Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Văn Tuyển với đề tài "Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Hải Dương" được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2019), chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Tất Viễn.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp và xét xử là hoạt động trọng tâm của hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (XXST VAHS) là giai đoạn mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử, có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, phòng chống oan sai và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Mặc dù thực tiễn xét xử sơ thẩm của hai cấp Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Hải Dương đạt được nhiều kết quả tích cực, hoạt động này vẫn còn những tồn tại như vi phạm thủ tục tố tụng, sai lầm trong áp dụng pháp luật dẫn đến bản án bị hủy, sửa. Về mặt lý luận, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề hiệu quả xét xử hoặc áp dụng pháp luật mà chưa có nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về khái niệm, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá chất lượng XXST VAHS.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng luận cứ khoa học về chất lượng XXST VAHS, xác định các tiêu chí chất lượng XXST VAHS, phân tích đánh giá thực trạng chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của hai cấp TAND tỉnh Hải Dương, từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng XXST VAHS.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa lý luận về chất lượng xét xử và XXST VAHS; làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng XXST VAHS.
  2. Phân tích các quy định pháp luật liên quan đến chất lượng XXST VAHS.
  3. Đánh giá chất lượng XXST VAHS thông qua thực tiễn xét xử của hai cấp TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
  4. Xác định những yêu cầu đặt ra và đề xuất các giải pháp đối với việc bảo đảm và nâng cao chất lượng XXST VAHS.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về chất lượng XXST VAHS, thực trạng pháp luật có liên quan và thực tiễn chất lượng XXST VAHS tại hai cấp TAND tỉnh Hải Dương. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung giới hạn ở hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự do hệ thống TAND tiến hành theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự (không nghiên cứu hoạt động XXST của Tòa án quân sự). Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu dựa trên các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 và so sánh với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLTTHS năm 2003; số liệu thống kê thực tiễn xét xử tại tỉnh Hải Dương được thu thập trong giai đoạn 9 năm từ năm 2011 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm vấn đề chuyên biệt:

Về tình hình nghiên cứu trong nước, tác giả phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

  • Nhóm nghiên cứu về hoạt động xét xử dưới góc độ thực hiện quyền tư pháp và thủ tục sơ thẩm: Gồm các công trình nền tảng của GS. Võ Khánh Vinh (2003), Nguyễn Đăng Dung (2004), Đào Trí Úc (2002, 2004), Nguyễn Mạnh Kháng (2007), Phạm Hồng Hải (2001, 2002), Nguyễn Như Phát (2014), Lê Tiến Châu (2009), Trần Ngọc Đường (2008). Các nghiên cứu trực diện về thủ tục XXST và bảo đảm nguyên tắc tố tụng gồm có Nguyễn Thị Thủy (2009), Vũ Thị Kim Oanh (2004), Đinh Văn Quế (2000), Nguyễn Cường (1998), Nguyễn Thái Phúc (2009), Nguyễn Văn Huyên (1998), Lê Thị Tuyết Hoa (2001), Nguyễn Thị Tuyết (2015), Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Dương Văn Thăng (2015), Lê Thanh Phong (2018), Hoàng Văn Thành (2015), Nguyễn Tiến Vọng (2005), Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2004), Vũ Quốc Tuấn (2015), Hoàng Thị Sơn (2000), Chu Thị Trang Vân (2001).
  • Nhóm nghiên cứu về quan niệm chất lượng xét xử: Đa số các công trình trong nước trước đây tập trung vào "hiệu quả xét xử" như nghiên cứu của Hoàng Mạnh Hùng (2010), hoặc hiệu quả áp dụng pháp luật của Đàm Cảnh Vọng (2012). Riêng về chất lượng xét xử trực diện, tác giả ghi nhận luận văn thạc sĩ luật học của Trần Văn Hữu (2014) về chất lượng XXST VAHS tại TP. Đà Nẵng và luận án tiến sĩ luật học của Thân Quốc Hùng (2018) về chất lượng xét xử án hành chính cấp tỉnh.
  • Nhóm nghiên cứu về tiêu chí chất lượng xét xử và cải cách tư pháp: Bao gồm các đề tài và công trình của Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp (Đề tài KX.06 do TS. Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm, 2005), Trần Huy Liệu (2007), Trương Hòa Bình (2009, 2014), Võ Trí Hảo (2004), Lê Cảm (2005, 2007), Đào Trí Úc (2012, 2014), Nguyễn Duy Hưng (2012).

Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, luận án khảo cứu hai nhóm nội dung:

  • Quan niệm chất lượng xét xử: Tiếp cận chất lượng tư pháp như một dịch vụ công ("quality of justice", "judicial quality") với các nghiên cứu của Robert A. Baruch Bush (phân biệt chất lượng theo quan niệm "tính thống nhất quy trình" và "thúc đẩy mục đích"), Susskind và Cruikshank, Brian J. Ostrom và Roger A. Hanson (nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính kịp thời và chất lượng xét xử tại 9 tòa án bang của Hoa Kỳ), nghiên cứu tại Australia và Phần Lan (Evaluation of the Quality of Adjudication in Courts of Law).
  • Bộ tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá chất lượng tòa án: Khảo cứu bộ công cụ đánh giá hoạt động Tòa án của Hoa Kỳ (CourTools của National Center for State Courts với 10 chỉ số đánh giá, xây dựng từ bộ Trial Court Performance Standards - TCPS gồm 68 chỉ số cho 22 tiêu chuẩn thuộc 5 lĩnh vực); mô hình của Liên minh châu Âu và Ủy ban Châu Âu về Hiệu quả Tư pháp (CEPEJ) với 5 lĩnh vực đánh giá; mô hình đánh giá tư pháp tại Hà Lan, Phần Lan, Moldova; cùng Bộ khung Đánh giá Tòa án Xuất sắc (Framework for Court Excellence) do Tòa án Singapore khởi xướng năm 2007 dựa trên 10 giá trị cốt lõi và 7 lĩnh vực hoạt động.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Khái niệm "chất lượng xét xử" chưa được làm rõ nội hàm một cách thống nhất; các công trình trong nước chỉ dừng lại ở các tiêu chí chung chung, chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí cụ thể và các chỉ số thành phần để đo lường; thiếu vắng sự kết nối giữa tiêu chí chất lượng với các yếu tố tác động; và chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện ở cấp độ tiến sĩ về chất lượng XXST VAHS gắn với thực tiễn cụ thể của TAND cấp tỉnh và cấp huyện tại địa bàn tỉnh Hải Dương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mác-xít; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người (đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW, Kết luận 92-KL/TW và Hiến pháp năm 2013 tại Điều 31 và Điều 102). Luận án vận dụng các nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển, cùng các cặp phạm trù triết học như lượng - chất, nguyên nhân - kết quả, khả năng - hiện thực để luận giải các yếu tố tác động và điều kiện bảo đảm chất lượng xét xử.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp hệ thống: Được sử dụng xuyên suốt để xây dựng các khái niệm khoa học (khái niệm xét xử sơ thẩm, khái niệm chất lượng xét xử, chất lượng XXST VAHS), phân loại các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tại Chương 2 và đánh giá thực trạng tại Chương 3.
  • Phương pháp luật học so sánh: Được sử dụng tại Chương 2 để nghiên cứu, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế về các mô hình và tiêu chí đánh giá chất lượng tòa án của Hoa Kỳ (CourTools), Hội đồng Châu Âu (CEPEJ), Phần Lan, Hà Lan và Singapore, qua đó rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
  • Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn chuyên gia và phương pháp phân tích: Được áp dụng nhằm nhận diện các yêu cầu mới của cải cách tư pháp và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng XXST VAHS tại Chương 4.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn và nghiên cứu điển hình: Sử dụng các báo cáo thống kê chính thức của TAND Tối cao, TAND tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2011–2019 để phân tích, đối chiếu định tính và định lượng về các chỉ số xét xử sơ thẩm, tỷ lệ án hủy, sửa, án trả hồ sơ điều tra bổ sung và các điều kiện thi hành án hình sự.

Nguồn tư liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức TAND 2014, BLHS 1999/2015, BLTTHS 2003/2015), các nghị quyết của Đảng, báo cáo tổng kết cải cách tư pháp (như Báo cáo số 05-BC/CCTP về tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW), các báo cáo tổng kết công tác hàng năm của TAND Tối cao và hồ sơ, số liệu thống kê xét xử thực tế của TAND hai cấp tỉnh Hải Dương từ năm 2011 đến năm 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 thực hiện nhiệm vụ tổng thuật một cách có hệ thống tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu lý luận về quyền tư pháp, chức năng xét xử, các nguyên tắc tố tụng trong XXST VAHS (như nguyên tắc độc lập xét xử, tranh tụng, suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa). Chương này làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm "chất lượng xét xử" (tập trung vào sự đáp ứng mục đích, yêu cầu và quy trình chuẩn mực) và "hiệu quả xét xử" (tập trung vào mức độ đạt được kết quả đầu ra so với mục tiêu hoặc tài nguyên sử dụng). Trên cơ sở khảo lược kinh nghiệm quốc tế về các mô hình quản trị chất lượng tòa án, chương 1 khẳng định những kết quả nghiên cứu mà luận án kế thừa, đồng thời xác lập 4 vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiếp tục giải quyết trong các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 2 xây dựng nền tảng lý luận cốt lõi của luận án. Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học:

  • Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động nhân danh Nhà nước do Tòa án có thẩm quyền tiến hành ở cấp xét xử đầu tiên và bắt buộc đối với một vụ án hình sự trên cơ sở bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhằm giải quyết toàn bộ vụ án, quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt, các biện pháp tư pháp áp dụng với bị cáo cũng như giải quyết các nội dung khác của vụ án hình sự (ngoại trừ các vụ án hình sự bị hủy án để xét xử sơ thẩm lại).
  • Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là mức độ đáp ứng các mục đích, yêu cầu của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án có thẩm quyền.

Chương này phân tích sâu 4 vai trò của chất lượng XXST VAHS: (1) góp phần bảo đảm và tôn trọng quyền con người, quyền công dân; (2) góp phần ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời các loại tội phạm; (3) góp phần bảo đảm thực hiện dân chủ, công lý và quyền bình đẳng thực sự giữa các bên; (4) là tiêu chí đánh giá uy tín của ngành Tòa án và hoạt động tư pháp.

Về tiêu chí đánh giá, sau khi phân tích kinh nghiệm quốc tế (như bộ công cụ CourTools của Hoa Kỳ với các chỉ số tiếp cận và công bằng, tỷ lệ giải quyết, thời gian giải quyết, mức độ tồn đọng của khối lượng án), luận án đề xuất hệ thống tiêu chí chất lượng XXST VAHS gồm:

  • Tiêu chí bảo đảm thủ tục tố tụng.
  • Tiêu chí xét xử nhanh chóng, kịp thời trong thời hạn luật định.
  • Tiêu chí bản án tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  • Tiêu chí bảo đảm tính chuẩn mực về văn phong, hình thức của bản án.
  • Tiêu chí bảo đảm tính minh bạch và sự tiếp cận của công chúng trong xét xử.

Đồng thời, chương 2 xác định và luận giải 4 nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng XXST VAHS: (1) sự hoàn thiện của các quy định pháp luật; (2) việc thực hiện nguyên tắc độc lập tư pháp; (3) việc kiểm soát quyền tư pháp trong hoạt động XXST; (4) năng lực thực thi của các Tòa án địa phương (đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, cơ sở vật chất, trang thiết bị).

Chương 3: Thực trạng chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương

Chương 3 tập trung phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng xét xử của hai cấp TAND tỉnh Hải Dương (gồm TAND cấp tỉnh và 12 TAND cấp huyện) trong giai đoạn 2011–2019 dựa trên hệ thống tiêu chí và các yếu tố tác động đã xác lập ở Chương 2.

