Mở đầu bài viết là lời trích dẫn của tác giả J. Mill “con người không tạo ra đất đai” trong tác phẩm “Những nguyên tắc của kinh tế chính trị và các vấn đề khác trong chủ nghĩa xã hội” (1848, tái bản năm 2008). Cùng với nhận định này, tác giả Fabian Thiel đã dẫn chứng về quyền sở hữu tư đối với đất thực ra chịu rất nhiều ràng buộc với các nghĩa vụ khác. Bài viết “Land policy and land management in Germany” (tạm dịch: Chính sách và vấn đề quản lý đất đai ở Đức), (2003), bài giảng của tác giả Ing.Holger Magel tại Meilbourne ngày 6/2/2003.
Theo tác giả, chính sách đất đai là một vấn đề khá nhạy cảm về mặt chính trị nhưng đóng vai trò quan trọng có tính quyết định đối với tương lai. Đồng thời, bài viết đề cập đến định nghĩa đất đai dựa trên ba phương diện: Tài sản, giá trị kinh tế, và là nơi sinh sống của con người, động vật, thực vật. Đất không chỉ mang giá trị với tư cách là một loại vật thể hữu hình mà còn bao hàm cả giá trị phi vật thể như văn hóa, xã hội. Ở Đức, tại một số nơi, đất còn là nơi chứa đựng các giá trị tâm linh, tinh thần và lịch sử.
Bài viết “Land use rights in China”, của Zhenhuan, Yuan Cornell Real Estate Review số 3/ 2004, phân tích chế độ sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất ở Trung Quốc, đồng thời nêu sự tách biệt giữa hai loại tài sản này trong các giao dịch và hoạt động đăng ký. Pháp luật Liên bang Nga, Chương 17, Bộ Luật dân sự 1997 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 1999, 2001, 2002, 2003) quy định về quyền sở hữu và các quyền khác đối với đất. Điều 261, Bộ luật dân sự Nga thừa nhận sở hữu tư nhân đối với các mảnh đất cụ thể, chủ sở hữu có quyền bán, tặng cho, thế chấp, cho thuê hoặc quyết định khác đối với đất, những mảnh đất này sẽ không bị thu hồi hay hạn chế sử dụng theo các quy định phù hợp trong luật. Ngoài quyền sở hữu, Bộ Luật dân sự Nga cũng quy định quyền sử dụng đất 11 của những người không phải chủ sở hữu đất.
Điều 264 quy định “Đất và các tài sản gắn liền với đất, có thể được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác sử dụng lâu dài hoặc tạm thời, bao gồm cả việc thuê. Người sử dụng mà không phải chủ sở hữu đất phải tuân thủ các nghĩa vụ theo luật và theo thỏa thuận với chủ sở hữu, không được quyền định đoạt đối với đất, trừ trường hợp luật định hoặc có thỏa thuận”. Đối với các chủ thể có quyền sử dụng đất lâu dài, thì pháp luật cho phép họ có quyền sử dụng một cách độc lập (trừ những trường hợp quy định trong luật), xây dựng các công trình trên đất và được quyền sở hữu các công trình, tài sản này. Quy định này về bản chất khá tương đồng với pháp luật Việt Nam.
Những người sử dụng đất lâu dài chỉ có quyền cho người khác thuê hay mượn khi được sự cho phép của chủ sở hữu đất. Liên quan đến đề tài, NCS có các bài viết: (1) “Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất ở và một số vướng mắc trong các quy định pháp luật hiện hành”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2016, trong đó phân tích các căn cứ, hình thức xác lập quyền sử dụng đất ở theo LĐĐ 2013, chỉ ra bất cập trong các quy định pháp luật đất đai, nhà ở, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện; (2) “Quyền sử dụng đất – Một số quan điểm tiếp cận và đề xuất hướng giải quyết trong khoa học pháp lý của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2016, trong đó phân tích ba cách tiếp cận phổ biến nhất về quyền sử dụng đất trong khoa học pháp lý của Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật có liên quan đến quyền sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo hài hoà giữa lý luận và thực tiễn; (3) “Hợp đồng về quyền sử dụng đất trong BLDS 2015”, Tạp chí Luật học số 4/2016, trong đó bình luận các quy định về khái niệm, nội dung, hình thức,. hợp đồng về quyền sử dụng đất, đồng thời đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật liên quan đến những nội dung trên; (4) “Điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6/ 2017, trong đó phân tích các điều kiện được thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở theo quy định tại Điều 188 LĐĐ 2013; (5) “Bình luận về các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng trong BLDS 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 3/ 2017, trong đó phân tích quy định pháp luật dân sự hiện hành về các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, đơn phương chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng; (6) “Cần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất”, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, ngày 25/8/2015, trong đó phân tích một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất, trên cơ sở tham khảo quy định một số quốc gia trên thế giới và đề xuất hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam; (7) “Hoàn thiện một số khái niệm liên quan đến hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ở”, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử ngày 31/3/2016, trong đó phân tích một số khái niệm liên quan đến hợp đồng như đất ở, chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và đề xuất hoàn thiện pháp luật liên quan đến các khái niệm trên. Công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hợp đồng “Giáo trình Luật dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân (2013), tác giả Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn chủ biên, tập II của Giáo trình phân tích và đưa ra các khái niệm về nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, một số hợp đồng thông dụng, khái niệm hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và phân tích một số hợp đồng có đối tượng là quyền sử dụng đất, … Cuốn sách “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2010), tác giả Hoàng Thế Liên chủ biên, tập II, phần thứ 3: Nghĩa vụ dân sự và Hợp đồng dân sự, phân tích, bình luận các quy định pháp luật dân sự về nghĩa vụ dân sự, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và các hợp đồng dân sự (giao kết, xác lập, thực hiện, chấm dứt, hủy bỏ, hợp đồng vô hiệu, …).
