Chương 1. Cơ sở lý luận về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lập hội của công dan Chương 2. Thực trạng cơ chế báo đảm thực hiện quyền lập hội của công dân ở Việt Nam hiện nay Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lập hội của công dân ở Việt Nam hiện nay 11 TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DE TÀI LUẬN ÁN 1.
Tình hình nghiên cứu trong nước Van đề bảo dam thực hiện QLH của công dan không phải là van dé mới trong nghiên cứu khoa học pháp lý, nó đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện, nhiều góc nhìn khác nhau. Ở Việt Nam, trong những năm gan đây van dé này rất được quan tâm và nghiên cứu khá rộng rãi, việc xây dựng Luật về hội đã được khởi động và được một SỐ CƠ quan thực hiện việc khảo sát, nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về cơ chế bảo đảm thực hiện QLH của công dân ở Việt Nam hiện nay. Hiện chỉ có các nghiên cứu liên quan đến QLH của công dân dưới góc độ quyền con người, QLH hoặc hoàn thiện quy định của pháp luật về QLH chứ chưa có công trình nào nghiên cứu sâu cơ chế bảo đám thực hiện QLH của công dân ở Việt Nam.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hội, QLH, cơ chế và cơ chế bảo đảm thực hiện QLH mà tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án của mình. Nhóm các công trình nghiên cứu về hội và quyền lập hội Đối với các công trình nghiên cứu về QLH, hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về van đề này. Có thé liệt kê các công trình tiêu biểu như: * Sách: - “Quyên con người: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội”, Viện khoa học xã hội Việt Nam 2009, GS. Võ Khánh Vinh chủ biên.
Trong tác phẩm này có bài viết: Chính trị, đạo đức và quyên con người đã bàn về tự do hội họp và lập hội. Bài viết này đã phân tích Điều 20 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Điều 21, 22 Công ước về dân sự, chính trị. Theo đó ai cũng có QLH một cách hòa bình, quyền tập hợp ôn hòa, không bạo động 12 và không vũ trang được các quốc gia thừa nhận như tham dự các cuộc biểu tình, tuần hành dé bày tỏ quan điểm và nguyện vọng hay dé phản kháng những vi phạm về quyền con người và quyền công dan. Quyền tập hợp vì lý do chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội cũng được tôn trọng như quyền tập hợp để thờ phụng, truyền giáo và hành giáo.
Những giới hạn ghi trên của quyên tự đo tôn giáo cũng áp dụng cho việc hành xử quyền tự do chính trị. - “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, 1948: Mục tiêu chung của nhân loại”, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Lao động — xã hội năm 2010. Khi phân tích Điều 20 của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyên tác gid đã giới thiệu khái quát về việc ghi nhận quyền tự do lập hội trong bản tuyên ngôn và một số văn kiện về quyền con người mang tính khu vực. - “Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dan sự và chính tri (ICCPR), 1966”, của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, trang 592 - 615.
Khi phân tích khái quát Điều 21, 22 của Công ước về quyền dân sự, chính trị tác giả đã phân tích nhiều quyền dan sự, chính trị được ghi nhận trong Công ước. Và cuốn sách đã nói về quyền tự do lập hội hiện nay ở Việt Nam nhưng cuốn sách chủ yếu chỉ đề cập đến tiêu chuẩn quốc tế mà chưa đề cập đến pháp luật và thực tiễn về quyền này ở Việt Nam. - “Một số kiến thức pháp luật về quyền con người, tập 1 về quyền dân sự, chính tri” do Vu pho bién, giáo duc pháp luật thuộc Bộ tư pháp phát hành nam 2012 dành cho giáo viên day giáo duc công dan, môn pháp luật. Cuốn sách đã giới thiệu về quyền tự do lập hội theo các điều kiện trong Tuyên ngôn thế giới và hai Công ước 1966 về quyền con người.
- “Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013” PGS.TS Trịnh Quốc Toàn —- PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên, Nhà xuất bản Hồng Đức. Trong tác phẩm có bài viết quyền tự do hiệp hội trên thế giới và gợi mở cho việc bảo dam quyên này theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 của Th. 13 La Khánh Tùng — PGS. Bài viết đã đưa ra một số khái niệm quan trọng như về hội, tổ chức xã hội dân sự, tổ chức phi Chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận và cũng đã giới thiệu quyền tự do hiệp hội theo luật nhân quyền quốc tế.
Bài viết đã chỉ ra được tầm quan trọng của tự do hiệp hội có ý nghĩa rat quan trọng đối với sự thúc day các quyền con người khác cũng như đối với sự phát triển của quốc gia. Cũng trong bài viết này tác giả đã khái quát được quyền tự do hiệp hội theo pháp luật của một số quốc gia như Điều 18 Hiến pháp Italia, Mục 18 Hiến pháp Nam Phi, Điều 2 Hiến chương quyền và tự do Canada, Hiến pháp Hoa Kỳ. Từ sự phân tích một số đặc điểm của pháp luật một số nước trên thế giới tác giả đã phân tích quyền tự do hiệp hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Cụ thể là tác giả đã đưa ra những văn bản pháp luật điều chỉnh về hội và nhận xét về hệ thống pháp luật về hội ở Việt Nam từ đó đưa ra ý kiến hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tự do hiệp hội tại Việt Nam.
