Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận của pháp luật về chống lao động cưỡng bức nhìn từ góc độ phát triển toàn diện Chương 3: Thực trạng pháp luật về chống lao động cưỡng bức ở Việt Nam nhìn từ góc độ phát triển toàn diện Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chống lao động cưỡng bức ở Việt Nam nhìn từ góc độ phát triển toàn diện. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG LAO ĐỘNG CƢỠNG BỨC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài QHLĐ là quan hệ ở đó NLĐ sử dụng khả năng của mình làm việc, còn NSDLĐ sử dụng sức lao động của NLĐ. QHLĐ là quan hệ xã hội mang tính ý chí, được pháp luật lao động điều chỉnh và thường xuyên thay đổi theo tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn.
QHLĐ luôn đề cao tính bình đẳng, nguyên tắc công bằng trong thỏa thuận khi thiết lập (trừ nhóm QHLĐ giữa cán bộ công chức với nhà nước, vì đây là quan hệ mệnh lệnh – hành chính), và là quan hệ pháp luật song phương nên các bên không chỉ phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, mà có trách nhiệm tạo điều kiện cho phía bên kia thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của họ trên cơ sở hài hòa lợi ích. Thực tế QHLĐ mang tính bất bình đẳng vẫn được diễn ra, thậm chí hiện nay khá phổ biến ở tất cả các quốc gia trên mọi lĩnh vực. Tác động của nền kinh tế thị trường đã đẩy mối quan hệ vốn ngang quyền, bình đẳng trở nên phụ thuộc và tạo nên vấn nạn đó chính là tình trạng LĐCB. Theo báo cáo 4/2014 của ILO [2], LĐCB trong khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 150 tỷ USD lợi nhuận bất hợp pháp mỗi năm trên toàn thế giới, với nguồn thu cao nhất (hơn 1/3 lợi nhuận trên toàn cầu) đến từ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Báo cáo cũng chỉ ra 2/3 trong tổng lợi nhuận 150 tỷ USD là từ bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, còn lại đến từ hình thức bóc lột lao động về kinh tế như giúp việc gia đình, hoạt động liên quan đến nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài (tính đến thời điểm 9/2016), nghiên cứu sinh tổng quát tình hình nghiên cứu theo nhóm vấn đề sau: 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Một tác phẩm nghiên cứu về LĐCB đáng chú ý là “Human Rights and Migration: Trafficking for Forced Labour”. Đây là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả về vấn đề LĐCB tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng hầu như tập trung vào các quốc gia Châu Âu như Thụy Điển, Đức, Ba Lan.
Phương pháp nghiên cứu của các tác giả trong tác phẩm này chủ yếu là phương pháp định tính với các tình huống (case study) để khái quát vấn đề muốn đề cập. Đối tượng nghiên cứu là những người nhập 5 cư không theo quy định pháp luật nước sở tại, tức là nhập cư trái phép, với nhiều quốc tịch khác nhau như từ Nga, Afakistan cho đến Mỹ Latin, thậm chí là Việt Nam [78, tr 161-189]. Tuy nhiên, số lượng các đối tượng nghiên cứu tương đối hạn chế, chỉ từ 11 đến 33 trường hợp được phỏng vấn và khảo sát nên chưa đủ khái quát hóa vấn đề. Một tác phẩm khác cũng viết về vấn đề LĐCB cần tham khảo là cuốn chuyên khảo “Thị trường lao động toàn cầu - Từ toàn cầu hóa đến sự ứng biến” [102].
Các tác giả khác trong tác phẩm đã tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp định lượng thông qua việc chỉ ra mối quan hệ giữa nguồn lực lao động và hiện tượng LĐCB ngày nay. Ví dụ: Bài viết của tác giả Stefan Zagelmeyer trong cuốn sách đã tận dụng rất hiệu quả cơ sở dữ liệu về nhân lực lớn để đánh giá tác động của quá trình toàn cầu hóa đối với việc quản trị nguồn nhân lực. Tác giả Aviad Bar- Haim áp dụng phương thức điều tra khảo sát thông qua bảng câu hỏi và phân tích số liệu từ các câu trả lời để đưa ra đánh giá về vấn đề quản trị nhân lực và sự phát triển của tổ chức. Tuy nhiên, các bài viết trong tác phẩm có phạm vi rộng, lại có xu hướng thiên về quản trị học nên tính chi tiết về mặt pháp lý và sự liên quan đến vấn đề LĐCB không cao.
Hiện nay còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về LĐCB trên thế giới, nhưng các nghiên cứu chính thức có tính quy mô nhất đều thuộc về ILO. Có thể kể đến báo cáo của ILO về “Lợi nhuận và nghèo đói: Kinh tế học về LĐCB” [100] như một bức tranh toàn cảnh về vấn đề LĐCB hiện tại. Cuốn sách này tập trung nghiên cứu chỉ ra những nhân tố quan trọng điều chỉnh LĐCB, phần lớn xuất phát từ nhu cầu thu lợi bất chính. Số liệu trong cuốn sách cung cấp gồm một phân tích thống kê về lợi nhuận theo lĩnh vực mà LĐCB diễn ra và theo vùng địa lý.
Báo cáo của ILO “Stopping forced labour and slavery-like practices - The ILO strategy” [87] đã chỉ ra cưỡng bức lao động ảnh hưởng đến những người dễ bị tổn thương nhất và ít bảo vệ. Phụ nữ, lao động nhập cư có tay nghề thấp, trẻ em, người dân bản địa và các nhóm khác bị phân biệt đối xử trên cơ sở khác nhau có ảnh hưởng không cân xứng. Chiến lược ILO là tìm cách giải quyết nguyên nhân gốc rễ LĐCB bằng cách trao quyền NLĐ dễ bị tổn thương để chống lại áp bức tại nơi làm việc và giải quyết các yếu tố cho phép NSDLĐ lợi dụng để khai thác, bóc lột lao động. Báo cáo khẳng định loại bỏ LĐCB là đóng góp quan trọng để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
Trong đó, mục tiêu tổng thể của chiến lược của ILO là giảm toàn cầu về LĐCB. 6 Trong báo cáo tháng 8/2015 “Internal Labour Migration in Myanmar: Building an evidence-base on patterns in migration, human trafficking and forced labour” [92], ILO đã cung cấp thông tin toàn diện và các công cụ cho phép thực hiện các cuộc điều tra quốc gia về LĐCB và buôn bán người. Dựa trên một khung phân tích thiết kế đặc biệt cho việc nghiên cứu Myanmar, báo cáo này trình bày vấn đề buôn người và LĐCB trong số những người trả lời khảo sát, và mô tả đặc điểm và hành vi của họ để xác định. Những phát hiện và khuyến nghị đã cung cấp cơ sở cho việc xây dựng chính sách, kế hoạch và hoạt động của chính phủ, cộng đồng, tư nhân ngăn chặn việc khai thác người di cư lao động tại Myanmar.
Bên cạnh đó còn có các bài viết thường xuyên đăng và cập nhật trên website của các chuyên gia ILO như: Report I (B): A global alliance against forced labour; ILO (2012), 21 million people are now victims of forced labour; ILO (2012), Behind the figures: Faces of forced labour; ILO (2014), Questions and answers on forced labour; ILO (2015), Forced labour, Human tracfficking and salvery; ILO (2015), Flyer: Preventing the exploitation of workers during recruitment: Regulation and enforcement models; ILO (2015), Indispensable yet unprotected: Working conditions of Indian Domestic Workers at Home and Abroad… Số liệu mới nhất của ILO gần đây cho thấy, hơn một nửa trên tổng số LĐCB toàn cầu là phụ nữ và bé gái, chủ yếu trong hoạt động bóc lột tình dục với mục đích thương mại và giúp việc gia đình, trong khi nam giới và bé trai thường bị bóc lột lao động về kinh tế trong nông nghiệp, xây dựng và khai thác mỏ. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm tỷ lệ lớn nhất (56 trong tổng số LĐCB trên toàn cầu). Lợi nhuận hàng năm tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (5.000 USD/người/năm); ở Châu Phi (3.900 USD/người/năm) [2]. Tình hình nghiên cứu trong nước LĐCB đã được cộng đồng quốc tế quan tâm sâu rộng hơn thập kỷ qua.
Việt Nam, vấn đề LĐCB mới được các học giả và nhà nghiên cứu gần đây chú ý. Vì thế sách in, đề tài, bài viết trực tiếp về LĐCB trong nước đến nay không nhiều, gồm: - Thứ nhất: tài liệu lưu hành nội bộ của Vụ pháp chế Bộ LĐ-TB&XH (2007), Một số vấn đề liên quan đến LĐCB và xóa bỏ LĐCB. Nội dung cơ bản của tài liệu này giới thiệu quy định Công ước 29, Công ước 105 và Khuyến nghị số 35 của ILO về LĐCB; - Thứ hai: khóa luận tốt nghiệp năm 2009 của Phạm Nữ Thanh Huyền, về “Pháp luật Việt Nam về vấn đề LĐCB và xóa bỏ LĐCB”. Trong khóa luận, tác giả 7 đã nói đến quy định và thực trạng của pháp luật Việt Nam về LĐCB, đối với lao động trong doanh nghiệp, lao động người chưa thành niên, người nghiện ma túy, người mại dâm.
Trong nghiên cứu này, tác giả khẳng định: “Ở nước ta hiện nay không có dấu hiệu của LĐCB hoặc biểu hiện của LĐCB không rõ ràng. Các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến LĐCB tương đối phù hợp với các quy định của Công ước quốc tế” [29, tr60]. Tuy nhiên, nhận định trên là chưa bám sát vào tình hình thực tiễn đã và đang diễn ra trong suốt thời gian qua. - Thứ ba: công trình của Lê Thị Hoài Thu (2012) “Những quy định cơ bản của ILO về xóa bỏ LĐCB (lao động bắt buộc) và các cam kết quốc tế của Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 12/2012, trang 67 [67].
Tác giả của bài viết này phân tích thuật ngữ pháp lý “LĐCB”, một số quy định trong Công ước 29 và đề cập đến ý nghĩa, bối cảnh ra đời của Công ước 105, chỉ ra điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam: việc nội luật hóa các Công ước chưa có khái niệm chính thức, biện pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ LĐCB còn chưa hiệu quả. Tuy nhiên, trong giới hạn một bài khoa học, tác giả chưa có điều kiện làm rõ những vấn đề sau: Vì sao Việt Nam chưa thông qua Công ước 105? Tình trạng báo động của LĐCB ở Việt Nam? Sự cần thiết tham gia của NSDLĐ đối với việc xóa bỏ LĐCB? - Thứ 4: luận án tiến sĩ của Phan Thị Thanh Huyền (2016) “Điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam đối với LĐCB”.