Cuốn sách “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận án”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2010) của tác giả Đỗ Văn Đại, trong đó tập trung bình luận các nội dung liên quan đến chế định hợp đồng trong pháp luật dân sự nước ta (có so sánh với một số quy định về pháp luật hợp đồng của nước ngoài và thông lệ quốc tế) thông qua một số bản án cụ thể. Các vấn đề vướng mắc xung quanh việc áp dụng và thực thi pháp luật hợp đồng được phân tích dưới cái nhìn đa chiều để từ đó tác giả đưa ra các quan điểm bình luận và xử lý. Cuốn sách "Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử" của tác giả Tưởng Duy Lượng, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia (2009), trong đó có một số nội dung đề cập đến thực tiễn xét xử và giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Cuốn sách "Nghiệp vụ của Luật sư về Tư vấn pháp luật, tư vấn hợp đồng", Nhà xuất bản thống kê (2008) của tác giả Nguyễn Thanh Bình, trong đó có đề cập đến một số vướng mắc liên quan đến việc tư vấn về quyền sử dụng đất.
Cuốn sách cũng đưa ra lý thuyết chung về hợp đồng, kỹ năng cơ bản soạn thảo hợp đồng, kỹ năng của luật sư trong việc thương lượng, hòa giải tranh chấp hợp đồng và đưa ra một số tư vấn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng. Cuốn sách “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2010) của tác giả Đỗ Văn Đại, trình bày những vấn đề pháp lý cơ bản về xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng. Cuốn sách “Việt Nam dân luật lược khảo”, quyển II, phần Nghĩa vụ và khế ước của tác giả Vũ Văn Mẫu, trong đó có phân tích các nội dung: (i) Phân loại khế ước (khế ước độc phương và song phương, vô thường và hữu thường, thực hoán và kiểu hãnh, tức hành và liên tiếp, …); (ii) Các điều kiện kết lập khế ước: Sự ưng thuận của các người kết ước hay các người đại diện của họ; Một chủ đích xác định; Một nguyên nhân đích thực và hợp pháp. Thiếu một điều kiện nào, khế ước sẽ bị vô hiệu; Sự vô hiệu của các khế ước, theo đó vô hiệu tương đối chỉ có thể do người được luật pháp bảo vệ nại ra mà thôi, 13 trái lại, sự vô hiệu tuyệt đối, trên nguyên tắc, có thể do tất cả các người có một quyền lợi liên thiết nại ra được.
Sự vô hiệu tương đối chịu một thời hiệu đoản kỳ, trái lại, sự vô hiệu tuyệt đối chịu sự trường kỳ thời hiệu của thường luật [64, tr. Trong phần nguyên nhân của nghĩa vụ, tác giả có đưa ra ví dụ về hợp đồng mua bán tài sản, theo đó “Nguyên nhân của nghĩa vụ là lý do khiến người lập ước cam kết thi hành nghĩa vụ. Đối với mỗi loại khế ước, lý do này bao giờ cũng bất di bất dịch, thí dụ trong khế ước mua bán, người bán hàng cam kết giao hàng vì họ nhận tiền của người mua, và người mua cam kết trả tiền là vì họ nhận được đồ bán. Trái lại, nguyên nhân của khế ước là những duyên cớ đã thúc đẩy các lập ước ký kết khế ước, những duyên cớ đó thay đổi tuỳ theo cá nhân và mục đích họ theo đuổi … Nói một cách khác, nguyên nhân của khế ước không còn là một yếu tố pháp lý mà chỉ là một yếu tố tâm lý [64, tr.