Theo các tác giả để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tự do hiệp hội NN nên xem việc tôn trọng và thúc đây tự do hiệp hội như một ưu tiên trong chính sách, tự do hiệp hội nên được quan niệm là một quyền dân sự - tự do hợp đồng của các cá nhân, chủ yếu do Luật dân sự điều chỉnh, cụ thể hơn liên quan đến Luật về hội NN nên xem xét cách tiếp cận, phạm vi điều chỉnh, thủ tục lập hội. - “Pháp luật về quyên tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thé gidi va của Việt Nam” do PGS. Nguyễn Hoàng Anh chủ biên, NXB Hồng Đức, năm 2015. Trong tác pham này tác giả đã phân tích một cách khái quát quyền tự do lập hội trong pháp luật nhân quyền quốc tế.
Trên cơ sở pháp luật nhân quyền quốc tế tác giả cũng phân tích pháp luật của một số quốc gia và ở Việt Nam về quyền tự do lập hội. Về quyền tự do lập hội tác phẩm đã trình bày khái niệm, vai trò; giới hạn quyên tự do lập hội; hiệp hội trong NN pháp quyên. Quyền tự do lập hội trong 14 luật nhân quyên quốc tế, nội dung của pháp luật về tự do lập hội của các nước: Nga, Nhật Bản, Pháp. Tác giả trình bày quyên tự do lập hội ở Việt Nam qua các khía cạnh lịch sử, thực trạng, hạn chế của hệ thống chính sách và sự phát triển về hội nhằm đưa ra kiến nghị cho việc vận động chính sách và pháp luật bao vệ quyền tự do lập hội.
- “Hội và tự do hiệp hội”, La Khanh Tùng, Nghiêm Hoa, Vũ Công Giao, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015. Trên cơ sở phân tích quyền tự đo hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế, cuốn sách phân tích mối quan hệ giữa tự do hiệp hội với một số quyền tự do khác. Qua việc phân tích pháp luật về tự do hiệp hội của một số quốc gia cũng như ở Việt Nam, cuốn sách đã đưa ra một số khuyến nghị cho việc vận động chính sách và pháp luật bảo vệ tự do hiệp hội. - “Bảo dam quyền tự do lập hội theo Hiến pháp năm 2013”, Vũ Công Giao, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2016.
Qua việc tập hợp những bài tham luận, công trình nghiên cứu về quyền tự đo lập hội của các chuyên gia luật học đầu ngành và các đại diện đến từ khu vực xã hội dân sự của Việt Nam. Những bài viết ở cuốn sách này xoay quay van đề bảo đảm quyền tự do lập hội của công dan theo Hiến pháp hiện hành của Việt Nam — Hiến pháp năm 2013. - “Pháp luật về quyên lập hội và những van dé đặt ra cho Việt Nam trong qua trình hội nhập `, Nguyễn Thị Hồng Yến, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Su thật, 2023. Cuốn sách Cung cấp cho đọc giả những luận cứ khoa học chuyên sâu dé làm rõ các khía cạnh pháp lý và thực tiễn quốc tế, cũng như quốc gia liên quan đến QLH.
Qua đó, phân tích những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về QLH tại Việt Nam và dé xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định trong Dự thảo Luật về hội tại Việt Nam. 15 Liên quan đến QLH ngoài các cuốn sách trên thì còn có rất nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học cũng như các bài viết trên các tạp chí khoa học. Có thé liệt kê một số công trình tiêu biểu sau: * Đề tai cấp Nhà nước: “Cơ sở jÿ luận và thực tiễn của sự hình thành và phái triển của xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, trong Chương trình khoa học trọng điểm cấp Nhà nước do GS. Đỗ Hoài Nam làm chủ nhiệm.
Trong dé tài này có điểm chú ý đó là những thông tin về hoàn thiện pháp luật về hội ở Việt Nam trong thời gian tới được đề cập trong đề tải. * Đề tài cấp bộ: - “Thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước với các tổ chức phi Chính phi” do Vụ các tổ chức phi Chính phủ - Ban tổ chức cán bộ của Chính pha chủ trì thực hiện năm 2007. Trong đề tài này, các tác giả đề nghị đối với hội quần chúng NN cần khẩn trương nghiên cứu, xây dựng Luật về hội mới thay thé Luật quy định về QLH năm 1957 dé điều chỉnh tô chức và hoạt động của các hội và đề xuất với NN ban hành luật về các hiệp hội kinh tế chứ không đưa các tổ chức này vào phạm vi điều chỉnh luật về hội. - “Cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thé hóa quy định của Hién pháp về quyễn tự do ngôn luận, tự do bdo chi; quyền được thông tin; quyền hội họp, lập hội, biểu tình của công đân” của GS.