Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết, khái quát các vấn đề có liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt, lý thuyế t hành vi ngôn ngữ, hành vi xin phép, hành vi hồi đáp, lý thuyế t hô ̣i thoa ̣i và l ý thuyế t về mố i quan hê ̣ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Chương 2: Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh, miêu tả, phân tích khái quát các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng, các phương thức biểu hiện trực tiếp và gián tiếp của hành vi xin phép và cách thức hồi đáp trong tiếng Anh trên bình diện ngữ dụng, những yếu tố chi phối các hành vi xin phép và hồi đáp như lịch sự, thể diện, mối quan hệ liên cá nhân, vị thế xã hội, nghề nghiệp, tuổi tác 5 của các vai giao tiếp trong hội thoại. Chương 3: Hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Việt, miêu tả và khái quát các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng, các phương thức biểu hiện trực tiếp và gián tiếp của hành vi xin phép và cách thức hồi đáp trong tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng, những yếu tố chi phối các hành vi xin phép và hồi đáp như lịch sự, thể diện, mối quan hệ liên cá nhân, vị thế xã hội, nghề nghiêp, tuổi tác của các vai giao tiếp trong hội thoại. Chương 4: Sự tương đồng và khác biệt của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Chương này trình bày những điểm tương đồng và những nét khác biệt của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bề mặt cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ dụng. Thông qua ngữ liệu văn chương và phiếu câu hỏi diễn ngôn, rút ra những kết luận về một số khuôn mẫu của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương này cũng phân tích nguyên lí lịch sự, cách ứng xử văn hóa, phong tục tập quán, sự phân tầng về vị thế, tuổi tác, nghề nghiệp trong xã hội được thể hiện trong hành vi xin phép và hồi đáp của người Mỹ và người Việt. Phần Kết luận rút ra những vấn đề mang tính khái quát về các kết quả đã nghiên cứu của luận án về các hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt, đề xuất những ứng dụng khả thi từ những kết quả mà luận án đem lại trong phạm vi lý thuyết và ứng dụng của ngôn ngữ học, đồng thời cũng đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo mang tính chuyên sâu về các loại hành vi ngôn ngữ trong sự so sánh, đối chiếu ở hai ngôn ngữ.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7. Ý nghĩa khoa học 1. Luận án góp phần làm rõ những tương đồng và khác biệt của hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt ở cả hai mặt hình thức tổ chức và ngữ nghĩa-ngữ dụng. Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu theo một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ, hiện đại khi so sánh những điểm tương đồng và khác biệt của đối 6 tượng này trong tiếng Anh và tiếng Việt xét về mặt ngữ dụng học.
Kế thừa các nghiên cứu của các tác giả đi trước như Soehartono & Sianne, Hisae Niki & Hiroko Tajika của Nhật Bản, Lê Thị Thu Lê, Đào Nguyên Phúc của Việt Nam, luận án là sự tiếp nối các nghiên cứu trước đây về hành vi xin phép theo hướng mở rộng của các tác giả này, góp thêm một góc sáng cho bức tranh toàn cảnh về các đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của các hành vi ngôn ngữ trong đó có hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt. Ý nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của luận án có những giá trị thực tiễn nhất định trong việc lý giải các cách sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách có hiệu quả. Việc so sánh đối chiếu một hành vi ngôn ngữ (hành vi xin phép) trong hai thứ tiếng Anh và Việt có nguồn gốc ngôn ngữ và loại hình ngôn ngữ khác nhau cung cấp những chứng cứ và góp phần đưa ra những giả định về tính phổ quát và tính đặc thù của ngôn ngữ trong giao tiếp. Việc nghiên cứu hành vi xin phép và hồi đáp gắn với các yếu tố văn hóa và xã hội có thể được mở rộng để nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ khác qua đó góp phần nghiên cứu văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ.
Những kết quả đạt được của luận án cho phép đưa ra những chỉ dẫn trong việc sử dụng hành vi xin phép và hồi đáp trong giao tiếp một cách có hiệu quả, ngoài ra các kết quả đó sẽ là những tham khảo có ích được sử dụng trong giảng dạy ngoại ngữ; tiếng Anh cho người Việt Nam và tiếng Việt cho người nước ngoài, đặc biệt là trong các giao tiếp ngôn ngữ xã hội. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Ngoài nƣớc Vào đầu những năm 1960, cùng với sự xuất hiện của lí thuyết hành động ngôn từ (speech act theory) do J.Searle khởi xướng, ngữ dụng học bắt đầu bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ, giải đáp và khám phá rất nhiều những địa hạt mới mẻ của ngôn ngữ học.
Từ đây, ngôn ngữ học đã được mở rộng phạm vi quan tâm, bao quát đến từng lời nói cụ thể, từng giao tiếp cụ thể của con người. Người đầu tiên đưa ra lý thuyết hành vi ngôn ngữ là Austin (1962) với công trình nghiên cứu "How to do things with words". Trong thời gian đó, Austin cho rằng, các nhà lôgic và các nhà ngôn ngữ chỉ quan tâm đến những câu khảo nghiệm (còn gọi là khẳng định, trần thuyết, xác tín, miêu tả.) và xem chúng là đối tượng cơ bản để nghiên cứu. Austin đề nghị chia câu thành hai loại: câu tường thuật (constative) và câu ngôn hành.
Câu tường thuật là câu nêu nhận định, còn câu ngôn hành là phát ngôn mà khi nói ra chúng, người nói đồng thời làm một điều gì đó hơn là nêu nhận định về một điều gì đó. Chẳng hạn với các câu: (1) Con xin phép thầy mẹ cho con ra ga ngay. [119, 43] (2) Con thề với bố là ông ấy không hề lấy một xu nào của công ty. [39, 58] chúng ta thấy người nói chẳng đưa ra một nhận định nào cả mà đơn giản là đang thực hiện các hành vi “xin phép”và “thề”.
Austin cho rằng những câu này được người nói phát ngôn ra với mục đích thực hiện một hành vi nào đó như mời, hứa, khuyên, ra lệnh, xin phép, xin lỗi. Như vậy, nhờ phân biệt được phát ngôn tường thuật, miêu tả và phát ngôn ngôn hành, nhà triết học người Anh này đã phát hiện ra bản chất hành vi của ngôn ngữ.L Austin và các tác giả khác, J.R Searle (1969) đã tiến hành phân loại các động từ ngôn hành và chỉ ra những hạn chế trong cách phân loại của J.L 8 Austin (1962) vì ông cho rằng J.L Austin không định ra các tiêu chí phân loại, do đó kết quả phân loại có khi giẫm đạp lên nhau.R Searle (1969) cho rằng “trước hết là phải phân loại các hành động ngôn từ chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng và nếu xác lập được một hệ tiêu chí thích hợp với các hành động ngôn từ thì có thể lý giải được tình trạng giẫm đạp lên nhau của các phạm trù theo cách phân chia của J. Searle đã đưa ra 12 tiêu chí, trong đó 4 tiêu chí quan trọng nhất là: 1. Đích tại lời (illocutionary point); 2.
Hướng khớp ghép lời – hiện thực (direction of fit); 3. Trạng thái tâm lí được biểu hiện; 4. Nội dung mệnh đề; Căn cứ vào 4 tiêu chí này và một số các tiêu chí khác, Searle đã phân loại các hành vi ở lời thành 5 lớp lớn: Tái hiê ̣n (Representatives), Điều khiển (Directives), Kết ước (Commissives), Biểu lộ (Expressives), Xác tín (Assertives). Trong đó, hành vi xin phép được xếp vào nhóm điều khiển, một nhóm bao gồm các hành vi như ra lệnh, yêu cầu, hỏi, xin phép, cho phép.
Nói chung các nhà nghiên cứu ngoài nước đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của hành vi ngôn ngữ với tư cách là một trong những vấn đề chính và cốt lõi của Ngữ dụng học hiện đại. Đề cập đến số lượng các loại chức năng ngôn ngữ thường gặp, Soehartono & Sianne [80, 35] cho rằng:“Có bốn loại chức năng ngôn ngữ chưa bao giờ gặp trong các phát ngôn xin phép trong trường hợp giáo viên có địa vị xã hội cao hơn”. Các chức năng đó là: 1. Đề nghị một chuỗi các hoạt động.
Yêu cầu ai làm gì. Khuyên ai làm gì. Hướng dẫn ai làm gì. Bằng cách phân tích các dữ liệu, Soehartono & Sianne (2003) đã tìm ra chức năng chiếm ưu thế trong hành vi xin phép và kết luận: “Chức năng của hành vi 9 xin phép được theo sau bởi chức năng xin lỗi để thể hiện vị thế xã hội thấp hơn của người xin phép nhằm thuyết phục người có quyền lực cao hơn.
Hisae Niki của trường Đại học Meikai, Chiba và Hiroko Tajika của trường Đại học Tsudo, Tokyo Nhật Bản (1994) trong “Asking for permission vs making requests: strategies chosen by Japanese speakers of English” đã phân tích hành vi xin phép và hành vi yêu cầu dựa trên hai động từ cụ thể “borrow” và “lend” theo các tiêu chí như khoảng cách xã hội, địa vị xã hội giữa người nói và người nghe. Kết quả thu được từ việc khảo sát phiếu câu hỏi diễn ngôn (DCT) với cấu trúc Can I borow…? và Could I borrow…? khi thực hiện các hành vi xin phép và Can you lend.? và Could you lend.? khi thực hiện hành vi yêu cầu cho thấy người bản ngữ thích sử dụng các cấu trúc xin phép trong khi người Nhật có xu hướng sử dụng hành vi yêu cầu trong mọi tình huống. “Nghiên cứu này chỉ mới chỉ dừng lại ở quan hệ giao tiếp là các thành viên trong gia đình, do đó, hạn chế của đề tài này là chưa khảo sát được các hành vi xin phép trong nhiều mối quan hệ xã hội ở những môi trường giao tiếp khác nhau để có những kết luận mang tính chính xác, khách quan và thực tế hơn về cách sử dụng hành vi xin phép và yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Nhật”. (Tajika & Niki, 1991; Niki, 1993) Tóm lại, một số các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới đã quan tâm đến việc nghiên cứu đề tài hành vi xin phép theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau.