưng của các hoạt động kinh tế ở các nước đang phát triển còn tùy thuộc nhiều vào khu vực phi chính thức, làm CSTT có thể không hiệu quả do lãi suất chính sách của NHTW không gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định kinh tế của một lượng lớn dân số bị loại trừ tài chính.
Từ những phát hiện trên, xu hướng nghiên cứu gần đây về tài chính toàn diện bắt đầu tập trung hơn đến những ảnh hưởng của tài chính toàn diện đến CSTT. Nhất là, sau cuộc khủng hoảng tài chính (2007-2008), dòng nghiên cứu mới nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự gia tăng tài chính toàn diện trong ổn định tài chính và hiệu quả mà nó mang lại trong thực thi CSTT (chẳng hạn, một số nghiên cứu như: Mbutor và Uba 2013; 4 Lapukeni, 2015; Lenka và Bairwa, 2016; Mehrotra và Nadhanael, 2016; Elsherif, 2019; Akanbi và cộng sự 2020; Komala và Widodo, 2022). Tuy nhiên, theo Agoba và cộng sự (2017), Suman (2017) và từ tổng quan tài liệu cho thấy, dù lượng nghiên cứu về ảnh hưởng của tài chính toàn diện đến CSTT đang ngày càng phát triển nhưng còn hạn chế và còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục được bổ sung và mở rộng. Cụ thể, từ lược khảo tài liệu nghiên cứu như phân tích tại Mục 2.5, Chương 2, luận án xác định một số khoảng trống nghiên cứu: (i) Chưa có phương pháp chung trong đo lường mức độ tài chính toàn diện; (ii) Hầu hết nghiên cứu theo chủ đề này thường quan tâm đến những ảnh hưởng trực tiếp của mức độ tài chính toàn diện lên tỷ lệ lạm phát, trong khi cơ sở nền tảng mối quan hệ giữa hai yếu tố trên là gián tiếp; và (iii) Chưa xem xét đến khả năng cả hai giai đoạn truyền dẫn lãi suất của CSTT (từ lãi suất của NHTW đến lãi suất thị trường và tiếp nối đến nền kinh tế) có khả năng tùy thuộc vào mức độ tài chính toàn diện.
Ngoài ra, phát hiện thực nghiệm từ các nghiên cứu đôi khi không giống nhau. Nếu như với Evans (2016), CSTT không bị ảnh hưởng bởi tài chính toàn diện; ngược lại, Mbutor và Uba (2013), Lapukeni (2015), Lenka và Bairwa (2016), Akanbi và cộng sự (2020), Arshad và cộng sự (2021) đều cho thấy, mức độ tài chính toàn diện tăng lên thì CSTT sẽ hiệu quả hơn. Vì thế, việc xem xét tài chính toàn diện có / không ảnh hưởng đến CSTT ở các nước đang phát triển là điều cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia này trong quá trình phát triển kinh tế hướng đến mục tiêu bền vững. Như vậy, nghiên cứu chủ đề này của luận án là hướng nghiên cứu mới, phù hợp với tiến trình đẩy mạnh khả năng tiếp cận DVTC trong thời đại công nghệ số đang chiếm dần ưu thế.
Đặc biệt, khi vai trò của tài chính toàn diện trong phát triển KT-XH nói chung, ổn định tài chính và CSTT nói riêng đã khẳng định qua nhiều nghiên cứu (Hastak và Gaikwad, 2015) thì việc phát triển chủ đề trên càng mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực. Nhìn chung, qua phân tích bối cảnh lý thuyết cho thấy, đã có những bước tiến đáng kể trong nghiên cứu về tài chính toàn diện. Thế nhưng, ảnh hưởng của tài chính toàn 5 diện đến CSTT vẫn còn các khoảng trống nhất định cần tiếp tục nghiên cứu. Trong khi đây là xu hướng nghiên cứu mới và quan trọng, vì hiệu quả việc truyền dẫn lãi suất của CSTT cũng như mục tiêu CSTT của NHTW có thể bị ảnh hưởng bởi mức độ của tài chính toàn diện (Saraswati, 2020).
Đặc biệt, với các nước đang phát triển, nơi có dân số bị loại trừ tài chính tương đối cao, thì việc nghiên cứu của luận án lại càng đáng giá để thực hiện.2 Bối cảnh thực tiễn Từ những năm 2000, tài chính toàn diện được xem là một động lực quan trọng để giảm nghèo cùng cực, tăng trưởng toàn diện và thịnh vượng chung. Nhất là, sau khủng hoảng tài chính năm 2007, nhiều tổ chức (chẳng hạn IMF, WB) ngày càng chú trọng hơn đến vai trò của tài chính toàn diện và đã có những hành động thiết thực để thúc đẩy nó.