Dữ liệu thống kê tổng hợp thực tiễn giải quyết án hình sự sơ thẩm tại tỉnh Hải Dương (2011–2019) được phản ánh cụ thể qua bảng số liệu sau:

Chỉ số thống kê thực tiễn xét xử sơ thẩm (2011 - 2019) Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý giải quyết 9.285 vụ (15.174 bị cáo) 100%
Số vụ án đã đưa ra xét xử sơ thẩm 8.738 vụ (14.095 bị cáo) 94,11% (vụ)
Số bị cáo có bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa 1.042 bị cáo 7,48%
Số bị cáo bị sửa án do lỗi chủ quan của Thẩm phán 95 bị cáo 0,67%
Số bị cáo có bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy 32 bị cáo 0,22%
Số vụ án bị hủy án và tuyên bố bị cáo không có tội 0 vụ (0 bị cáo) 0,00%

Từ phân tích thực tế, chương 3 rút ra các đánh giá cơ bản:

  • Ưu điểm: Hai cấp TAND tỉnh Hải Dương không để xảy ra tình trạng kết án oan người không có tội; tỷ lệ án hủy và sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán ở mức rất thấp (sửa do lỗi Thẩm phán chiếm 0,67%, hủy chiếm 0,22%, thấp hơn mức bình quân chung toàn quốc); không có tình trạng án quá hạn luật định; bảo đảm quyền có người bào chữa tham gia phiên tòa (Phụ lục 3); đẩy mạnh xét xử lưu động nhằm tuyên truyền pháp luật (Phụ lục 5).
  • Hạn chế, tồn tại: Vẫn còn những trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng, bỏ lọt hành vi phạm tội hoặc sai lầm trong áp dụng quy định pháp luật dẫn đến bản án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy, sửa; văn phong một số bản án chưa thật sự chuẩn mực; tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận bản án của người dân đôi khi còn hạn chế; áp lực công việc và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị tại một số TAND cấp huyện chưa đáp ứng tốt yêu cầu cải cách tư pháp.
  • Nguyên nhân và các yếu tố tác động: Đánh giá bất cập từ hệ thống văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình sự còn chồng chéo, chậm hướng dẫn; việc bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đôi lúc còn bị tác động bởi các quan hệ hành chính; cơ chế kiểm soát quyền tư pháp chưa thực sự đồng bộ; năng lực, kỹ năng điều hành phiên tòa tranh tụng của một bộ phận Thẩm phán chưa đồng đều.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 4 xác định các yêu cầu cấp bách đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng XXST VAHS:

Bốn nhóm yêu cầu cơ bản:

  1. Yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng.
  2. Yêu cầu về bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.
  3. Yêu cầu phòng, chống tội phạm và triệt để phòng chống oan, sai.
  4. Yêu cầu thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập trong hoạt động xét xử.

Năm nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung và ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015; hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng thực chất tại phiên tòa.
  2. Khắc phục những hạn chế, bất cập trong bảo đảm tính độc lập của Tòa án: Đổi mới cơ chế bổ nhiệm, nhiệm kỳ của Thẩm phán; phân định rõ giữa quản lý hành chính tư pháp và hoạt động tài phán; loại bỏ các can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử.
  3. Tăng cường các biện pháp giám sát và kiểm soát quyền tư pháp: Nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và nhân dân; hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra nội bộ trong ngành TAND.
  4. Tăng cường năng lực thực thi của hệ thống TAND tại địa phương: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin tại TAND cấp tỉnh và cấp huyện.
  5. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Thiết lập hệ thống tiêu chuẩn chuẩn hóa với các chỉ số định tính và định lượng rõ ràng, giúp đo lường định kỳ và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với chất lượng XXST VAHS từ thực tiễn địa phương. Những đóng góp mới của luận án bao gồm:

  • Về mặt khoa học và lý luận: Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về chất lượng xét xử nói chung và XXST VAHS nói riêng; xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về "Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự" dựa trên mức độ đáp ứng các mục đích, yêu cầu của hoạt động xét xử; xác lập hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng và luận giải khoa học về các yếu tố tác động đến chất lượng XXST VAHS trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá bức tranh thực tế khách quan về chất lượng XXST VAHS của hai cấp TAND tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 9 năm (2011–2019) thông qua các số liệu thống kê tin cậy; chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, sai sót cụ thể trong thực tiễn áp dụng pháp luật và nguyên nhân của chúng.
  • Về giải pháp và kiến nghị: Xác định hệ thống yêu cầu mang tính định hướng và đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng XXST VAHS tại tỉnh Hải Dương cũng như cho hệ thống TAND Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (không khảo sát thực tiễn tại các Tòa án quân sự), do đó một số phát hiện đặc thù có thể gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội và tổ chức tư pháp của địa phương này. Dữ liệu thực tiễn tập trung trong mốc thời gian từ năm 2011 đến năm 2019, là giai đoạn chuyển giao giữa BLHS 1999, BLTTHS 2003 sang BLHS 2015 và BLTTHS 2015.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu việc ứng dụng và vận hành bộ tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử đối với các cấp xét xử khác (xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), mở rộng khảo sát so sánh đa địa phương hoặc nghiên cứu áp dụng mô hình tiêu chí chất lượng cho việc xét xử các loại án khác như dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại và lao động.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Cung cấp khung lý luận, tài liệu tham khảo chuyên khảo về quyền tư pháp, lý luận xét xử sơ thẩm và phương pháp luận xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng tư pháp trong chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.
  • Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của BLTTHS, Luật Tổ chức TAND và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ xét xử.
  • Cán bộ thực tiễn tư pháp (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Là tài liệu hữu ích giúp nâng cao kỹ năng xét xử, điều hành phiên tòa tranh tụng, kỹ năng soạn thảo bản án chuẩn mực và phòng tránh các sai sót dẫn đến án bị hủy, sửa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như thế nào? Luận án định nghĩa: "Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là mức độ đáp ứng các mục đích, yêu cầu của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án có thẩm quyền."

2. Điểm khác biệt căn bản giữa "chất lượng xét xử" và "hiệu quả xét xử" theo phân tích của tác giả là gì? "Hiệu quả xét xử" chủ yếu hướng đến kết quả đầu ra của một quá trình (tỷ lệ giữa kết quả đạt được so với kỳ vọng hoặc nguồn lực sử dụng), trong khi "chất lượng xét xử" có nội hàm rộng hơn, bao hàm cả chất lượng của quy trình thực hiện, chất lượng hệ thống, tính chuẩn mực của thủ tục tố tụng và mức độ thỏa mãn các yêu cầu, mục đích đặt ra cho hoạt động xét xử.

3. Tỷ lệ án bị cấp phúc thẩm hủy và sửa tại hai cấp TAND tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011–2019 là bao nhiêu? Trong tổng số 14.095 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm từ năm 2011 đến năm 2019, cấp phúc thẩm sửa án đối với 1.042 bị cáo (chiếm tỷ lệ 7,48%, trong đó sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán chỉ có 95 bị cáo, chiếm 0,67%); số bị cáo có bản án sơ thẩm bị hủy là 32 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,22%); không có trường hợp nào bị hủy án để tuyên bố bị cáo không có tội.

4. Luận án đề xuất những nhóm tiêu chí nào để đánh giá chất lượng XXST VAHS? Luận án đề xuất hệ thống gồm 5 nhóm tiêu chí: (1) Bảo đảm thủ tục tố tụng; (2) Xét xử nhanh chóng, kịp thời trong thời hạn luật định; (3) Bản án của Tòa án tuyên đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; (4) Bảo đảm tính chuẩn mực về văn phong, hình thức của bản án; (5) Bảo đảm tính minh bạch và sự tiếp cận trong xét xử.

5. Luận án đưa ra các nhóm giải pháp trọng tâm nào nhằm nâng cao chất lượng XXST VAHS? Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến XXST VAHS; (2) Khắc phục những hạn chế, bất cập trong bảo đảm tính độc lập của Tòa án; (3) Tăng cường các biện pháp giám sát, kiểm soát quyền tư pháp; (4) Tăng cường năng lực thực thi của hệ thống Tòa án nhân dân tại địa phương; (5) Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Tuyển đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập hệ thống luận cứ lý luận toàn diện và các tiêu chí đánh giá khoa học về chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Thông qua việc phân tích thực chứng bức tranh xét xử của hai cấp TAND tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011–2019, công trình đã làm rõ những thành tựu, chỉ ra những nguyên nhân gây hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất có ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng cao, góp phần tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp và nâng cao chất lượng xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam.