Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng việt thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay

Luận án tiến sĩ phân tích hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt từ năm 1986 đến nay, làm rõ đặc điểm và vai trò trong thời kỳ đổi mới.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

167
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ đổi mới 1986 đến nay

Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trong tiểu phẩm báo chí (TPBC) tiếng Việt từ năm 1986 đến nay. Đây là một nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ báo chí, đặc biệt là thể loại TPBC, dưới góc độ ngữ dụng học. Luận án nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm của HĐNNPP, cách thức thực hiện, và sự chi phối của các yếu tố văn hóa - xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ phê phán. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong báo chí.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Tính cấp thiết của đề tài được thể hiện qua việc báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của thể loại TPBC. Tuy nhiên, nghiên cứu về ngôn ngữ trong TPBC, đặc biệt là HĐNNPP, vẫn còn nhiều hạn chế. Luận án này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng việc phân tích sâu sắc các HĐNNPP, từ đó góp phần nâng cao chất lượng ngôn ngữ báo chí và hiệu quả tác động của TPBC đối với xã hội.

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ đặc điểm của HĐNNPP trong TPBC tiếng Việt thời kỳ đổi mới. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống hóa lý thuyết về HĐNN, khảo sát và phân tích các cách thức thực hiện HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp, đồng thời xem xét sự chi phối của các yếu tố văn hóa - xã hội. Luận án cũng hướng đến việc cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ báo chí.

II. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về ngữ dụng học, đặc biệt là lý thuyết về hành động ngôn ngữ (HĐNN)phân tích diễn ngôn phê phán. Ngoài ra, nghiên cứu cũng áp dụng các phương pháp phân tích, miêu tả, và nghiên cứu liên ngành để khảo sát ngữ liệu từ các TPBC tiếng Việt. Các phương pháp này giúp làm rõ đặc điểm cấu trúc, phân loại biểu thức ngôn hành phê phán, và cơ chế xác lập đích ngôn trung của HĐNNPP.

2.1. Lý thuyết về hành động ngôn ngữ

Lý thuyết về HĐNN là nền tảng chính của luận án. HĐNN được hiểu là hành động được thực hiện thông qua lời nói, bao gồm cả hành động trực tiếp và gián tiếp. Trong TPBC, HĐNNPP thường được thực hiện thông qua các biểu thức ngôn hành phê phán (BTNHPP), với các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng như từ ngữ đánh giá tiêu cực, câu hỏi tu từ, và các biện pháp tu từ khác.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp phân tích nội ngônngoại ngôn để xác định đích ngôn trung của HĐNNPP. Phương pháp miêu tả được dùng để phân tích các cách thức và phương tiện ngôn ngữ. Ngoài ra, nghiên cứu còn áp dụng phương pháp thống kê, phân loại, và so sánh để làm rõ đặc điểm của HĐNNPP trong TPBC. Các phương pháp này giúp luận án đạt được kết quả nghiên cứu toàn diện và chính xác.

III. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa

Luận án đã xác định HĐNNPP là hành động chủ đạo trong TPBC tiếng Việt thời kỳ đổi mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng HĐNNPP thường được thực hiện gián tiếp nhiều hơn trực tiếp, với các phương tiện ngôn ngữ đa dạng như câu hỏi tu từ, mỉa mai, và trần thuật. Luận án cũng làm rõ sự chi phối của các yếu tố văn hóa - xã hội như truyền thống văn hóa, hệ tư tưởng chính trị, và nội dung chủ đề đối với việc sử dụng HĐNNPP.

3.1. Đóng góp khoa học

Luận án đã đóng góp vào việc củng cố lý thuyết ngữ dụng học và làm sáng tỏ đặc điểm của ngôn ngữ báo chí trên phương diện ngữ dụng học. Nghiên cứu cũng cung cấp cái nhìn toàn diện về HĐNNPP trong TPBC, từ đó giúp định hướng cho việc tạo lập và tiếp nhận văn bản báo chí một cách hiệu quả hơn.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ báo chí. Nghiên cứu cũng có giá trị thực tiễn cao đối với các nhà báo, biên tập viên, và những người quan tâm đến các vấn đề ngôn ngữ và văn hóa trong báo chí. Luận án gợi ý mở rộng nghiên cứu các HĐNN khác trong các thể loại văn bản cụ thể.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng việt thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chương 2. Hành động ngôn ngữ phê phán trực tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) Chương 3. Hành động ngôn ngữ phê phán được thực hiện gián tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về dụng học Ngữ dụng học, chuyên ngành mới của ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, trong quan hệ với ngữ cảnh sử dụng, giao tiếp. Trong đó, có thể nói rằng, “xương sống” của ngữ dụng học chính là lý thuyết về HĐNN. Trên thế giới, trong khoảng 30 năm qua, ngữ dụng học đã phát triển vô cùng mạnh mẽ và ngày càng có một vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học.

Số lượng chuyên khảo về ngữ dụng học cũng như các công trình nghiên cứu đề cập tới những phương diện, góc độ khác nhau của bộ môn này ngày một gia tăng. Ở Việt Nam, ngữ dụng học cũng đã được các nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh việc tìm hiểu sâu về mặt lý luận thì các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới việc ứng dụng các lý thuyết này vào nghiên cứu từng kiểu loại văn bản để nâng cao hiệu quả giao tiếp, hiệu quả tác động của văn bản cũng như chỉ ra các đặc điểm về lập luận, về hội thoại, về các HĐNN,… được sử dụng trong các thể loại văn bản. Trong phạm vi luận án này, chúng tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu một lĩnh vực của ngữ dụng học đó là lý thuyết HĐNNPP, trên cơ sở soi chiếu việc sử dụng ngôn ngữ từ một thể loại văn bản cụ thể, đó là thể loại TPBC.

Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ Con người chúng ra nói không phải đơn thuần chỉ là nói, mà chính là chúng ta đang hành động. Hoạt động lời nói là một phần trong các hoạt động của con người. Vấn đề này đã được Hêghen đề cập:“Lời nói thực chất là những hành động diễn ra giữa những con người, cho nên nó không phải là trống rỗng”[130]. Lý thuyết HĐNN là một lĩnh vực của ngữ dụng học nghiên cứu các HĐNN.

Theo các nhà dụng học, hành động được thực hiện bằng ngôn ngữ được gọi là hành động ngôn ngữ hay còn được gọi bằng các thuật ngữ tương ứng: hành vi ngôn ngữ, hành động nói, hành động ngôn từ, hành động ngôn tại, hành động ngôn tác, hành động ngôn trung,.Trong luận án này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ hành động ngôn ngữ. Tuy nhiên khi trích dẫn ý kiến của các tác giả nghiên cứu về vấn đề này thì có thể giữ nguyên cách sử dụng thuật ngữ của tác giả được trích dẫn. Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về HĐNN. Bao quát tình hình chung, chúng tôi thấy, các nhà nghiên cứu đi theo hai hướng chính sau: i) Những nghiên cứu có tính lý thuyết về HĐNN; ii) Những nghiên 6 cứu có tính ứng dụng về HĐNN.

Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày lần lượt các hướng nghiên cứu này. Những nghiên cứu có tính lý thuyết về hành động ngôn ngữ * Trên thế giới Những nghiên cứu có tính lý thuyết về HĐNN, tiêu biểu có các nhà nghiên cứu như: J.Yule,… Về HĐNN, John. L Austin (1962) là nhà nghiên cứu đã phát hiện ra bản chất hành động của sự nói năng, tức bản chất hành động của ngôn ngữ. Austin trong cuốn How to do things with word (Hành động như thế nào bằng lời nói) đã khẳng định và xây dựng một hệ thống lý thuyết về HĐNN.

Với lý thuyết này, Austin đã thấy được bản chất xã hội và khía cạnh liên nhân của các phát ngôn. Theo ông, "nói cũng chính là làm" [156], tức là khi chúng ta nói năng cũng có nghĩa là chúng ta hành động; chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện đó chính là ngôn ngữ. Khi ta nói là ta đã thực hiện một hành động bằng lời, trong đó phát ngôn sẽ có những dấu hiệu tường minh và nguyên cấp để biểu thị lực ngôn trung của phát ngôn, hay ý nghĩa đích thực của phát ngôn. Austin cho rằng, người ta thực hiện ba HĐNN khi nói ra một phát ngôn, gồm: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.

Trong đó, hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu,… để tạo ra phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành vi mượn lời là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Hành vi ở lời là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận.

Hành vi ở lời cũng chính là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngữ dụng học [12]. Nói đến các hành vi ở lời, Austin phân ra thành 5 nhóm lớn, gồm: 1) Phán xét; 2) Hành xử; 3) Cam kết; 4) Trình bày và 5) Ứng xử. Trong đó hành động phê phán được Austin xếp vào nhóm Ứng xử. Nhóm hành vi phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, đồng thời chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác, chẳng hạn: xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, nguyền rủa, chống lại,… Tiếp đó, nhà nghiên cứu John Searle (1969) đã tiếp tục phát triển hệ thống lý thuyết HĐNN này.

Searle là người đã chỉ ra hạn chế trong cách phân loại của Austin đó là không nêu ra các tiêu chí phân loại, đồng thời không thấy rõ sự khác biệt giữa hành vi ngôn ngữ và động từ thể hiện hành vi ngôn ngữ. Searle cho rằng, trước hết là 7 phải phân loại các hành vi ở lời và cần xác lập được một hệ thống các tiêu chí thích hợp với các hành vi ngôn ngữ, để tránh sự chồng chéo giữa các phạm trù [12]. Searle đã đưa ra 12 điểm khác biệt, đồng thời là 12 tiêu chí để phân loại hành vi ngôn ngữ. Searle đã phân loại hành vi ở lời ra thành 5 lớp lớn, đó là các hành vi: 1) Tái hiện; 2) Điều khiển; 3) Cam kết; 4) Biểu cảm; 5) Tuyên bố [12].

Nhìn chung, các tiêu chí phân loại của Searle sẽ giúp phân loại được các động từ nói năng (hành động ở lời) thành các phạm trù lớn, rồi lại chia nhỏ thành những loại và tiểu loại. Về việc sử dụng hành động ở lời: Hành động ở lời có thể được sử dụng trực tiếp hoặc có thể được sử dụng theo lối gián tiếp. - Tất cả những HĐNN mà các tác giả nghiên cứu đều là về các HĐNN (hành động ở lời) chân thực, nghĩa là những HĐNN được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng chúng; - Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động ở lời khác là hiện tượng sử dụng HĐNN theo lối gián tiếp. Theo Đỗ Hữu Châu: “Một hành vi sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [12, tr.

Hành động ở lời gián tiếp được Austin nhắc đến một cách sơ lược và được Searle nghiên cứu kĩ và sâu hơn. Thuật ngữ hành động ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech acts) do Searle đặt ra. Các HĐNN gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính mơ hồ về nghĩa trong lời nói. Tuy nhiên, không phải người nói tùy tiện muốn dùng hành động ở lời trực tiếp nào để tạo ra hành động ở lời gián tiếp nào cũng được.

Quy tắc sử dụng gián tiếp các hành động ở lời hoặc vấn đề một hành động ở lời trực tiếp có thể được dùng để tạo ra những hành động gián tiếp nào là vấn đề chưa được giải quyết đến nơi đến chốn, cần tiếp tục có những nghiên cứu tiếp theo. Theo Đỗ Hữu Châu, cũng giống như mọi sự phân loại khác, sự phân loại HĐNN ở lời bao giờ cũng nhằm hai mục tiêu: một là, phát hiện ra các đặc tính quan yếu của các hành vi ở lời (là mục tiêu chủ yếu); hai là, sắp xếp chúng thành từng loại. Về cách phân loại hành động ở lời, chúng tôi còn nhận thấy có các nhà nghiên cứu D. M Harnis cũng tiến hành phân loại HĐNN ở lời.

Cách phân loại của các nhà nghiên cứu này chỉ khác với Searle chủ yếu ở: 1) việc lựa chọn tiêu chí nào là tiêu chí bậc một để phân loại; 2) việc lựa chọn các tiêu chí bổ sung cho tiêu chí bậc một và trật tự vận dụng các tiêu chí đó để phân chia loại lớn thành các tiểu loại. Như vậy, cách phân loại của các nhà nghiên cứu này đều thống nhất với Searle ở mục tiêu thứ nhất, đó là phát hiện ra đặc tính quan yếu của 8 hành động ở lời, thống nhất về đặc tính quyết định hành động ở lời. Điểm khác giữa họ là cách sắp xếp các hành động hay các nhóm hành động trong bảng phân loại của mình, tức chỉ khác ở mục tiêu thứ hai. (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [12, tr.

Nhà nghiên cứu O. Ducrot nói rõ thêm về các hành động ở lời. "Hành động ở lời khác với hành động mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại; chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng trước khi thực hiện hành động ở lời của họ" (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [12, tr. Nhà nghiên cứu G.

Yule (1996) trong cuốn Dụng học [45, tr.97] đã đưa ra giả thuyết ngôn hành những vấn đề của ngữ dụng học: chỉ xuất khoảng cách, quy chiếu và suy luận, tiền giả định và dẫn ý, cộng tác và hàm ý, lịch sự và tương tác, hội thoại, diễn ngôn và văn hóa… đồng thời tác giả này cũng đã đề cập đến hành động nói và sự kiện nói, trong đó có bàn đến các vấn đề như: phương tiện chỉ ra lực ngôn trung, điều kiện may mắn, giả thuyết ngôn hành, phân loại hành động nói,…Theo G.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ đổi mới (1986 đến nay) là một nghiên cứu chuyên sâu về cách ngôn ngữ được sử dụng để phê phán trong các tiểu phẩm báo chí tiếng Việt từ năm 1986 đến nay. Luận án tập trung phân tích các chiến lược ngôn ngữ, mục đích, và hiệu quả của hành động phê phán trong bối cảnh xã hội, chính trị, và văn hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương tác giữa ngôn ngữ và xã hội, đồng thời làm rõ vai trò của báo chí trong việc phản ánh và định hình các vấn đề thời đại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ được sử dụng như một công cụ mạnh mẽ để truyền tải thông điệp và tác động đến nhận thức công chúng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ và xã hội, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn bản tính lý tiết yếu, một tài liệu phân tích sâu về các văn bản và cách chúng phản ánh các giá trị xã hội. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên các trường cao đẳng ở tỉnh Nam Định hiện nay cũng là một nghiên cứu thú vị về cách ngôn ngữ và giáo dục định hình tư tưởng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005 cung cấp góc nhìn về cách chính sách và ngôn ngữ tác động đến các vấn đề xã hội. Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề!