Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội theo pháp luật Việt Nam" do nghiên cứu sinh Khuất Việt Hải thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Minh (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9.07, bảo vệ năm 2023).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngân sách nhà nước (NSNN) là nguồn lực tài chính cốt lõi phục vụ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước. Nếu NSNN bị thâm hụt hoặc quản lý yếu kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô. Do đó, hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – là một tất yếu khách quan nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các sai phạm trong toàn bộ chu trình ngân sách từ khâu lập dự toán, chấp hành đến quyết toán NSNN.

Mặc dù hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động này đã từng bước được xây dựng thông qua Hiến pháp năm 2013, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập:

  • Khái niệm giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội chưa được phân định ranh giới rõ ràng, dẫn đến lúng túng trong việc xác định phạm vi và quy trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể chịu sự giám sát.
  • Đối tượng chịu sự giám sát theo quy định còn quá rộng, dàn trải, chưa định vị được trọng tâm cần tập trung là cơ quan hành pháp (Chính phủ và các Bộ, ngành).
  • Các hình thức giám sát còn thiếu tính đa dạng và tính khả thi; quy trình thực hiện một số phương thức giám sát còn mang tính hình thức.
  • Công tác thu thập thông tin, điều tra, xử lý các vụ việc tài chính phức tạp còn gặp trở ngại do pháp luật chưa quy định cơ chế thành lập hoặc thuê các thiết chế chuyên môn, tổ chức đánh giá độc lập để phục vụ giám sát chuyên sâu.
  • Trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý đối với việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát chưa được quy định cụ thể, dẫn đến hiệu lực thi hành kết luận giám sát chưa cao.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội, luận án đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội Việt Nam.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội, chỉ rõ các nội dung kế thừa và khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết.
  2. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội và pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội (khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc, chức năng, vai trò, hình thức, nội dung và các yếu tố tác động).
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội tại Việt Nam theo các hình thức giám sát và chu trình ngân sách; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  4. Đề xuất các quan điểm, định hướng và hệ thống giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội trong giai đoạn đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:

  1. Hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội được hiểu như thế nào, nhằm đạt mục tiêu gì? Các hình thức và nội dung giám sát được thể hiện như thế nào? Pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội là gì, gồm những nội dung nào và chịu sự tác động của các yếu tố nào?
  2. Các quy định pháp luật hiện hành về giám sát NSNN của Quốc hội có những ưu điểm và hạn chế nào? Thực tiễn thực thi các quy định này đã đạt hiệu quả ra sao?
  3. Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội trong giai đoạn tới cần tập trung theo những định hướng và nhóm giải pháp nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, vấn đề lý luận về hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội; hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội; thực tiễn thi hành pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung nghiên cứu pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước trong quy trình NSNN, bao gồm ba khâu: (i) giám sát xây dựng dự toán NSNN; (ii) giám sát việc thực hiện dự toán NSNN; (iii) giám sát việc thực hiện quyết toán NSNN. Luận án không đi sâu nghiên cứu hoạt động giám sát đối với các khoản nợ công.
    • Về không gian: Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc quản lý, sử dụng, quyết toán NSNN trên phạm vi cả nước, bao gồm cả ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP) trong mô hình ngân sách lồng ghép.
    • Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2023), định hướng hoàn thiện đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã tiến hành tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung chính được đề cập
Lý luận về giám sát và giám sát NSNN của Quốc hội/Nghị viện - Joel D. Aberbach (2012), Changes in Congressional Oversight.
- Walter J. Oleszek, Congressional Oversight: An Overview.
- Yamamoto (2007), IPU (2006, 2008), ECA (2004).
- Paul Posner & Chung-Keun Park (2007).
- Scott W. Olson, Riccardo Pelizzo và cộng sự (2006).
- Nguyễn Đình Quyền, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Thái Phúc, Nguyễn Sĩ Dũng (2008, 2011).
- Trương Thị Hồng Hà (2008), Trần Tuyết Mai (2009), Vũ Thị Mỹ Hằng (2016), Đinh Xuân Thảo, Lê Thanh Vân (2011), Nguyễn Thúy Hoa (2015), Nguyễn Thanh Tùng (2021), Nguyễn Hoàng Anh (2009).
Khẳng định giám sát là hệ quả tất yếu của lập pháp; xác định bản chất của giám sát nghị viện là kiểm soát hoạt động của nhánh hành pháp. Phân tích quyền giám sát tối cao, quyền chất vấn của ĐBQH, mối quan hệ giữa lập pháp và giám sát ngân sách, cấu trúc quyền lực và công cụ giám sát tài chính công.
Thực trạng pháp luật và thực tiễn giám sát NSNN - Mark J. Zwick (2001), Who runs Congress?
- Ngân hàng Thế giới (WB), Legislative Oversight and Budgeting: A World Perspective.
- Lê Như Tiến (2009), Vũ Tiến Thản (2020), Hồ Thị Hải, Đinh Xuân Thảo & Hoàng Văn Tú (2013).
- Viện Nghiên cứu Lập pháp (2015), Đoàn Đức Lương & Viên Thế Giang (2015), Phạm Thị Giang Thu (2013), Nguyễn Thị Nhung (2020), Bùi Đặng Dũng (2019).
Phân tích cơ chế giải trình tài chính công tại nhiều quốc gia; đánh giá thực trạng các quy định về chất vấn, xem xét báo cáo, giám sát chuyên đề; chỉ ra những vướng mắc trong giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tài sản công, phân tán trong giám sát thị trường tài chính và hạn chế trong tiêu chí đánh giá thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giám sát - Walter J. Oleszek, Dự án UNDP (2009–2012).
- Nguyễn Sĩ Dũng & Vũ Công Giao (2015).
- Báo cáo Dự án Văn phòng Quốc hội – UNDP (2012).
- Viện Nghiên cứu Lập pháp, Trịnh Thị Xuyến (2007), Phan Trung Lý (2010).
Đề xuất giải pháp kiểm soát quyền lực nhà nước; nâng cao năng lực quyết định và giám sát ngân sách của cơ quan dân cử; đổi mới quy trình chất vấn, giải trình tại UBTVQH và các Ủy ban của Quốc hội; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trước đây tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung hoặc nghiên cứu giám sát NSNN trước thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013, Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Các khoảng trống học thuật mà luận án tập trung giải quyết gồm:

  • Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về pháp luật giám sát NSNN của Quốc hội gắn liền với từng khâu cụ thể của chu trình ngân sách (lập dự toán, phân bổ/giao dự toán, chấp hành và quyết toán NSNN) dưới góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế.
  • Thiếu sự phân định lý luận rõ ràng giữa hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội mang tính quyền lực nhà nước cao nhất với hoạt động thanh tra hành chính/chuyên ngành của Thanh tra Chính phủ và hoạt động kiểm toán chuyên môn của Kiểm toán Nhà nước.
  • Chưa có nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố tác động đến pháp luật giám sát NSNN, giá trị pháp lý của kết luận giám sát và cơ chế bảo đảm thực thi các kiến nghị sau giám sát NSNN.
  • Thiếu các giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc sửa đổi các điều khoản cụ thể trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 với việc nâng cao năng lực chuyên môn tài chính - ngân sách cho đội ngũ đại biểu Quốc hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm cốt lõi

Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các hệ thống lý thuyết nền tảng của khoa học pháp lý và kinh tế học pháp luật:

  • Lý thuyết về Nhà nước và pháp luật: Sử dụng để luận giải nguồn gốc quyền lực, vị trí, vai trò của Quốc hội trong việc kiểm soát quyền lực của cơ quan hành pháp thông qua công cụ tài chính - ngân sách.
  • Lý thuyết về quan hệ pháp luật: Phân tích cấu trúc quan hệ giám sát giữa chủ thể giám sát (Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội) và đối tượng chịu sự giám sát (các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng NSNN).
  • Lý thuyết về hành vi và trách nhiệm pháp lý: Nhận diện các hành vi vi phạm kỷ luật tài chính - ngân sách, làm cơ sở xây dựng các chế tài pháp lý xử lý vi phạm trong chu trình ngân sách.
  • Lý thuyết về giám sát tài chính và quản trị rủi ro: Phân tích yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống tài chính quốc gia, kiểm soát thâm hụt ngân sách, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình theo chuẩn mực quản trị hiện đại.
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                                    QUY TRÌNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC                                    |
|   [ 1. Lập & Giao dự toán ]  -->  [ 2. Quá trình Chấp hành NSNN ]  -->  [ 3. Quyết toán NSNN ]     |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
                                                  |
                                                  v
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                            HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI (PHÁP LUẬT VN)                          |
|  - Chủ thể: Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban TCNS, Đoàn ĐBQH, Đại biểu Quốc hội          |
|  - Hình thức: Xem xét báo cáo, Chất vấn & trả lời chất vấn, Giám sát chuyên đề, Phiên giải trình   |
|  - Nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp; Khách quan, công khai, minh bạch; Không cản trở hoạt động       |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+

Khái niệm giám sát NSNN của Quốc hội: Là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài chính - ngân sách trong toàn bộ các khâu của quy trình ngân sách (chuẩn bị/xây dựng dự toán, chấp hành và quyết toán NSNN) nhằm đánh giá việc tuân thủ pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy định pháp luật, tổng kết lý luận và thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp luật học so sánh: So sánh quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 với các đạo luật tiền nhiệm (năm 2002, 2003); tham chiếu kinh nghiệm giám sát ngân sách của nghị viện một số quốc gia.
  • Phương pháp chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn, tham vấn ý kiến chuyên gia, đại biểu Quốc hội và thành viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách (dữ liệu tại Phụ lục số 14–17).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích các trường hợp sai phạm cụ thể trong quản lý chi thường xuyên, đầu tư công và phân bổ ngân sách để minh chứng cho các lập luận.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu tiến trình phát triển của hệ thống pháp luật giám sát ngân sách tại Việt Nam từ năm 2011 đến nay.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý các số liệu quản lý thu - chi ngân sách, các đợt giám sát chuyên đề của Quốc hội trong giai đoạn 2011–2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về giám sát của nghị viện và giám sát tài chính công; phân tích các kết quả đã đạt được và chỉ rõ những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo. Tác giả xác lập khung cơ sở lý thuyết cho đề tài (lý thuyết nhà nước và pháp luật, quan hệ pháp luật, hành vi và trách nhiệm pháp lý, quản trị rủi ro tài chính), đồng thời công bố hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 4 nhiệm vụ và phương pháp luận áp dụng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về giám sát ngân sách nhà nước và pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội

Chương 2 luận giải các khái niệm bản chất, đặc điểm, mục tiêu và nguyên tắc của hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội:

  • Đặc điểm cơ bản: Chủ thể giám sát mang tính quyền lực nhà nước tối cao; đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức sử dụng vốn NSNN; phạm vi bao trùm toàn bộ chu trình ngân sách (cả NSTW và NSĐP trong cơ chế ngân sách lồng ghép); tính chất phức tạp đòi hỏi kỹ năng và chuyên môn sâu về kinh tế - tài chính.
  • Mục tiêu giám sát: Đảm bảo tính tuân thủ pháp luật; nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; phát hiện, ngăn ngừa thất thoát, lãng phí và điều chỉnh chính sách tài chính vĩ mô phù hợp với lợi ích cử tri.
  • Phân định thẩm quyền: Luận án chỉ rõ sự khác biệt giữa giám sát NSNN của Quốc hội (hoạt động mang tính quyền lực chính trị - pháp lý cao nhất) với hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước (cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập để đánh giá, xác nhận số liệu tài chính công) và hoạt động thanh tra của Thanh tra Chính phủ (hoạt động hành chính - công vụ thuộc nhánh hành pháp).
  • Ba nguyên tắc chỉ đạo: (1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (2) Bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, minh bạch; (3) Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
  • Hình thức giám sát: Bao gồm giám sát trực tiếp (chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp hoặc phiên họp UBTVQH) và giám sát gián tiếp (xem xét báo cáo tài chính - ngân sách, giải trình tại các Ủy ban, tổ chức đoàn giám sát chuyên đề).
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Thể chế chính trị - pháp lý; mô hình tổ chức bộ máy nhà nước; năng lực, cơ cấu của đại biểu Quốc hội (đặc biệt là tỷ lệ đại biểu chuyên trách); tính chuẩn xác của hệ thống thông tin dữ liệu tài chính; vai trò của bộ máy cơ quan tham mưu giúp việc và mức độ tham gia giám sát của cử tri, xã hội.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội ở Việt Nam

Chương 3 phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2011–2023:

  • Thực trạng pháp luật: Hệ thống hóa các quy phạm điều chỉnh quyền hạn của Quốc hội, UBTVQH, Ủy ban Tài chính - Ngân sách, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác và đại biểu Quốc hội trong các văn bản: Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi, bổ sung 2020), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, Luật Ngân sách nhà nước 2015, Luật Đầu tư công 2019. Phân tích cụ thể thẩm quyền giám sát trong từng khâu: lập dự toán (thảo luận, quyết định số kiểm tra, phân bổ dự toán), chấp hành dự toán (kiểm tra tiến độ thu, chi, chuyển nguồn), quyết toán ngân sách (thẩm tra báo cáo quyết toán và kết quả kiểm toán).
  • Thực tiễn thực hiện: Đánh giá các đợt giám sát chuyên đề nổi bật (như giám sát về đầu tư công, nợ công, vốn trái phiếu Chính phủ, chi thường xuyên); hiệu quả các phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính và các thành viên Chính phủ; hoạt động giải trình tại Ủy ban Tài chính - Ngân sách; việc phối hợp sử dụng kết quả kiểm toán từ Kiểm toán Nhà nước.
  • Ưu điểm đạt được: Khung pháp lý ngày càng đầy đủ; hoạt động giám sát dần đi vào chiều sâu; chất vấn và giải trình diễn ra thực chất hơn, tạo sức ép minh bạch hóa việc sử dụng ngân quỹ quốc gia.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Quy định về giám sát tối cao còn mang tính khái quát, chưa xác định rõ trọng tâm vào bộ máy hành pháp.
    • Hình thức giám sát còn thiếu linh hoạt; chưa có quy định pháp lý cho phép Quốc hội thuê hoặc sử dụng các tổ chức đánh giá độc lập để thẩm định dữ liệu tài chính phức tạp.
    • Chế tài pháp lý đối với việc không thực hiện kết luận giám sát chưa nghiêm ngặt, dẫn đến tình trạng kiến nghị giám sát chậm được khắc phục.
    • Tỷ lệ đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm còn cao; nhiều đại biểu thiếu kiến thức chuyên sâu về tài chính công; thời gian và dữ liệu cung cấp cho đại biểu nghiên cứu báo cáo ngân sách còn hạn chế.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm:

  • Quan điểm, định hướng: Hoàn thiện pháp luật phải phù hợp với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuẩn hóa theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 nhằm phân định rõ thẩm quyền, quy trình giám sát từng khâu trong chu trình ngân sách.
    • Bổ sung quy định bắt buộc về trách nhiệm giải trình và chế tài cụ thể xử lý người đứng đầu cơ quan không thực hiện nghiêm túc kết luận, kiến nghị sau giám sát.
    • Thể chế hóa cơ chế cho phép các cơ quan của Quốc hội thuê chuyên gia độc lập, tổ chức tư vấn chuyên môn tham gia hỗ trợ các đoàn giám sát chuyên đề về tài chính - ngân sách.
    • Hoàn thiện quy định về thời gian gửi hồ sơ, tài liệu ngân sách cho đại biểu Quốc hội để đảm bảo đủ thời gian thẩm tra, thảo luận.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đổi mới cơ cấu đại biểu Quốc hội: tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách, chú trọng lựa chọn các đại biểu có trình độ chuyên môn sâu về kinh tế, tài chính, luật học.
    • Củng cố và nâng cao năng lực bộ máy tham mưu, giúp việc của Ủy ban Tài chính - Ngân sách và Viện Nghiên cứu Lập pháp.
    • Tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội với Kiểm toán Nhà nước trong việc cung cấp thông tin, phát hiện sai phạm và hậu kiểm quyết toán ngân sách.
    • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa hệ thống dữ liệu ngân sách quốc gia phục vụ hoạt động giám sát trực tuyến của các đại biểu.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về giám sát NSNN và pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội; xác định rõ khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc, chức năng và vai trò của giám sát NSNN theo chu trình ngân sách; làm rõ mối quan hệ và sự khác biệt giữa giám sát của Quốc hội với thanh tra hành chính và kiểm toán nhà nước.
  2. Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về giám sát NSNN của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2011–2023; nhận diện chính xác các điểm nghẽn pháp lý, những bất cập trong tổ chức thực hiện và nguyên nhân căn bản dẫn đến hạn chế về hiệu lực, hiệu quả giám sát.
  3. Về mặt đề xuất, kiến nghị lập pháp: Xác lập hệ thống quan điểm, định hướng đến năm 2030; đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đồng bộ, kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể các điều luật trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015; đưa ra nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp, độc lập và kỷ luật tài chính trong hoạt động giám sát của Quốc hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do phạm vi tiếp cận từ góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế và giới hạn đề tài, luận án không đi sâu phân tích toàn diện hoạt động giám sát nợ công và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Dữ liệu thực tiễn được khảo sát tập trung chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2023 theo các văn bản luật hiện hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu cơ chế pháp lý giám sát đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nợ công, vốn đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp; nghiên cứu sâu hơn về khuôn khổ pháp lý cho việc áp dụng kiểm toán hoạt động và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong quy trình giám sát số hóa của Quốc hội khi hệ thống pháp luật ngân sách tiếp tục được sửa đổi trong tương lai.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan soạn thảo: Cung cấp luận cứ khoa học và các đề xuất điều khoản sửa đổi cụ thể cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính - Ngân sách, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính trong quá trình sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015.
  • Đối với Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND: Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ hữu ích, giúp các đại biểu nắm vững quy trình, phương thức và kỹ năng giám sát tài chính - ngân sách qua từng khâu lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hiến pháp và Hành chính, Quản lý công và Tài chính công.

Câu hỏi thường gặp

1. Giám sát ngân sách nhà nước của Quốc hội được định nghĩa như thế nào trong luận án?

Theo luận án, giám sát NSNN của Quốc hội là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tài chính - ngân sách trong toàn bộ các khâu của quy trình ngân sách, bao gồm: xây dựng dự toán, chấp hành và quyết toán NSNN nhằm đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật về NSNN, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

2. Giám sát NSNN của Quốc hội khác biệt như thế nào so với hoạt động của Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ?

  • Giám sát NSNN của Quốc hội là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước cao nhất (giám sát tối cao của cơ quan lập pháp), gắn liền với chức năng quyết định ngân sách và biểu quyết tín nhiệm chính trị.
  • Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập, thực hiện chức năng kiểm toán độc lập nhằm đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của số liệu tài chính công, tài sản công để cung cấp căn cứ chuyên môn cho Quốc hội.
  • Thanh tra Chính phủ là cơ quan thuộc nhánh hành pháp, thực hiện thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành theo quy trình nghiệp vụ hành chính nhằm phát hiện, xử lý sai phạm trong nội bộ cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân liên quan.

3. Hoạt động giám sát NSNN của Quốc hội phải tuân thủ các nguyên tắc nào?

Hoạt động này dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:

  1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật (bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định).
  2. Bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, minh bạch (kết luận dựa trên số liệu thực tế chính xác; kết quả giám sát được báo cáo trước cử tri qua các phương tiện thông tin đại chúng).
  3. Không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

4. Luận án chỉ ra những bất cập lớn nào trong quy định pháp luật thực định hiện hành?

Luận án chỉ ra các bất cập chính: khái niệm giám sát tối cao chưa phân định rõ với giám sát của các cơ quan Quốc hội; đối tượng giám sát quá rộng làm dàn trải nguồn lực; hình thức giám sát chưa đa dạng; thiếu cơ chế pháp lý để thuê hoặc thành lập các tổ chức đánh giá độc lập hỗ trợ kỹ thuật; chưa có chế tài pháp lý rõ ràng, nghiêm ngặt đối với việc chậm hoặc không thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát.

5. Luận án đề xuất sửa đổi những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào?

Luận án kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể tại:

  • Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (các quy định về quy trình lập dự toán, chấp hành, thẩm tra quyết toán và thời hạn cung cấp hồ sơ ngân sách).
  • Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (các quy định về thẩm quyền giải trình, cơ chế hậu giám sát, sự tham gia của chuyên gia độc lập và chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Khuất Việt Hải đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám sát NSNN của Quốc hội theo pháp luật Việt Nam. Bằng việc tiếp cận theo chu trình ngân sách và chuyên ngành Luật Kinh tế, công trình đã làm rõ bản chất quyền lực, chức năng và các nguyên tắc cốt lõi của hoạt động giám sát ngân sách. Các đánh giá thực trạng giai đoạn 2011–2023 đã phản ánh đúng những thành tựu và hạn chế trong khung pháp lý cũng như tổ chức thi hành. Hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực chủ thể giám sát được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia.