Tổng quan luận án
Công tác cán bộ giữ vai trò trọng yếu trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là "cái gốc của mọi công việc", là "dây chuyền" của bộ máy; chất lượng của đội ngũ cán bộ quyết định trực tiếp đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với trình độ phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, trong đó ba địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ giữ vị trí chiến lược đặc biệt về an ninh, quốc phòng. Tỉnh Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm vùng Tây Nguyên, đất rộng, dân số đông, hội tụ nhiều tôn giáo cùng cộng đồng 44 dân tộc sinh sống (trong đó người Êđê, M’nông, Gia Rai là các dân tộc thiểu số tại chỗ). Với vị trí địa chính trị trọng yếu, Đắk Lắk thường xuyên là địa bàn bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", lập nên các tổ chức phản động như "Tin Lành Đêga", "Nhà nước Đêga", tổ chức gây rối và biểu tình bạo loạn chính trị vào các năm 2001, 2004 và 2008 nhằm phá hoại an ninh chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa thành phố Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên trực thuộc Trung ương và tỉnh Đắk Lắk trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của cả vùng, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trở nên cấp bách. Đội ngũ này am hiểu phong tục, tập quán, tâm tư của đồng bào, có khả năng quy tụ sức mạnh buôn làng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân và là lực lượng giữ vững ổn định chính trị tại cơ sở. Mặc dù Tỉnh ủy Đắk Lắk đã ban hành nhiều chủ trương tạo nguồn xa từ bậc học phổ thông, tạo nguồn gần qua quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đãi ngộ, thực tiễn công tác này vẫn bộc lộ các mâu thuẫn cơ bản:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng nhanh số lượng và việc bảo đảm chất lượng cán bộ.
- Mâu thuẫn giữa nhu cầu đòi hỏi đầu tư lớn và khả năng nguồn lực địa phương có giới hạn.
- Mâu thuẫn giữa sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút cán bộ từ nơi khác đến.
- Mâu thuẫn giữa công tác đào tạo và việc bố trí, sử dụng sau đào tạo.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu luân chuyển và khả năng luân chuyển cán bộ tại địa phương.
Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Tĩnh giải quyết khoảng trống nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2005 - 2015.
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk từ năm 2005 đến năm 2015; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quan trọng này trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 4 nhiệm vụ được xác định cụ thể:
- Luận án trình bày các yếu tố tác động đến công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk.
- Luận án làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk vận dụng quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số để lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk từ năm 2005 đến năm 2015.
- Luận án đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; từ đó phân tích nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong lãnh đạo và chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk.
- Luận án đúc rút một số kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2005 đến năm 2015.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số và quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số từ năm 2005 đến năm 2015.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2005 (thời điểm Tỉnh ủy Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 14/1/2005 về lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số) đến năm 2015 (giai đoạn tiếp tục thực hiện Kết luận số 05-KL/TU ngày 5/1/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy).
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Đắk Lắk gồm 15 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 13 huyện); phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào nhóm cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và lấy ý kiến khảo sát tại một số cơ quan, đơn vị trong tỉnh.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào bốn khâu chủ yếu trong công tác cán bộ: Quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số; Sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số; Chính sách cán bộ dân tộc thiểu số.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành khảo cứu và hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu học thuật liên quan đến đề tài, chia thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu lý luận chung về công tác cán bộ:
- Nhóm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh: Đức Vượng với công trình "Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài"; Đình Toán với chuyên khảo "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đổi mới"; Nguyễn Thị Thanh Dung nghiên cứu qua ấn phẩm "Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay"; Nguyễn Khánh Bật và Trần Thị Huyền với công trình "Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh".
- Nhóm nghiên cứu quan điểm của Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ: Tuyển tập bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong "Xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước"; Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương trong "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức"; Mai Đức Ngọc với "Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay"; Trần Đình Thắng nghiên cứu "Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước"; báo cáo khoa học của Nguyễn Thị Thanh về chiến lược cán bộ 1998 - 2008; luận án của Bùi Thị Hồng Tiến về cán bộ cấp cơ sở giai đoạn 1975 - 1993; đề tài cấp Nhà nước KX03.02 do Vũ Văn Hiền làm chủ nhiệm; nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn về đổi mới đồng bộ công tác cán bộ; bài viết của Litthi Sisouvong về quy trình cán bộ tại Lào; chuyên khảo của Nguyễn Văn Tài về tính tích cực xã hội của cán bộ; nghiên cứu của Cao Khoa Bảng về cán bộ lãnh đạo Hà Nội; công trình của Trần Xuân Sầm về cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ với gần 8.000 phiếu điều tra; chuyên khảo của Trần Đình Hoan về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ; nghiên cứu của Thân Minh Quế về quy hoạch cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy miền núi phía Bắc; sách của Cao Thanh Vân và Đinh Ngọc Giang về xử lý tình huống công tác cán bộ; ấn phẩm của Lê Minh Thông và Nguyễn Danh Châu về kinh nghiệm nhân sự của Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức, Trung Quốc; sách dịch của Matsushita Konosuke (1999) về quản lý nhân sự; sách của Đoàn Văn Khái về nguồn lực con người; bài viết của Yasuhiko Inoue về kinh nghiệm phát triển nhân lực của Nhật Bản; Kỷ yếu hội thảo của Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum về nhân lực Tây Nguyên; nghiên cứu của Cao Văn Thống và Đỗ Xuân Tuất về nhân tài; công trình của Nghiệm Ngạn Thân về dùng người tại Giang Tô; luận văn của Phạm Nhất Linh về cán bộ xã tại Cà Mau (1997 - 2007).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về cán bộ dân tộc thiểu số và địa bàn Tây Nguyên:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh với đồng bào Tây Nguyên trong sách của Phan Văn Bé; sách chuyên khảo của Nguyễn Đăng Thành về nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số; phân tích xã hội học của Đặng Cảnh Khanh về nhân lực trẻ dân tộc thiểu số; luận văn của Trịnh Ngọc Dương về nhân lực dân tộc thiểu số tại Kon Tum; sách của Trịnh Quang Cảnh về trí thức dân tộc thiểu số; lịch sử chính sách dân tộc thời phong kiến (thế kỷ X - XIX) của Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam.
- Các công trình chuyên sâu về Tây Nguyên của Trương Minh Dục gồm "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên", "Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới", "Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên"; luận án của Lương Hữu Nam về trí thức Tây Nguyên; luận án của Nguyễn Thanh Thủy về chính sách dân tộc với người Khmer; luận án của Hoàng Thu Thủy về vùng Đông Bắc (1996 - 2010); luận văn của Phạm Văn Hồ về Bắc Tây Nguyên (1996 - 2005); luận văn của Nguyễn Thị Tứ về chính sách giáo dục; Kỷ yếu hội nghị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về 15 năm thực hiện chế độ cử tuyển (1990 - 2005); công trình của Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc và Doãn Hùng về luận cứ xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số; nghiên cứu của Lê Hữu Nghĩa về cán bộ lãnh đạo cấp huyện ở Tây Nguyên; sách của Lô Quốc Toản về nguồn cán bộ miền núi phía Bắc; luận án của Đặng Văn Trọng về cán bộ dân tộc thiểu số trong Bộ đội Biên phòng (1996 - 2006); luận án của Trương Thị Hải Yến về tạo nguồn cán bộ xã tại Tây Nguyên; luận án của Ma Phúc Dự về tư duy lý luận của cán bộ tại Tuyên Quang; luận văn của Phạm Hồng Kiên về cán bộ cấp cơ sở tại Kon Tum (1991 - 2005); luận văn của Nguyễn Viết Hà tại Cao Bằng (2001 - 2010).
- Các công trình xã hội học và phát triển vùng: Lê Ngọc Thắng về phát triển vùng dân tộc thiểu số sau hội nhập; Đặng Thị Hoa về quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số; Nguyễn Tuấn Triết về dân cư và nhân lực Tây Nguyên cuối thế kỷ XX; Hoàng Văn Lễ và cộng sự trong sách "Tây Nguyên ngày nay tập 2"; Báo cáo Hội nghị Sơ kết giữa kỳ Chương trình Tây Nguyên 3 (KHCN-TN3/11-15, năm 2014); Kỷ yếu hội thảo của Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên; Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Tỉnh ủy Gia Lai kỷ niệm bức thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam (1946 - 2016); Kỷ yếu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Phân viện Đà Nẵng về hệ thống chính trị cơ sở Tây Nguyên; Kỷ yếu hội thảo Đề tài TN3/X15 của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về đô thị hóa Tây Nguyên.
Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu trực tiếp tại tỉnh Đắk Lắk:
- Bộ sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk gồm 3 tập (1930 - 1954, 1954 - 1975, 1975 - 2005) do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh biên soạn; công trình phối hợp của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đắk Lắk về phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số; luận văn của Lương Hữu Nam về yếu tố tác động đến quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk; đề án khảo sát và báo cáo phúc tra nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk; báo cáo của Nguyễn An Vinh và cộng sự về đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cấp huyện, xã; công trình của Trương Minh Dục về miền Trung và Tây Nguyên (phân tích mô hình Ea Phê - Đắk Lắk); luận án của Phạm Ngọc Đại về lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc (2003 - 2015); luận văn của Nguyễn Tấn Bích về quản lý nhà nước về dân tộc; luận văn của Nguyễn Hải Đông về năng lực cán bộ công chức dân tộc thiểu số (2010 - 2015); luận văn của Lê Nhị Hòa về cán bộ dân tộc thiểu số cấp cơ sở thời kỳ 1986 - 2000; luận văn của Đỗ Quang Trà về đào tạo cán bộ công chức cấp xã.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình trên đã cung cấp hệ thống lý luận và dữ liệu thực tiễn phong phú nhưng chỉ tiếp cận ở phạm vi chung của cả nước, khu vực Tây Nguyên, hoặc giới hạn ở cấp xã, từng nhóm cán bộ chuyên môn, hoặc dừng lại ở giai đoạn trước năm 2005. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong trọn vẹn thập niên 2005 - 2015, gắn với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU và Kết luận số 05-KL/TU, bao quát đầy đủ cả bốn khâu: quy hoạch, đào tạo - bồi dưỡng, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Lý luận Mác - Lênin: Luận án vận dụng quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về việc giai cấp vô sản cần những con người sử dụng lực lượng thực tiễn để tổ chức, dẫn dắt quần chúng đấu tranh; quan điểm của V.I. Lênin về vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cầm quyền trong công tác cán bộ, bổ nhiệm các vị trí chủ chốt và nguyên tắc bình đẳng dân tộc toàn diện trong Cương lĩnh dân tộc.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Xem cán bộ là "gốc của mọi công việc", xây dựng cán bộ phải thông qua quy trình chặt chẽ từ tuyển chọn, đào tạo đến bố trí, sử dụng; coi cán bộ người dân tộc thiểu số là nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định sự phát triển của miền núi; thực hiện kết hợp cán bộ tại chỗ và cán bộ cấp trên điều về, trong đó ưu tiên đào tạo, cất nhắc cán bộ tại chỗ.
Khung khái niệm và căn cứ pháp lý:
- Khái niệm cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã: Vận dụng theo quy định tại Điều 4 khoản 1 và khoản 3 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
- Khái niệm dân tộc thiểu số và dân tộc đa số: Vận dụng theo quy định tại Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ.
- Khái niệm cán bộ dân tộc thiểu số: Được xác định là khái niệm kép, chỉ những cán bộ theo luật định đang công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị và có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số tại Việt Nam (đồng nghĩa với cụm từ "cán bộ là người dân tộc thiểu số").
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp lịch sử: Thu thập, xử lý các nguồn tư liệu thành văn của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ địa phương nhằm phục dựng chân thực tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk qua từng giai đoạn cụ thể.
- Phương pháp lôgíc: Phân tích, tổng hợp, khái quát bản chất của quá trình lãnh đạo, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập thông tin định lượng về thực trạng số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến đánh giá từ các cán bộ lãnh đạo, nhà quản lý và chuyên viên trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ và công tác dân tộc tại Đắk Lắk.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phần mềm chuyên dụng trên máy vi tính để xử lý, tổng hợp số liệu từ các báo cáo định kỳ và phiếu điều tra khảo sát.
Nguồn tư liệu nghiên cứu:
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 về phát triển kinh tế - xã hội miền núi).
- Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ và báo cáo chuyên đề của Ủy ban Dân tộc.
- Hệ thống văn kiện của Tỉnh ủy Đắk Lắk: Chương trình số 45-CTr/TU ngày 6/1/1998, Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 26/7/1999, Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 14/1/2005, Kết luận số 05-KL/TU ngày 5/1/2011, Quyết định số 1314-QĐ/2001/UBND ngày 8/5/2001 của UBND tỉnh.
- Báo cáo số liệu thực tế từ Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đắk Lắk, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nội vụ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này điểm luận toàn diện ba nhóm công trình khoa học gồm: nghiên cứu chung về cán bộ; nghiên cứu về cán bộ dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên và cả nước; nghiên cứu công tác cán bộ tại tỉnh Đắk Lắk. Tác giả chỉ rõ các giá trị kế thừa từ các công trình đi trước, đồng thời khẳng định khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết: quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo toàn diện công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2005 đến năm 2015 qua bốn khâu: quy hoạch, đào tạo - bồi dưỡng, sử dụng và thực hiện chính sách.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2005 đến năm 2010
Chương 2 trình bày các yếu tố tác động, phân tích bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội Đắk Lắk sau khi chia tách địa giới hành chính theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội (tách Đắk Lắk thành Đắk Lắk và Đắk Nông). Tỉnh có diện tích 1.201 ha, 13 đơn vị hành chính cấp huyện ban đầu (sau đó chia tách thêm huyện Cư Kuin theo Nghị định 137/2007/NĐ-CP và thị xã Buôn Hồ theo Nghị định 07/2008/NĐ-CP thành 15 đơn vị), 165 xã, 2.129 thôn buôn, có 193 km đường biên giới giáp Campuchia với 10 xã thuộc 6 huyện. Văn hóa mẫu hệ, phong tục buôn làng chi phối việc phụ nữ bị ràng buộc gia đình, tạo khó khăn khi xây dựng cán bộ nữ dân tộc thiểu số. Tình hình an ninh chính trị phức tạp với các vụ biểu tình, gây rối năm 2001, 2004, 2008 do tổ chức phản động kích động.
Chương này tổng kết tiền đề thực tiễn giai đoạn 1999 - 2004 theo tinh thần Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 26/7/1999 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy:
- Công tác tạo nguồn xa thông qua xét tuyển hệ cử tuyển vào đại học, cao đẳng:
| Năm |
Chỉ tiêu được giao (học sinh) |
Kết quả xét tuyển (học sinh) |
Tỷ lệ đạt (%) |
| 1999 |
25 |
7 |
22,60% |
| 2000 |
21 |
21 |
100,00% |
| 2001 |
31 |
31 |
100,00% |
| 2002 |
98 |
85 |
87,00% |
| 2003 |
193 |
178 |
92,00% |
| 2004 |
127 |
120 |
94,00% |
- Công tác đào tạo trường nghề: Trường Công nhân kỹ thuật Cơ điện Đắk Lắk đào tạo 615 học sinh dân tộc thiểu số (219 học sinh có việc làm, tỷ lệ bỏ học 9,7%); Trường Trung học Y tế đào tạo hơn 300 học sinh; các trung tâm dạy nghề có tỷ lệ học sinh bỏ học lên tới 19,6%.
- Công tác tạo nguồn gần qua đào tạo lý luận chính trị và quản lý hành chính trong tỉnh: năm 1999 đào tạo 127 học viên (88 lý luận chính trị, 12 hành chính, 17 phụ vận, 10 thanh vận); năm 2000 đào tạo 95 học viên lý luận chính trị; năm 2001 đào tạo 50 học viên lý luận chính trị; năm 2002 đào tạo 130 học viên lý luận chính trị; năm 2003 đào tạo 23 học viên (20 lý luận chính trị, 3 hành chính); năm 2004 đào tạo 63 học viên (27 lý luận chính trị, 14 phụ vận, 22 thanh vận). Cử đi Học viện Chính trị khu vực III (Đà Nẵng) hơn 90 học viên từ 1999 đến 2004.
- Thực trạng cơ cấu và bố trí cán bộ dân tộc thiểu số toàn tỉnh năm 2004: Toàn tỉnh có 3.439 cán bộ dân tộc thiểu số trên tổng số 30.630 cán bộ, chiếm 11,23%:
| Cấp hành chính |
Khối cơ quan công tác |
Số cán bộ DTTS |
Tổng số cán bộ |
Tỷ lệ (%) |
| Cấp tỉnh |
Khối cơ quan Đảng, đoàn thể |
43 |
428 |
10,00% |
| Cấp tỉnh |
Khối các sở, ban, ngành |
119 |
976 |
12,19% |
| Cấp huyện |
Khối Đảng, đoàn thể |
112 |
868 |
12,90% |
| Cấp huyện |
Khối cơ quan chính quyền |
163 |
1.053 |
15,47% |
| Cấp huyện |
Khối quản lý nhà nước |
120 |
2.029 |
5,92% |
| Cấp huyện |
Khối các đơn vị sự nghiệp |
2.385 |
25.333 |
9,40% |
| Cấp xã |
Khối Đảng, đoàn thể, chính quyền |
634 |
2.262 |
28,02% |
Tại cấp xã, chức danh Bí thư, Phó Bí thư có 31/126 người (12,46%); Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND có 53/134 người (39,55%); Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND có 81/218 người (37,00%); Đại biểu HĐND xã có 1.393/4.927 người (28,30%). Về cơ cấu cấp ủy nhiệm kỳ 2000 - 2005: cấp tỉnh đạt 19,40%; cấp huyện và tương đương đạt 17,02% (huyện, thành phố đạt 18,00%); cấp cơ sở đạt 11,65% (cấp xã đạt 21,00%). Đại biểu HĐND nhiệm kỳ 1999 - 2004: cấp tỉnh đạt 34,70%; cấp huyện đạt 25,80%; cấp xã đạt 31,20%. Trình độ đại học trở lên năm 2004: cấp tỉnh đạt 43,50%; cấp huyện đạt 43,00%; học vấn THPT cấp xã đạt 30,00%. Trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: cấp tỉnh đạt 8,77%; cấp huyện đạt 3,98%; cấp xã đạt 2,00%. Hạn chế tồn tại: Đến tháng 9/2004, toàn tỉnh còn 68 sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp từ trung cấp trở lên chưa bố trí được việc làm.
Về chính sách hỗ trợ: Quyết định số 1314-QĐ/2001/UBND ngày 8/5/2001 bổ sung trợ cấp sinh hoạt phí học sinh nội trú 50.000 đồng/tháng (từ 120.000 đồng lên 170.000 đồng/tháng, hưởng 10 tháng/năm). Đầu năm 2001, tỉnh gặp mặt 521 học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số (trong đó 265 học sinh Êđê), tặng quà 100.000 đồng/em, thưởng loại khá 200.000 đồng, thưởng loại giỏi 300.000 đồng.
Từ thực tiễn đó, ngày 14/1/2005, Tỉnh ủy Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, tập trung chỉ đạo các cấp ủy rà soát quy hoạch, nâng cao chất lượng đào tạo và ưu tiên bố trí cán bộ dân tộc thiểu số vào các vị trí chủ chốt.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2010 đến năm 2015
Chương 3 làm rõ những yêu cầu mới sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và việc Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kết luận số 05-KL/TU ngày 5/1/2011 nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU. Tỉnh ủy chỉ đạo gắn quy hoạch với luân chuyển, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, tăng tỷ lệ cán bộ nữ và cán bộ trẻ người dân tộc thiểu số. Công tác chỉ đạo tập trung vào việc bố trí cán bộ vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở huyện, xã và các sở ban ngành của tỉnh; hoàn thiện các chính sách thu hút, đãi ngộ và giải quyết việc làm cho sinh viên tốt nghiệp hệ cử tuyển, đại học chính quy.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 đưa ra những nhận xét toàn diện:
- Ưu điểm: Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tăng về quy mô và trình độ. Minh chứng phản ánh qua Biểu đồ 3.1 (Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy Đảng, trang 119), Biểu đồ 3.2 (Cán bộ dân tộc thiểu số là đại biểu Hội đồng nhân dân, trang 120) và Biểu đồ 3.3 (Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số đang công tác tại các cơ quan, trang 125).
- Hạn chế: Sự mất cân đối giữa số lượng và chất lượng; tỷ lệ cán bộ nữ dân tộc thiểu số chưa đạt yêu cầu; việc luân chuyển cán bộ tại chỗ còn khó khăn; năng lực chuyên môn ở một số cán bộ cơ sở chưa đồng đều.
- Kinh nghiệm: Rút ra các bài học về nâng cao nhận thức của cấp ủy đối với vai trò cán bộ dân tộc thiểu số; kết hợp chặt chẽ quy hoạch với đào tạo, sử dụng; giải quyết hài hòa chính sách đặc thù với việc tạo động lực tự phấn đấu của cán bộ tại địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học:
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và đường lối chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
- Làm rõ nội dung, phương thức và tiến trình chỉ đạo thực hiện của Tỉnh ủy Đắk Lắk giai đoạn 2005 - 2015, bổ sung nguồn tư liệu lịch sử cho Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở khoa học để các cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh Đắk Lắk tham khảo, vận dụng trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
- Đề xuất giải pháp giải quyết các mâu thuẫn giữa đào tạo và sử dụng, luân chuyển và chính sách hỗ trợ cán bộ dân tộc thiểu số tại địa bàn Đắk Lắk; làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo khu vực Tây Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do phạm vi tư liệu văn bản, luận án giới hạn mốc thời gian từ năm 2005 đến năm 2015; địa bàn nghiên cứu tập trung tại 15 đơn vị cấp huyện của tỉnh Đắk Lắk; số liệu khảo sát chủ yếu tập trung vào diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và một số cơ quan cấp tỉnh, huyện mà chưa bao quát hết mọi đơn vị cấp thôn buôn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk giai đoạn từ 2015 đến nay; mở rộng nghiên cứu đánh giá chuyên sâu năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại cấp cơ sở trong bối cảnh phát triển mới.
Giá trị tham khảo
- Hữu ích đối với: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước; các trường chính trị, trường đại học tại khu vực Tây Nguyên.
- Giá trị vận dụng: Cung cấp tài liệu thực tiễn cho Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Dân tộc và Sở Nội vụ các tỉnh Tây Nguyên trong việc hoạch định chính sách cán bộ dân tộc thiểu số.
- Phần đáng tham khảo: Hệ thống số liệu cử tuyển giai đoạn 1999 - 2004, bảng thống kê cơ cấu cán bộ năm 2004, các văn kiện lãnh đạo (Nghị quyết 05-NQ/TU, Kết luận 05-KL/TU, Chỉ thị 19-CT/TU) và bài học kinh nghiệm tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Hai văn kiện lãnh đạo trực tiếp nào của Tỉnh ủy Đắk Lắk xác định mốc thời gian nghiên cứu của luận án?
Trả lời: Đó là Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 14/1/2005 của Tỉnh ủy Đắk Lắk về lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số (xác định mốc khởi đầu) và Kết luận số 05-KL/TU ngày 5/1/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU (định hình giai đoạn đến năm 2015).
-
Bốn khâu công tác cán bộ nào được luận án tập trung khảo sát?
Trả lời: Luận án tập trung vào bốn khâu chủ yếu: (1) Quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số; (2) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số; (3) Sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số; (4) Chính sách cán bộ dân tộc thiểu số.
-
Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh Đắk Lắk năm 2004 đạt mức nào?
Trả lời: Năm 2004, toàn tỉnh có 3.439 cán bộ dân tộc thiểu số trên tổng số 30.630 cán bộ, chiếm tỷ lệ 11,23%. Trong đó cấp xã có tỷ lệ cao nhất là 28,02% (634/2.262 cán bộ hưởng lương ngân sách).
-
Kết quả tuyển sinh hệ cử tuyển đại học, cao đẳng của Đắk Lắk giai đoạn 1999 - 2004 đạt kết quả ra sao?
Trả lời: Năm 1999 đạt 7/25 chỉ tiêu (22,6%); năm 2000 đạt 21/21 (100%); năm 2001 đạt 31/31 (100%); năm 2002 đạt 85/98 (87%); năm 2003 đạt 178/193 (92%); năm 2004 đạt 120/127 (94%).
-
Năm mâu thuẫn thực tiễn cơ bản trong công tác c