Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)" do nghiên cứu sinh Hà Văn Hậu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Sao Chi và GS. Nguyễn Đức Tồn. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9.20), được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngữ dụng học là chuyên ngành nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng và trong quan hệ với ngữ cảnh giao tiếp, trong đó lý thuyết về hành động ngôn ngữ (HĐNN) giữ vai trò then chốt. Tại Việt Nam, xu hướng ứng dụng lý thuyết ngữ dụng học vào việc nghiên cứu từng kiểu loại văn bản cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp ngày càng được chú trọng.

Báo chí Việt Nam thời kỳ Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Trong các thể loại báo chí, tiểu phẩm báo chí (TPBC) là thể loại phản ánh những hiện tượng, sự việc tiêu cực trong đời sống xã hội thông qua bút pháp châm biếm, đả kích. Do đó, hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) là một trong những HĐNN chủ đạo của thể loại này. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về ngôn ngữ báo chí và TPBC từ góc độ ngữ dụng học còn nhiều hạn chế và thiếu tính hệ thống chuyên sâu. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về HĐNNPP nói chung, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về HĐNNPP trên thể loại TPBC gắn với các nhân tố văn hóa - xã hội chi phối. Việc thực hiện đề tài là cần thiết nhằm bổ sung khoảng trống lý luận và thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những đặc điểm của HĐNNPP với tư cách là một HĐNN tiêu biểu trong thể loại TPBC, từ đó góp phần chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ TPBC nói riêng từ góc độ ngữ dụng học.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về HĐNN (HĐNN trực tiếp, HĐNN gián tiếp, HĐNNPP trực tiếp, HĐNNPP gián tiếp) và lý thuyết về văn bản báo chí, ngôn ngữ báo chí, thể loại TPBC để làm cơ sở lý luận.
  2. Khảo sát, miêu tả và phân tích các cách thức, chiến lược và phương tiện ngôn ngữ thực hiện HĐNNPP trong TPBC tiếng Việt thời kì Đổi mới, bao gồm HĐNNPP trực tiếp và HĐNNPP gián tiếp.
  3. Phân tích sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội (quan điểm, lập trường tư tưởng chính trị, phép lịch sự, truyền thống văn hóa ứng xử của người Việt, đặc trưng giao tiếp báo chí cách mạng, nội dung chủ đề phê phán) tới việc sử dụng HĐNNPP trong TPBC.

Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành động ngôn ngữ phê phán trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới từ năm 1986 đến nay.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát HĐNNPP trên các bình diện: cách thức thực hiện; các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện; sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội.
  • Nguồn ngữ liệu khảo sát: Khảo sát 1.015 tác phẩm tiểu phẩm báo chí tiếng Việt tiêu biểu từ năm 1986 đến năm 2018 của nhiều cây bút tiểu phẩm trên các ấn phẩm báo in, báo điện tử và tạp chí chính thống tại Việt Nam như: Nhân dân, Lao động, Giáo dục và Thời đại, Tiền phong, Thể thao & Văn hóa, An ninh thế giới (cuối tháng), Đời sống & Pháp luật, Nông thôn ngày nay, Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh, tạp chí Nhà báo và Công luận, Người làm báo, Làng Việt...

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba mảng nội dung chính:

1. Nghiên cứu về ngữ dụng học và hành động ngôn ngữ

  • Nghiên cứu lý thuyết trên thế giới: J.L. Austin (1962) với tác phẩm How to do things with words đã đặt nền móng cho lý thuyết HĐNN, phân biệt hành vi tạo lời, mượn lời, ở lời và phân chia 5 lớp hành vi ở lời (Phán xét, Hành xử, Cam kết, Trình bày, Ứng xử). J.R. Searle (1969, 1975) hoàn thiện lý thuyết với 12 tiêu chí phân loại, đề xuất 5 lớp hành vi (Tái hiện, Điều khiển, Cam kết, Biểu cảm, Tuyên bố), lý thuyết HĐNN gián tiếp (indirect speech acts) và 4 điều kiện thỏa mãn. Các nghiên cứu tiếp theo của D.M. Harnis, O. Ducrot, G. Yule (1996), J. Lyons đã làm rõ thêm cơ chế ngữ dụng, cấu trúc vị từ - tham thể và các phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung (IFIDs).
  • Nghiên cứu lý thuyết tại Việt Nam: Hoàng Phê (1989), Đỗ Hữu Châu (1992, 2009), Nguyễn Đức Dân (1998), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1995), Nguyễn Thiện Giáp (1998), Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Văn Hiệp, Đỗ Việt Hùng... đã hệ thống hóa các vấn đề ngữ dụng học và phân tích trên ngữ liệu tiếng Việt.
  • Nghiên cứu ứng dụng về HĐNN:
    • Phân tích động từ ngôn hành và sự kiện lời nói: Chử Thị Bích (2008 - lời nói cho, tặng), Trần Thị Hoàng Yến (2014 - hành động chửi), Nguyễn Thị Hoàng Yến (2006 - chê), Hà Thị Hải Yến (2000, 2006 - cảm thán), Đào Nguyên Phúc (2007 - xin phép), Dương Tuyết Hạnh (2007 - nhờ), Vũ Tố Nga (2010 - cam kết), Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Đào Thanh Lan (2011 - mời, rủ), Lương Đình Khánh (2012 - từ "thì").
    • Nghiên cứu so sánh, đối chiếu liên ngôn ngữ: Nguyễn Văn Quang (1998 - khen), Nguyễn Văn Độ (1999 - thỉnh cầu), Nguyễn Phương Chi (2004 - từ chối), Trần Chi Mai (2005 - từ chối), Siriwong Hongsawan (2009 - bác bỏ), Trần Thị Thu Phương (2015 - hỏi và hồi đáp), Lê Thị Thúy Hà (2015 - HĐNN phê phán tiếng Việt và tiếng Anh).
    • Nghiên cứu HĐNN trong thể loại văn bản: Khuất Thị Lan (2000 - truyện ngắn Nam Cao), Nguyễn Thị Bạch Dương (2011 - cam kết trong văn bản hành chính), Vũ Ngọc Hoa (2011 - cầu khiến trong văn bản hành chính).

2. Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ phê phán

  • Tác giả quốc tế: Tracy, Dussen và Robinson (1987) nghiên cứu các đặc tính của lời phê phán tốt và xấu cùng các nhóm chủ đề phê phán; House và Kasper (1981), Tracy và Eisenberg (1990), Wajnryb (1993, 1995) khảo sát phản ứng của người tiếp nhận lời phê phán; Toplak và Katz (2000) nghiên cứu hiệu quả giao tiếp của lời phê phán trực tiếp và gián tiếp; A. Wierzbicka (1987) với English Speech act verbs cung cấp khung định nghĩa giải thích ngữ nghĩa các động từ nói năng.
  • Tác giả Việt Nam: Nguyễn Thị Thủy Minh (2005), Hoàng Thị Xuân Hoa (2008), Đoàn Trần Thùy Vân (2010), Lê Thị Thúy Hà (2014, 2015) nghiên cứu HĐNN phê phán dưới góc độ chuyển di ngữ dụng, giao thoa văn hóa Việt - Mỹ, đối chiếu tiếng Anh - tiếng Việt và tính lịch sự trong lời phê phán.

3. Nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí và tiểu phẩm báo chí

  • Tác giả quốc tế: Frank Dance (1950s), Leonard Ray Teel và Ron Taylor (2004), Line Ross (2004), Philip Gaillard (2007), Khoa Báo chí Đại học Missouri (2004) tiếp cận ngôn ngữ báo chí dưới góc nhìn báo chí học và xã hội học truyền thông.
  • Tác giả Việt Nam: Trường Tuyên huấn Trung ương (1977), Đinh Trọng Lạc (1993), Nguyễn Trọng Báu (1995), Đức Dũng (1998), Hà Minh Đức (2000), Đinh Văn Đức và Nguyễn Hòa (1999, 2003), Hữu Đạt (2000), Vũ Quang Hào (2001), Hoàng Anh (2003, 2008), Nguyễn Tri Niên (2004), Nguyễn Đức Dân (2004, 2007), Trần Thanh Nguyện (2011), Hồ Xuân Mai (2014), Dương Xuân Sơn (2012, 2013), Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Thị Hằng Thu (2012), Trần Thế Phiệt (2014), Trịnh Thị Bích Liên (2009), Cao Thị Xuân Phượng (2011), Mai Xuân Huy (2005), Huỳnh Thị Chuyên (2014), Nguyễn Đức Tồn (1999), Trịnh Sâm (2008), Đinh Kiều Châu (2014, 2016)...

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trước đây về HĐNN phê phán chủ yếu khai thác trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, qua hội thoại văn học hoặc so sánh đối chiếu ngôn ngữ. Về phía ngôn ngữ báo chí, các công trình chủ yếu tập trung vào phong cách học chức năng, đặc điểm từ vựng - ngữ pháp chung hoặc các thể loại phóng sự, tin tức, quảng cáo. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về HĐNNPP trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới dưới góc độ ngữ dụng học, kết hợp phân tích cấu trúc ngôn hành với các nhân tố văn hóa - xã hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết hành động ngôn ngữ: Luận án vận dụng các khái niệm nền tảng: lực ngôn trung (lực tại lời - $F$), nội dung mệnh đề ($p$), phát ngôn ngôn hành (PNNH tường minh và PNNH nguyên cấp), biểu thức ngôn hành (BTNH), động từ ngôn hành (ĐTNH), các phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung (IFIDs).
  2. Khái niệm hành động ngôn ngữ phê phán: Dựa trên khung phân tích của A. Wierzbicka, tác giả xác lập định nghĩa: HĐNNPP là hành động đánh giá thấp, bộc lộ quan điểm không đồng tình, phản đối của người phát ngôn ($Sp_1$) đối với hành vi nào đó bị coi là xấu, sai trái, tiêu cực của $Y$ (người/đối tượng bị phê phán), nhằm mục đích tác động tới nhận thức, thái độ, hành vi của người tiếp nhận phát ngôn ($Sp_2$) để hướng họ tới sự đấu tranh, bài trừ, xóa bỏ hành vi sai trái, tiêu cực đó.
  3. Điều kiện thực hiện HĐNNPP:
    • Điều kiện nội dung mệnh đề: $Sp_1$ nhận thấy $Y$ có hành vi sai trái, tiêu cực gây hậu quả không tốt.
    • Điều kiện chuẩn bị: $Sp_1$ cảm thấy không hài lòng và cho rằng $Sp_2$ chưa nhận thức đầy đủ nên $Sp_1$ có trách nhiệm đưa ra lời phê phán.
    • Điều kiện chân thành: $Sp_1$ tin rằng lời phê phán sẽ góp phần thay đổi hành vi của $Y$ theo hướng tích cực.
    • Điều kiện căn bản: $Sp_1$ tự ràng buộc trách nhiệm về tính đúng đắn của nội dung phê phán.
  4. Thang độ lực ngôn trung của các tiểu nhóm phê phán: HĐNNPP thuộc lớp bộc lộ/ứng xử, được phân cấp theo cường độ lực ngôn trung tăng dần:
Cường độ lực ngôn trung Thấp / nhẹ Trung bình Cao / mạnh Rất cao / rất mạnh
Tiểu nhóm HĐNN Chê / chê trách Phê bình Phê phán, Chỉ trích Phản đối, Lên án

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu chính:
    • Phương pháp phân tích: Phân tích nội ngôn (phương tiện ngôn ngữ, cấu trúc BTNH, PNNH trực tiếp và gián tiếp) và phân tích ngoại ngôn (ngữ cảnh, yếu tố văn hóa - xã hội) để xác định đích ngôn trung.
    • Phương pháp miêu tả: Miêu tả cách thức và các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện HĐNNPP.
    • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp ngôn ngữ học với lý luận báo chí, văn hóa học, xã hội học và tâm lý học.
  • Thủ pháp nghiên cứu:
    • Thủ pháp thống kê, phân loại.
    • Thủ pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa.
    • Thủ pháp cải biên / thay thế giả định.
    • Thủ pháp so sánh, đối chiếu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về ngữ dụng học, HĐNN, HĐNNPP và ngôn ngữ báo chí. Tác giả xây dựng nền tảng lý luận vững chắc cho luận án thông qua việc làm rõ:

  • Bản chất của HĐNN, cấu trúc hai thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn gồm nội dung mệnh đề ($p$) và lực ngôn trung ($F$).
  • Các tiêu chí phân biệt PNNH tường minh (có chứa ĐTNH) và PNNH nguyên cấp (vắng mặt ĐTNH, dựa vào IFIDs và ngữ cảnh).
  • Bản chất ngữ dụng của HĐNN trực tiếp và HĐNN gián tiếp.
  • Khái niệm, 4 điều kiện thực hiện, căn cứ xã hội - pháp lý và thang độ lực ngôn trung của HĐNNPP.
  • Đặc trưng của văn bản báo chí và thể loại TPBC (tính thời sự, tính chiến đấu, tính châm biếm đả kích, đối tượng phản ánh là các hiện tượng tiêu cực có thật trong xã hội).

Chương 2: Hành động ngôn ngữ phê phán trực tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

Chương 2 khảo sát, miêu tả và phân loại cấu trúc biểu thức ngôn hành của HĐNNPP trực tiếp trong ngữ liệu:

  • Tần số xuất hiện: Trong tổng số ngữ liệu khảo sát, HĐNNPP trực tiếp chỉ xuất hiện 72 lượt. Điều này phản ánh đặc trưng của phê phán là hành động đe dọa thể diện cao, do đó các tác giả TPBC ít khi lựa chọn phương thức trực tiếp.
  • Phân loại biểu thức ngôn hành phê phán trực tiếp:
    • BTNHPP tường minh: Sử dụng các ĐTNHPP ở ngôi thứ nhất thời hiện tại (như: phê bình, phê phán, lên án, phản đối, chỉ trích).
    • BTNHPP nguyên cấp: Không sử dụng ĐTNHPP, thay vào đó sử dụng các từ ngữ đánh giá tiêu cực (tính từ, trạng từ mang nghĩa phán xét, chê trách) kết hợp với cấu trúc vị từ - tham thể.
  • Các thành phần trong BTNHPP trực tiếp: Khảo sát sự hiển thị hoặc vắng mặt của chủ thể phát ngôn ($Sp_1$), đối tượng tiếp nhận ($Sp_2$), đối tượng bị phê phán ($Y$), động từ ngôn hành và nội dung mệnh đề phê phán ($NDMĐPP$).
  • Thành phần mở rộng trong phát ngôn phê phán trực tiếp:
    • Thành phần mở rộng nêu cơ sở phê phán: Viện dẫn các quy định pháp luật, chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán hoặc các văn bản pháp lý làm căn cứ đánh giá.
    • Thành phần mở rộng mang tính rào đón: Sử dụng các cấu trúc rào đón nhằm làm giảm nhẹ độ đe dọa thể diện, tăng tính khách quan và thuyết phục cho lời phê phán.

Tổng hợp các bảng thống kê trong Chương 2:

STT Ký hiệu bảng Tên bảng thống kê trong luận án Nội dung/Số lượng khảo sát chính
1 Bảng 2.1 Thống kê tần số xuất hiện HĐNNPP trực tiếp và HĐNNPP gián tiếp So sánh tổng thể tần số giữa trực tiếp (72) và gián tiếp (1.152)
2 Bảng 2.2 Thống kê tần số sử dụng các kiểu loại BTNHPP Thống kê tỷ lệ BTNHPP tường minh và nguyên cấp
3 Bảng 2.3 Thống kê tần số hiển thị Sp1 trong BTNHPP Tần số xuất hiện/ẩn của chủ thể phát ngôn
4 Bảng 2.4 Thống kê động từ ngôn ngữ phê phán trong TPBC Phân loại các ĐTNHPP được sử dụng
5 Bảng 2.5 Thống kê tần số hiển thị Sp2 trong BTNHPP Tần số xuất hiện/ẩn của đối tượng tiếp nhận
6 Bảng 2.6 Thống kê các nhóm chủ đề phê phán của 72 HĐNNPP trực tiếp Phân bố chủ đề trong 72 phát ngôn trực tiếp
7 Bảng 2.7 Thống kê từ ngữ đánh giá tiêu cực trong BTNHPP Phân loại các đơn vị từ vựng mang nghĩa tiêu cực
8 Bảng 2.8 Thống kê phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong BTNHPP Các dấu hiệu hình thức và ngữ pháp chuyên biệt
9 Bảng 2.9 Thống kê thành phần mở rộng trong 72 phát ngôn phê phán trực tiếp Tần số xuất hiện thành phần nêu cơ sở và rào đón

Chương 3: Hành động ngôn ngữ phê phán được thực hiện gián tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

Chương 3 đi sâu nghiên cứu phương thức thực hiện HĐNNPP gián tiếp – hình thức chủ đạo trong thể loại TPBC với tổng số 1.152 lượt xuất hiện:

  • Các nhóm HĐNN được sử dụng để gián tiếp phê phán:
    1. Nhóm HĐNN biểu cảm - phê phán: Thực hiện phê phán gián tiếp thông qua các hành động biểu cảm:
      • Than phiền - phê phán: 84 lượt.
      • Mỉa mai - phê phán: 48 lượt.
      • Phủ định - phê phán: 11 lượt.
    2. Nhóm HĐNN tái hiện - phê phán: Nghiên cứu trường hợp hành động trần thuật - phê phán. Đây là hình thức xuất hiện phổ biến nhất trong TPBC với 661 lượt. Tác giả tiểu phẩm sử dụng hình thức trần thuật, tường thuật sự việc có thật nhưng sắp xếp tình tiết, dùng từ ngữ nghịch lý để tạo lực ngôn trung phê phán mạnh mẽ.
    3. Nhóm HĐNN điều khiển - phê phán: Nghiên cứu trường hợp hành động hỏi - phê phán với 123 lượt xuất hiện. Tác giả sử dụng các dạng câu hỏi tu từ, câu hỏi cất vấn không nhằm tìm kiếm thông tin mà để bộc lộ thái độ phản đối, lên án.
  • Đặc điểm chung và sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội:
    • HĐNNPP gián tiếp giúp người viết giảm bớt tính chất gay gắt, bảo toàn thể diện cho các bên tham thoại, phù hợp với truyền thống ứng xử tế nhị, lịch sự của người Việt.
    • Phù hợp với tôn chỉ, tính chiến đấu và định hướng dư luận của báo chí cách mạng Việt Nam.
    • Tạo tính thẩm mỹ, nghệ thuật gây cười, châm biếm sâu cay cho thể loại tiểu phẩm.

Tổng hợp các bảng thống kê trong Chương 3:

STT Ký hiệu bảng Tên bảng thống kê trong luận án Quy mô số liệu ngữ liệu
1 Bảng 3.1 Thống kê các nhóm HĐNN được sử dụng để gián tiếp thực hiện HĐNNPP Tổng thể các nhóm HĐNN gián tiếp
2 Bảng 3.2 Tổng hợp các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong 84 HĐNN than phiền - phê phán 84 lượt ngữ liệu than phiền
3 Bảng 3.3 Tổng hợp các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong 48 HĐNN mỉa mai - phê phán 48 lượt ngữ liệu mỉa mai
4 Bảng 3.4 Tổng hợp các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong 11 HĐNN phủ định - phê phán 11 lượt ngữ liệu phủ định
5 Bảng 3.5 Tổng hợp các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong 661 HĐNN trần thuật - phê phán 661 lượt ngữ liệu trần thuật
6 Bảng 3.6 Tổng hợp các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng trong 123 HĐNN hỏi - phê phán 123 lượt ngữ liệu hỏi
7 Bảng 3.7 Thống kê các dạng phát ngôn ngôn hành của HĐNN hỏi - phê phán Phân loại các kiểu cấu trúc hỏi
8 Bảng 3.8 Thống kê các nhóm chủ đề phê phán của 1.152 HĐNNPP gián tiếp 1.152 lượt ngữ liệu gián tiếp

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Xác định vai trò của HĐNNPP trong TPBC: Luận án khẳng định HĐNNPP là hành động ngôn ngữ chủ đạo trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới (từ năm 1986 đến nay).
  2. Xây dựng hệ thống khái niệm và khung phân tích chuyên biệt: Đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về HĐNNPP; xác định 4 điều kiện thực hiện; phân lập thang độ lực ngôn trung của các tiểu nhóm (từ chê trách đến lên án); xác lập mô hình cấu trúc biểu thức ngôn hành phê phán trực tiếp và gián tiếp.
  3. Chỉ ra các quy luật phân bố và chiến lược ngôn ngữ: Chứng minh trên số liệu thực chứng rằng HĐNNPP trực tiếp xuất hiện với tần số rất thấp (72 lượt), trong khi HĐNNPP gián tiếp chiếm ưu thế tuyệt đối (1.152 lượt). Chỉ ra cơ chế nhận diện đích ngôn trung và cường độ lực ngôn trung của từng kiểu loại phát ngôn.
  4. Lý giải mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa - xã hội: Bước đầu giải thích sự tác động của truyền thống văn hóa ứng xử dân tộc, phép lịch sự, hệ tư tưởng chính trị và đặc trưng báo chí cách mạng đến việc lựa chọn các chiến lược phê phán gián tiếp trong TPBC.

Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị

  • Ứng dụng trong đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy các học phần Ngữ dụng học, Tiếng Việt thực hành, Ngôn ngữ báo chí tại các trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành Ngữ văn, Báo chí - Truyền thông.
  • Ứng dụng trong hoạt động báo chí: Cung cấp cơ sở lý thuyết và các phương tiện ngôn ngữ cụ thể giúp các phóng viên, biên tập viên nâng cao kỹ năng tạo lập và biên tập tiểu phẩm báo chí, vận dụng hiệu quả các chiến lược phê phán gián tiếp nhằm tăng sức thuyết phục và tính thẩm mỹ cho tác phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát trong phạm vi 1.015 tác phẩm tiểu phẩm báo chí từ năm 1986 đến năm 2018 trên các ấn phẩm báo in, tạp chí và báo điện tử chính thống; chưa mở rộng so sánh với các thể loại báo chí chính luận khác (như xã luận, bình luận) hoặc các diễn ngôn báo chí mạng xã hội đương đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu các hành động ngôn ngữ khác (hành động khen, hành động khuyến nghị, hành động cảnh báo...) trong thể loại tiểu phẩm báo chí.
    • Khảo sát HĐNNPP trên các thể loại báo chí khác hoặc mở rộng nghiên cứu đối chiếu HĐNNPP trong tiểu phẩm báo chí giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung phân tích HĐNN trực tiếp, gián tiếp và phương pháp nghiên cứu ngữ dụng học ứng dụng trên thể loại văn bản cụ thể.
  • Giảng viên ngành Ngữ văn, Báo chí và Truyền thông: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các chuyên đề về Ngữ dụng học, Ngôn ngữ báo chí và Thể loại tác phẩm báo chí.
  • Nhà báo, phóng viên, biên tập viên: Tham khảo các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng (trần thuật châm biếm, câu hỏi tu từ, rào đón, mỉa mai) để vận dụng vào quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí đạt hiệu quả tác động xã hội cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới, HĐNNPP gián tiếp lại chiếm tần số áp đảo so với HĐNNPP trực tiếp?

Theo kết quả khảo sát của luận án, HĐNNPP là hành động có mức độ đe dọa thể diện rất cao. Trong 1.015 tiểu phẩm, HĐNNPP gián tiếp xuất hiện 1.152 lượt trong khi HĐNNPP trực tiếp chỉ có 72 lượt. Sự chênh lệch này xuất phát từ đặc trưng thể loại TPBC (sử dụng tiếng cười châm biếm, đả kích tế nhị) kết hợp với truyền thống văn hóa giao tiếp coi trọng sự lịch sự, tế nhị của người Việt, giúp người viết vừa phê phán hiện tượng tiêu cực vừa giảm thiểu căng thẳng đối đầu trực diện.

2. Cấu trúc biểu thức ngôn hành của HĐNNPP trực tiếp gồm những thành phần nào?

Biểu thức ngôn hành phê phán trực tiếp gồm các thành phần nòng cốt: Chủ thể phát ngôn ($Sp_1$), Đối tượng tiếp nhận ($Sp_2$), Đối tượng bị phê phán ($Y$), Động từ ngôn hành phê phán ($ĐTNHPP$ - đối với dạng tường minh) hoặc Từ ngữ đánh giá tiêu cực (đối với dạng nguyên cấp), và Nội dung mệnh đề phê phán ($NDMĐPP$). Ngoài ra còn có các thành phần mở rộng gồm: thành phần nêu cơ sở của sự phê phán và thành phần rào đón.

3. Nhóm hành động ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất để thực hiện gián tiếp hành động phê phán trong luận án?

Nhóm hành động tái hiện - phê phán, cụ thể là hành động trần thuật - phê phán được sử dụng nhiều nhất với 661 lượt xuất hiện (trong tổng số 1.152 lượt phê phán gián tiếp). Phương thức này kể lại hoặc miêu tả các sự kiện, hành vi phi lý, trái quy chuẩn trong thực tế để người đọc tự rút ra hàm ý phê phán.

4. Luận án xác định thang độ lực ngôn trung của các tiểu nhóm hành động phê phán như thế nào?

Dựa trên Từ điển tiếng Việt và lý thuyết ngữ dụng học, luận án sắp xếp cường độ lực ngôn trung theo 4 bậc tăng dần:

  • Mức thấp/nhẹ: Chê / chê trách
  • Mức trung bình: Phê bình
  • Mức cao/mạnh: Phê phán, chỉ trích
  • Mức rất cao/rất mạnh: Phản đối, lên án

5. Nguồn ngữ liệu của luận án được thu thập từ những cơ quan báo chí nào?

Ngữ liệu gồm 1.015 bài tiểu phẩm báo chí tiêu biểu từ năm 1986 đến năm 2018 trên các ấn phẩm: báo Nhân dân, Lao động, Giáo dục và Thời đại, Tiền phong, Thể thao & Văn hóa, An ninh thế giới (cuối tháng), Đời sống & Pháp luật, Nông thôn ngày nay, Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh, tạp chí Nhà báo và Công luận, Người làm báo, Làng Việt và các trang web chính thức của các cơ quan báo chí này.


Kết luận

Luận án của tác giả Hà Văn Hậu là công trình nghiên cứu hệ thống về hành động ngôn ngữ phê phán trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới dưới góc độ ngữ dụng học. Bằng việc khảo sát 1.015 tác phẩm báo chí, luận án đã làm sáng tỏ các đặc điểm cấu trúc, phương tiện biểu hiện của HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp, chứng minh vai trò áp đảo của phương thức phê phán gián tiếp trong thể loại này. Công trình không chỉ làm rõ sự tương tác giữa cấu trúc ngôn ngữ với các nhân tố văn hóa - xã hội mà còn đóng góp nguồn tư liệu khoa học giá trị cho nghiên cứu ngôn ngữ học và nghiệp vụ báo chí.