Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" do nghiên cứu sinh Trần Huy Đức thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Sỹ Sơn. Công trình thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9 38 01 04, được bảo vệ năm 2019.

Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng tham nhũng là một trong những trở ngại lớn đối với sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, làm suy giảm nguồn lực phát triển của đất nước. Ở bình diện quốc tế, các quốc gia phải đối phó với sự gia tăng hoạt động tội phạm, hành vi che giấu và tẩu tán tài sản tham nhũng với phương thức tinh vi, phức tạp, mang tính xuyên quốc gia trên cơ sở Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (Việt Nam phê chuẩn ngày 03/7/2009). Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XII đã xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN), lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Về mặt thể chế, hệ thống pháp luật đã từng bước được bổ sung, sửa đổi qua Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012), Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020, Luật Thanh tra năm 2010, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012, Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) và Luật PCTN năm 2018.

Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội phạm về tham nhũng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập: sự xuất hiện của lợi ích nhóm ở các doanh nghiệp nhà nước thông qua cơ chế xin - cho trong đầu tư từ vốn Nhà nước; tình trạng tham nhũng quyền lực làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN cho thấy thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện là gần 60.000 tỉ đồng và trên 400 ha đất, nhưng chỉ thu hồi được gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất; trên phạm vi cả nước có 918 người đứng đầu và cấp phó bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng. Trong giai đoạn từ ngày 01/10/2016 đến ngày 31/7/2017, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 145 vụ với 328 bị cáo về các tội danh tham nhũng, trong đó tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chiếm 50% (tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016); số bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ chiếm 14,6% (tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2016); có 07 bị cáo bị tuyên phạt mức án tử hình, tù chung thân (tăng 40% so với cùng kỳ năm 2016). Đáng chú ý, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2017 của Việt Nam xếp thứ 107/180; đến ngày 29/01/2019, CPI năm 2018 công bố Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu (tính trên 8 nguồn dữ liệu khảo sát độc lập).

Tại thành phố Đà Nẵng – đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của miền Trung - Tây Nguyên, công tác PCTN thời gian qua đã đạt được kết quả tích cực khi TAND thành phố xét xử nghiêm minh nhiều vụ án lớn. Mặc dù vậy, tình hình tội phạm tham nhũng trên địa bàn vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các vi phạm liên quan đến quản lý nhà, đất công sản. Một số quy định pháp luật hình sự chưa thật sự phù hợp, đồng bộ và khả thi dẫn đến việc xét xử một số vụ án chưa bảo đảm tính thuyết phục, bị Tòa án cấp trên sửa án hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị.

Về mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội phạm về tham nhũng, thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2007 đến năm 2017, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân, luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật trong xét xử loại tội phạm này.

Về nhiệm vụ nghiên cứu, luận án xác định 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng; phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Phân tích nội dung các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về các tội phạm về tham nhũng.
  4. Phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng.
  5. Đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng trong tình hình mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học; văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng; các công ước, điều ước quốc tế về tham nhũng và PCTN; thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự.
    • Về lý luận và lịch sử: Khái niệm, dấu hiệu pháp lý, phân biệt tội phạm và quá trình lập pháp đến trước BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • Về thực tiễn: Tập trung vào các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực trạng định tội danh, quyết định hình phạt của Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
    • Về không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng.
    • Về thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liên quan trực tiếp đến đề tài.

Về các công trình nghiên cứu nước ngoài:

  • Bài viết "Corruption, integrity and law enforcement" của Fijnaut (2002), công bố từ Diễn đàn toàn cầu lần thứ 2 về chống tham nhũng tại La Hay (Hà Lan, tháng 5/2001), tổng hợp ý kiến của 35 nhà khoa học từ 13 quốc gia, nghiên cứu mối quan hệ giữa sự ngay thẳng và cưỡng chế pháp luật, các thiết chế đặc biệt như Ủy ban độc lập chống tham nhũng bang New South Wales (ICAC) hay chương trình chống tham nhũng của cảnh sát London.
  • Bài viết "Public Corruption" của Brian Whittaker và Jordan Hicks (2008), tập hợp trong 45 Am. 825 2008 và công bố trên American Law Review, trang cơ sở dữ liệu Heinonline năm 2008, phân tích pháp luật Hoa Kỳ về hành vi đưa và nhận hối lộ, nhận tiền thưởng bất hợp pháp, xung đột lợi ích của công chức và các yếu tố cấu thành tội phạm thông qua án lệ.
  • Cuốn sách "Corruption and misuse of public office" của Colin Nicholls QC, Timothy Daniel, Alan Bacarese và John Hatchard (Oxford University Press, 2011), nghiên cứu các quy định pháp lý về lạm quyền, Đạo luật Tham nhũng năm 2010 của Vương quốc Anh, Đạo luật về hành vi tham nhũng ở nước ngoài của Hoa Kỳ (FCPA), Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng và án lệ tại bang New South Wales, Victoria (Australia).
  • Cuốn sách "Corruption: economic analysis and international law" của Borlini & Leonardo S. (Edward Elgar Publishing Ltd, 2014) gồm 17 chương chia làm 2 phần, phân tích khía cạnh kinh tế, quản trị tài chính và trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với hành vi tham nhũng trong các điều ước quốc tế.
  • Cuốn sách "Canada's Corruption Of Foreign Public Officials Act And Secret Commissions Offense" (trích dẫn 29 Am.), phân tích quy định xử lý hành vi đưa hối lộ công chức nước ngoài, cấu thành tội phạm và thẩm quyền tài phán của Tòa án Canada.
  • Cuốn sách "Corruption and conflicts of interest: a comparative law approach" của nhóm tác giả Jean-Bernard Auby, Emmanuel Breen và Thomas Perroud (2014), nghiên cứu ranh giới giữa xung đột lợi ích (conflicts of interest) và tham nhũng, vấn đề vận động hành lang trong hoạt động công vụ.
  • Cuốn sách "Liability of Legal Persons for Corruption in Eastern Europe and Central Asia" của Nhóm liên kết chống tham nhũng khu vực Đông Âu và Trung Á thuộc OECD (2015), nghiên cứu pháp luật của 25 quốc gia về trách nhiệm hình sự và hành chính của pháp nhân đối với hành vi tham nhũng, đưa ra 4 phương thức quy định trách nhiệm pháp nhân.

Về các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Các tài liệu, công trình tổng kết chiến lược: Ban Nội chính Trung ương với "Kinh nghiệm PCTN của một số nước trên thế giới" (2005) và báo cáo nghiên cứu "Thu hồi tài sản tham nhũng - Thực tế Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế" (2015); đề tài khoa học cấp nhà nước của Mai Quốc Bình (2009) về "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh PCTN ở Việt Nam cho đến năm 2020"; các báo cáo tổng kết 5 năm (2012) và 10 năm (2016) thực hiện Luật PCTN của Thanh tra Chính phủ; công trình nghiên cứu của Thanh tra Chính phủ năm 2004 và 2014 về các giải pháp PCTN gắn với Công ước Liên Hợp Quốc.
  • Các công trình chuyên khảo, giáo trình và bài viết khoa học: Nhận diện tham nhũng của Hoàng Chí Bảo (2014), Phan Xuân Sơn và Phạm Thế Lực (2012); nghiên cứu lý luận định tội danh và tội phạm học của Võ Khánh Vinh (2011, 2012, 2013); hệ thống tư pháp hình sự của Lê Cảm (2009); đổi mới tư duy pháp lý của Ngọ Duy Hiểu (2009); bình luận các tội phạm về chức vụ của Đinh Văn Quế (2012); giáo trình và nghiên cứu của Hồ Sỹ Sơn (2009, 2011, 2014); các luận án tiến sĩ về PCTN trong khu vực tư của Phạm Thị Huệ (2016), hoàn thiện pháp luật của Trần Đăng Vinh (2010); nghiên cứu của Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Hòa Bình, Bùi Minh Thanh (2007); các bài nghiên cứu về điểm mới của BLHS năm 2015 của Lê Thị Hòa (2018), Đào Lệ Thu (2018); đề xuất trách nhiệm hình sự pháp nhân của Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Văn Chỉnh (2011).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về PCTN nói chung và tội phạm chức vụ, tham nhũng nói riêng, nhưng phần lớn tiếp cận ở tầm khái quát lý luận toàn quốc hoặc nghiên cứu các khía cạnh kinh tế, xã hội học. Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá một cách chuyên sâu, có hệ thống các tội phạm về tham nhũng theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gắn trực tiếp với dữ liệu thực tiễn xét xử, định tội danh và quyết định hình phạt trên một địa bàn đô thị trọng điểm miền Trung là thành phố Đà Nẵng trong suốt giai đoạn 10 năm (2007 - 2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước Việt Nam về tội phạm, hình phạt, cải cách tư pháp và PCTN. Tác giả vận dụng các văn kiện quan trọng như: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Văn kiện Đại hội XI (2011) và Đại hội XII (2016) của Đảng. Luận án kết hợp các cách tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học, đặc biệt là khoa học luật hình sự, xã hội học luật hình sự và tội phạm học.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Trong Chương 2: Sử dụng phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, quy nạp, hệ thống hóa và so sánh để làm rõ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng, phân biệt tội phạm tham nhũng với tội phạm khác, và khái quát quá trình lập pháp hình sự từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Trong Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và điều tra xã hội học nhằm đánh giá các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt của Tòa án tại thành phố Đà Nẵng, qua đó rút ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  • Trong Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp hệ thống nhằm luận giải các quan điểm, yêu cầu và xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Các văn bản quy phạm pháp luật hình sự và PCTN của Việt Nam; Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC); các báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân tối cao (từ năm 1999 đến năm 2009, năm 2015, năm 2017); báo cáo công tác năm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017); báo cáo của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng (năm 2016, 2017); báo cáo công tác của Thanh tra thành phố Đà Nẵng (năm 2016, 2017); các số liệu báo cáo của Thanh tra Chính phủ và số liệu chỉ số CPI của Tổ chức Minh bạch Quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hành vi tham nhũng, cấu thành tội phạm tham nhũng, trách nhiệm hình sự của pháp nhân, xung đột lợi ích và thực tiễn xét xử. Tác giả phân tích các bài viết, ấn phẩm tiêu biểu của Fijnaut (2002), Brian Whittaker & Jordan Hicks (2008), Colin Nicholls QC cùng cộng sự (2011), Borlini & Leonardo S. (2014), OECD (2015), Jean-Bernard Auby cùng cộng sự (2014) và các nghiên cứu lập pháp, tư pháp trong nước. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các vấn đề đã được làm sáng tỏ và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) gắn với thực tiễn xét xử tại địa phương cụ thể là thành phố Đà Nẵng.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: "Các tội phạm về tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ xâm phạm đến uy tín của cơ quan, tổ chức; tài sản, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhằm mục đích vụ lợi". Chương này làm rõ 4 yếu tố cấu thành tội phạm:

  • Khách thể: Hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức; tài sản và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân.
  • Mặt khách quan: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền hoặc giả mạo trong công tác gắn liền với công vụ, nhiệm vụ.
  • Chủ thể: Chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp và mục đích vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc.

Bên cạnh đó, chương 2 phân biệt tội phạm tham nhũng với các tội phạm kinh tế, tội phạm sở hữu và các tội phạm khác về chức vụ; đồng thời khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 qua các giai đoạn: Sắc lệnh thời kỳ kháng chiến, các văn bản hình sự giai đoạn 1954 - 1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đến trước thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực.

Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3 phân tích nội dung pháp lý của 7 tội danh về tham nhũng được quy định trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  1. Tội tham ô tài sản (Điều 353).
  2. Tội nhận hối lộ (Điều 354).
  3. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355).
  4. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356).
  5. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357).
  6. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358).
  7. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

Đồng thời, chương này phân tích thực tiễn xét xử các vụ án tham nhũng tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2017 qua Bảng 3.1. Dữ liệu tổng hợp từ văn bản luận án về tình hình xét xử trên phạm vi cả nước và địa bàn nghiên cứu được phản ánh qua bảng số liệu sau:

Chỉ số / Tiêu chí Dữ liệu ghi nhận trong văn bản Ghi chú phạm vi
Thiệt hại do tham nhũng phát hiện Gần 60.000 tỉ đồng và trên 400 ha đất Tổng kết 10 năm Luật PCTN toàn quốc
Tài sản tham nhũng thu hồi được Gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất Tổng kết 10 năm Luật PCTN toàn quốc
Số cán bộ lãnh đạo bị xử lý 918 người đứng đầu và cấp phó Xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng
Số vụ và bị cáo xét xử sơ thẩm 145 vụ, 328 bị cáo Toàn quốc (01/10/2016 – 31/7/2017)
Tỷ lệ tội phạm nghiêm trọng trở lên Chiếm 50% tổng số bị cáo Tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016
Tỷ lệ án treo, cải tạo không giam giữ Chiếm 14,6% tổng số bị cáo Tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2016
Mức án tử hình, tù chung thân 07 bị cáo Tăng 40% so với cùng kỳ năm 2016
Xếp hạng CPI năm 2017 của Việt Nam 107/180 quốc gia, vùng lãnh thổ Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI)
Điểm số và xếp hạng CPI năm 2018 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 Giảm 2 điểm so với 2017 (tính trên 8 nguồn khảo sát)
Tội danh chiếm tỷ lệ xét xử cao tại Đà Nẵng Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ Bảng 3.1, thực tiễn xét xử TAND TP Đà Nẵng

Đánh giá thực tiễn tại Đà Nẵng cho thấy: Việc định tội danh và quyết định hình phạt cơ bản phù hợp với pháp luật và thực tế hành vi phạm tội. Tuy nhiên, vẫn còn những vụ án chưa bảo đảm tính thuyết phục, thiếu thống nhất; việc áp dụng hình phạt chưa phát huy hết tính trừng phạt và phòng ngừa chung; một số bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa, áp dụng mức hình phạt thấp hơn. Về lập pháp, việc BLHS chỉ giới hạn 7 hành vi tham nhũng bị xử lý hình sự là chưa hoàn toàn đồng bộ với Luật PCTN và yêu cầu thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, nhất là các hành vi có sự liên kết giữa khu vực công và khu vực tư hoặc xảy ra trong khu vực tư.

Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng

Chương 4 xác định các yêu cầu nền tảng: Bám sát mục tiêu, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và PCTN; áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở pháp lý vững chắc; nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán; bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử; chú ý đặc thù của các vụ án tham nhũng và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Các nhóm giải pháp cụ thể gồm:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Quy định bổ sung 05 tội danh về tham nhũng trong BLHS để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với Luật PCTN năm 2018 đối với các hành vi tham nhũng.
    • Quy định cụ thể việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản tham nhũng.
    • Nghiên cứu mô hình phù hợp nhằm tạo sự độc lập tương đối của cơ quan thanh tra; bổ sung quyền chứng minh hành vi tham nhũng cho cơ quan thanh tra.
    • Bổ sung quy định về thẩm quyền khởi tố và điều tra ban đầu cho cơ quan thanh tra và kiểm toán (tương tự như kiểm lâm và hải quan) đối với các vụ việc phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.
    • Có chính sách ưu đãi đặc thù đối với cán bộ làm công tác PCTN.
    • Sửa đổi quy định về minh bạch tài sản, thu nhập: Thu hẹp đối tượng phải kê khai nhưng tập trung vào nhóm giữ chức vụ, quyền hạn; quy định bắt buộc phải xác minh tài sản, thu nhập; mở rộng phạm vi công khai bản kê khai; kiểm soát thu nhập của cán bộ, công chức.
    • Quy định rõ phạm vi và trách nhiệm của người đứng đầu theo từng cấp độ quản lý; quy định loại trừ trách nhiệm của người đứng đầu khi đã áp dụng tất cả biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc trong trường hợp không bắt buộc phải biết.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tổ chức thực hiện:
    • Tòa án các cấp thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm công tác xét xử các vụ án tham nhũng, lựa chọn và bố trí thẩm phán đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
    • Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý vụ án.
    • Tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo nội dung luận án tự xác định, công trình có 4 đóng góp mới về mặt khoa học:

  • Thứ nhất, làm rõ mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật hình sự với chính sách hình sự nói chung, chính sách pháp luật hình sự về tội phạm tham nhũng nói riêng, qua đó thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng và luận giải tính quyết định về mặt xã hội của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng.
  • Thứ hai, làm rõ nội hàm khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng; xác định điểm tương đồng và khác biệt giữa tội phạm tham nhũng với các tội phạm khác; chỉ ra tính kế thừa và phát triển của hệ thống lập pháp hình sự Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Thứ ba, làm rõ thực trạng quy định pháp luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng trong định tội danh, quyết định hình phạt tại Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2017; chỉ rõ thành tựu, khó khăn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  • Thứ tư, đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về các tội phạm tham nhũng, kết hợp giữa hoàn thiện quy định pháp luật (bổ sung tội danh, cơ chế kiểm soát tài sản, thẩm quyền điều tra ban đầu của thanh tra, kiểm toán) và các giải pháp tổ chức áp dụng pháp luật trong xét xử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Giới hạn không gian: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, do đó số liệu xét xử chưa phản ánh toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật tại các vùng kinh tế, đô thị khác trên cả nước.
  • Giới hạn thời gian: Khảo sát thực tiễn giai đoạn 10 năm từ 2007 đến 2017; các vụ việc và số liệu sau năm 2017 chưa được bao quát đầy đủ.
  • Giới hạn góc độ tiếp cận: Đề tài tập trung chuyên sâu dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (tập trung vào khâu định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án), chưa đi sâu vào toàn bộ quá trình điều tra, truy tố hoặc các biện pháp cưỡng chế dân sự, hành chính đi kèm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham nhũng trên phạm vi toàn quốc hoặc so sánh giữa các đô thị lớn.
  • Đánh giá toàn diện thực tiễn thi hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật PCTN năm 2018 sau khi có hiệu lực đầy đủ, đặc biệt là việc xử lý các tội phạm tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước (khu vực tư) và việc khởi tố, điều tra ban đầu của các cơ quan thanh tra, kiểm toán.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật: Có thể sử dụng Chương 2 và Chương 3 làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về cấu thành tội phạm chức vụ, lý luận định tội danh và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam.
  • Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên): Dữ liệu phân tích thực tiễn xét xử, các sai sót bị cấp phúc thẩm sửa án tại Đà Nẵng ở Chương 3 là cơ sở thực tế hữu ích để rút kinh nghiệm trong hoạt động định tội danh và lượng hình.
  • Các cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Các kiến nghị cụ thể tại Chương 4 về bổ sung thẩm quyền điều tra ban đầu cho thanh tra, kiểm toán, biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản, kiểm soát tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức cung cấp cơ sở thực tiễn để tham khảo sửa đổi, hoàn thiện pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân tích bao nhiêu tội danh về tham nhũng theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)? Luận án phân tích 7 tội danh thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng, bao gồm: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

2. Thực tiễn xét xử tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2017 cho thấy tội danh nào chiếm tỷ lệ cao nhất và tồn tại những bất cập gì? Số lượng bị cáo bị đưa ra xét xử về Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các vụ án tham nhũng tại Đà Nẵng. Thực tiễn xét xử cho thấy còn một số bản án chưa thật sự thuyết phục, thiếu thống nhất; tính trừng phạt và phòng ngừa chung chưa phát huy triệt để; có vụ án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm sửa án, áp dụng mức hình phạt thấp hơn hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị, nhất là các vụ án liên quan đến quản lý nhà, đất công sản.

3. Tác giả kiến nghị trao thẩm quyền tố tụng đặc thù nào cho cơ quan thanh tra và kiểm toán nhà nước? Tác giả đề xuất bổ sung quy định về thẩm quyền khởi tố và điều tra ban đầu cho cơ quan thanh tra và kiểm toán (tương tự như thẩm quyền của lực lượng kiểm lâm và hải quan) đối với các vụ việc qua thanh tra, kiểm toán phát hiện có dấu hiệu tội phạm tham nhũng, nhằm nâng cao hiệu lực phát hiện và xử lý tội phạm.

4. Luận án đề xuất giải pháp nào nhằm kiểm soát và minh bạch tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn? Luận án đề xuất sửa đổi quy định minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng: Thu hẹp đối tượng phải kê khai nhưng tập trung vào nhóm đối tượng có chức vụ, quyền hạn; quy định yêu cầu bắt buộc phải xác minh tài sản, thu nhập; mở rộng phạm vi công khai bản kê khai; đồng thời xây dựng giải pháp kiểm soát dòng thu nhập của cán bộ, công chức.

5. Luận án đề xuất bổ sung bao nhiêu tội danh vào BLHS để bảo đảm thống nhất với Luật PCTN năm 2018? Tác giả đề xuất quy định bổ sung 05 tội danh về tham nhũng trong BLHS nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Luật PCTN năm 2018 và phù hợp với yêu cầu thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, đặc biệt đối với các hành vi tham nhũng trong khu vực tư và mối liên kết công - tư.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Huy Đức đã nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và nội dung các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng. Dựa trên dữ liệu thực tế 10 năm (2007 - 2017) tại thành phố Đà Nẵng, tác giả chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế trong hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt và nguyên nhân của những tồn tại đó. Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hoàn thiện pháp luật hình sự, tăng cường cơ chế kiểm soát tài sản, mở rộng thẩm quyền cho cơ quan thanh tra, kiểm toán và nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân trong tình hình mới.