Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VA LICH SU VE TOI THIEU TRACH NHIEM GAY HAU QUA NGHIEM TRONG 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 1. Khái niệm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng Từ trước đến nay Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác quản lý cán bộ, coi trọng việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, coi đây là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và cả thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ được Đảng, Nhà nước quản lý, quan tâm, bồi dưỡng tốt nên trưởng thành và có nhiều đóng góp cho đất nước.
Do quản lý tốt cán bộ nên có nhiều tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, nhiều cán bộ đảng viên nêu gương phan đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt đã cô vũ được sự phấn khởi, đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, góp phần tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên khi xã hội ngày một phát triển, điều kiện kinh tế chính trị văn hóa ngày một nâng cao thì lại có thêm nhiều những cám dỗ, lợi ích mà con người đặc biệt là những người "có chức, có quyền" phải đối mặt. Trong cơ chế mới, họ bị chỉ phối, tác động bởi nhiều mối quan hệ như quan hệ giữa quản lý với sử dụng, quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thé, quan hệ giữa trách nhiệm và quyền lợi,. nhiều hơn, mạnh hơn trước đây nên dễ bị sa ngã, vi phạm pháp luật.
Đảng và Nhà nước ta đã và đang hết sức quan tâm đến vấn đề này, đã có nhiều đường lối chính sách được vạch ra để đảm bảo đội ngũ cán bộ có chất lượng, có trách nhiệm, sẵn lòng phụ vụ nhân dân và xã hội. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chi đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã khăng định: Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham những trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn phải chồng tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống. Hai cái này có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì mới dẫn đến tham những, đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống và Tham những kinh tế làm mất tiền bạc, nhưng suy thoái, tiêu cực không chỉ làm mắt cán bộ mà nặng hơn là làm giảm uy tín của Đảng, thậm chí có thể làm mắt chế độ,. Tiền mắt có thể thu hồi lại.
Cán bộ mắt phẩm chất chính trị, có thể trở thành phản bội Đảng, nhân dân thì nguy hiểm vô cùng. Do đó, đối với những hành vi vi phạm nghiêm trọng làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động đúng đắn cũng như danh dự của nhà nước và tô chức phải được xử lý một cách nghiêm minh. Một trong những cách thức xử lý mạnh mẽ và có tính răn đe cao nhất chính là xử lý bằng PLHS. Vì vậy mà các văn bản QPPL hình sự của nước ta từ trước đến nay đều quy định về những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay những hành vi liên quan đến chức vụ, hối lộ, tham nhũng mặc dù thuật ngữ “tội phạm về chức vụ” phải đến khi pháp điển hóa BLHS lần thứ nhất năm 1985 mới xuất hiện.
Từ trước đến nay khi nhắc đến tội phạm về chức vụ, thông thường mọi người quan tâm nhiều hơn đến tội phạm tham những, tuy nhiên bên cạnh loại tội này còn nhiều hành vi khác cũng có tính nghiêm trọng cao xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tô chức, xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích của công dân, gây ra những hậu quả lớn cho xã hội. Các hành vi đó có thê là: hành vi thiếu trách nhiệm, hành vi làm lộ bí mật công tác, hành vi đào nhiệm, hành vị đưa hối lộ,. Việc quy định những hành vi này thuộc nhóm các tội phạm chức vụ đã giúp bao quát hết các hành vi tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến hoạt động công vụ, thực hiện nhiệm vụ của những người có chức vụ, quyền hạn trong tất cả mọi lĩnh vực công vả tư, từ đó không chỉ nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức mà còn là cơ sở để tạo một môi trường làm việc an toàn, lành mạnh tại các cơ quan, tô chức, đảm bảo hiệu quả công việc, phục vụ được tốt nhất lợi ích chung của nhân dân, xã hội đúng với quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng 10 thể chế, tạo môi trường, điễu kiện đề thúc đầy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cản bộ dám nghĩ, dâm làm, dám đột phá vì lợi ích chung.4] Trong những hành vi đã nêu ở trên, có một loại hành vi đang ngày một xảy ra nhiều trên thực tiễn gây nên những hậu quả đáng tiếc, trong đó có nhiều vụ việc gây bức xúc dư luận và được liệt vào vào diện án thuộc Ban chỉ đạo của Trung ương.
Đó chính là Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại Điều 360, thuộc Mục 2 Chương XXIIH — Nhóm các tội phạm về chức vụ trong BLHS năm 2015 (sửa đôi, bố sung năm 2017). Đề nắm bắt được rõ nhất khái niệm của loại tội này, tác giả tiếp cận từ những khái niệm nhỏ liên quan. Trách nhiệm là gì? Thuật ngữ “rách nhiệm” xuất hiện khá nhiều trong cuộc sống hàng ngày, trên mọi lĩnh vực, đối với mọi đối tượng, mọi lứa tuôi.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “trách nhiệm”. Một số tác giả tiếp cận thuật ngữ “trách nhiệm” theo nghĩa là nghĩa vụ, nhiệm vụ, bốn phận, quyền hạn. Ví dụ, có tác giả hiểu trách nhiệm là “bổn phận phải thực hiện, nó còn là điều không được làm, được làm, phải làm và nên làm (. Trách nhiệm là những gì mà họ buộc phải làm và phải chịu sự giảm sát của người khác” [1, tr.
Tác giả khác cho rằng, trách nhiệm “/hường được hiểu là khả năng của con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đông thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho mình” [9, tr. Một tác giả khác lại cho rằng: “trách nhiệm là sự thực hiện bồn phận, nghĩa vụ của chủ thể đối với người khác, với xã hội một cách tự giác. Trách nhiệm đối lập với vô trách nhiệm, sắn liền với chịu trách nhiệm” [4. Còn theo từ điền tiếng Việt định nghĩa: “Trách nhiệm là phân việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quđ” [23, tr.
Trên góc độ pháp luật, khi nghiên cứu các văn bản QPPL liên quan đến 11 “trách nhiệm” của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước, ví dụ như Luật Cán bộ, công chức năm 2019, hay các văn bản dành riêng đề điều chỉnh trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, hay các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh cụ thể như Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân. có thể nhận thấy thuật ngữ “trách nhiệm” xuất hiện với tần suất cao. Tuy nhiên, thế nào là “trách nhiệm ”của các chức danh này thì lại có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa có sự thống nhất về nội hàm. Cùng một thuật ngữ “trách nhiệm”, nhưng một số văn bản hiểu “trách nhiệm” là những việc người đứng đầu phải làm, được làm, không được làm, một số văn bản hiểu là bị xử lý trách nhiệm (chịu trách nhiệm), và một số văn bản khác thì hiểu theo cả hai nghĩa trên.
“Trách nhiệm” mà tác giả muốn đề cập ở đây là trách nhiệm mang tính công vụ, nhiệm vụ, khái niệm này cần mang tính chính trị - xã hội, liên quan đến việc tạo dựng hình ảnh của chế độ nhà nước, hình ảnh một xã hội. Trách nhiệm nay là việc cán bộ, công chức, người được giao thực hiện nhiệm vụ tự ý thức đầy đủ về quyền hạn, nghĩa vụ đối với nhiệm vụ được phân công cũng như bốn phận phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ găn liền với nhiệm vụ đó. Trách nhiệm này có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả hoạt động công vụ, nhiệm vụ, gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được trao cho trên cơ sở luật định. Từ đó mới có thể xác định được việc có đầy đủ trách nhiệm hay thiếu trách nhiệm có mối quan hệ như thế nào với kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Thiếu trách nhiệm là gì? Cũng như thuật ngữ trách nhiệm, đi kèm với nó thì thuật ngữ “thiếu trách nhiệm” cũng được nhắc đến thường xuyên đặc biệt trong hoàn cảnh cần nhận xét, đánh giá, truy cứu nguyên nhân, xử lý vi phạm,. Thuật ngữ này bản thân nó đã mang sắc nghĩa tiêu cực, không tốt nên thường sẽ mang lại kết quả không như mong muốn. Theo Từ điển tiếng việt thì “thiếu” có nghĩa là “chưa đạt được số lượng, mức độ cân thiết hoặc so với yêu cầu” [24. 745] hoặc “có hoặc chỉ đạt số lượng hay mức độ dưới mức cân thiết, dưới mức yêu cẩu” [20, tr.
12 Hiểu một cách đơn giản thì “thiếu” là có nhưng chưa đủ, do đó thiếu trách nhiệm là trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao bản thân đã có trách nhiệm thực hiện các công việc, nhiệm vụ được giao nhưng không làm hết trách nhiệm đúng như được yêu cầu, được phân công; không làm hết có thể dưới hình thức: không làm hoặc làm không đủ, làm chưa tới. Trên góc độ pháp lý hình sự, thuật ngữ này đặc trưng cho những hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ được giao. Có một khoảng thời gian, cụm từ “hiếu trách nhiệm” xuất hiện dày đặc trên báo chí, đó là khi xảy ra vụ án của Ban quản lý PMUIS, Bộ giao thông vận tải vào năm 2007. Đến khi đó, mới thật sự hiểu sâu sắc được ý nghĩa của việc thiếu trách nhiệm là như thế nào.
Thiếu trách nhiệm không chỉ đơn thuần là kết luận của cơ quan điều tra, không chỉ là kết luận của cấp trên đối với cấp dưới, lại càng không chỉ là lời thú nhận của đương sự đối với những sai phạm mà mình đã gây ra.