MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Vốn là điều kiện tiên quyết để DNNVV tồn tại và phát triển. Các DNNVV thành lập thường không cần nhiều vốn đầu tư ban đầu, có thể dùng vốn tự có của chủ doanh nghiệp và vốn góp của các cổ đông. Tuy nhiên, để tồn tại và phát triển các DNNVV phải tìm cách mở rộng thị trường, nâng cao năng lực hoạt động.
Khi DNNVV phát triển càng nhanh thì càng cần đầu tư nhiều và vì thế cần phải huy động thêm nhiều vốn đầu tư mới. DNNVV phải tìm kiếm và sử dụng các hình thức tiếp cận vốn phù hợp và có lợi nhất cho doanh nghiệp. Vốn cho DNNVV gồm hai nguồn chính là vốn bên trong và vốn bên ngoài doanh nghiệp. Trong đó, vốn tín dụng ngân hàng là nguồn bên ngoài tài trợ quan trọng cho DNNVV, giúp DNNVV mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp DNNVV phản ứng linh hoạt trước những biến động của nền kinh tế.
Tuy nhiên, có một nghịch lý là thị trường tín dụng DNNVV bao gồm các doanh nghiệp có nhu cầu tài chính quá lớn đối với hoạt động tài chính vi mô nhưng lại quá nhỏ để tận dụng hiệu quả các mô hình dịch vụ ngân hàng dành cho doanh nghiệp lớn [57], do đó các DNNVV sẽ gặp rất nhiều khó khăn để có thể tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Hiện nay, DNNVV đang chiếm ưu thế về số lượng so với doanh nghiệp lớn và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, từng địa phương. Tại tỉnh Phú Thọ, tính đến 31/12/2017 toàn tỉnh có 3.680 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó số DNNVV chiếm 89,3% [5]. Các DNNVV tại tỉnh Phú Thọ có quy mô vốn nhỏ, nhưng đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực, đã giải quyết tốt vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động, đặc biệt là người lao động địa phương; khai thác và phát huy các nguồn lực sẵn có của địa phương, đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách của tỉnh, và góp phần không nhỏ vào quá trình công 1 nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Bên cạnh những thế mạnh của mình, các DNNVV tại tỉnh Phú Thọ cũng đã và đang bộc lộ nhiều yếu điểm, trong đó nhiều DNNVV thiếu vốn, khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Đặc biệt, hiện nay với sự thông thoáng của các quy định pháp lý về điều kiện thành lập doanh nghiệp cũng như chính sách khuyến khích hộ kinh doanh chuyển lên hoạt động ở loại hình DNNVV đã giúp gia tăng nhanh chóng số lượng DNNVV trong thời gian ngắn, nhưng điều này cũng làm số DNNVV không tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng tăng lên do các DNNVV mới thành lập này khó đáp ứng được các điều kiện cấp tín dụng của NHTM. Do đó, nếu không có các giải pháp kịp thời để cải thiện thì đây sẽ trở thành thách thức lớn đối với sự tồn tại và phát triển của khối doanh nghiệp này. Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/05/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp yêu cầu NHNN Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng [6].
Bám sát chủ trương của Chính phủ, NHNN đã và đang có những bước đi đúng đắn, kịp thời ban hành những chính sách hợp lý định hướng cho các tổ chức tín dụng từng bước nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế, trong đó chú trọng đẩy mạnh tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cho DNNVV,. Qua đó, theo Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing Business Report) của Ngân hàng Thế giới từ năm 2015 đến nay thì chỉ số tiếp cận tín dụng (getting credit) của Việt Nam đã được cải thiện và giữ ổn định trong nhóm 30 nước có chỉ số cao nhất, chỉ số tiếp cận tín dụng năm 2018 của Việt Nam xếp thứ 29 trên tổng số 190 quốc gia, tăng 3 bậc so với năm 2017, tăng 7 bậc so với năm 2014 [72, tr. Mặc dù vậy, kết quả cấp tín dụng cho DNNVV còn nhiều bất cập như tỷ lệ dư nợ tín dụng DNNVV chiếm tỷ trọng thấp (trung bình 22% đến 25%) trong tổng dư nợ tín 2 dụng toàn bộ nền kinh tế trong giai đoạn 2013 – 2017; số lượng DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng còn khá khiêm tốn, chỉ hơn 30% DNNVV tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng, gần 70% còn lại sử dụng vốn tự có hoặc vay từ các nguồn vốn khác với chi phí cao và nhiều rủi ro [43]. Các DNNVV tại tỉnh Phú Thọ cũng không ngoại lệ, khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thì các DNNVV thường gặp trở ngại như thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, lãi suất cho vay còn cao, các điều kiện cấp tín dụng của NHTM vẫn chưa phù hợp với đặc thù riêng của DNNVV,… Phú Thọ là tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng kinh tế của tỉnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.
Bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, của UBND tỉnh Phú Thọ và NHNN Việt Nam trong điều hành hoạt động tiền tệ ngân hàng, trong những năm qua, ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã thực hiện nhiều chương trình kết nối giữa ngân hàng - doanh nghiệp, nhất là các DNNVV, từng bước tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng nhằm phục hồi, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tính đến 31/12/2017 tổng dư nợ tín dụng DNNVV là 9.449 tỷ đồng (chiếm 19,33% tổng dư nợ) với 2.081 DNNVV còn dư nợ và 2.147 DNNVV được tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng trong năm 2017 (chiếm 35,73% tổng số DNNVV đăng ký kinh doanh) [26]. Thực tế này cho thấy dư nợ tín dụng DNNVV tại tỉnh Phú Thọ chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ tín dụng và thấp hơn trung bình cả nước, số DNNVV chưa tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng còn ở mức cao. Ngoài ra, trong tổng số 6.402 doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh thì chỉ có 3.680 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động (chiếm 57,5%), số còn lại không phát sinh hoạt động sản xuất kinh doanh, tạm ngừng hoạt động hoặc chờ làm thủ tục giải thể, phá sản [5].
Đây là vấn đề đáng quan ngại đối với tỉnh Phú Thọ nói riêng và Việt Nam nói chung, 3 đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng cùng với những thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Điều này đòi hỏi Chính phủ, các địa phương, ngành ngân hàng và các DNNVV,… cần phải có những giải pháp để thúc đẩy quan hệ tín dụng giữa NHTM với DNNVV, giải quyết triệt để những khó khăn, trở ngại trong quá trình tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV. Những phân tích trên chỉ rõ tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV. Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Phú Thọ” làm luận án tiến sĩ của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học công bố trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của luận án. Tác giả chọn lọc và phân loại các công trình mà luận án có so sánh, kế thừa và phát triển theo 2 nhóm: (i) Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết để làm căn cứ khoa học, tạo nền tảng lý thuyết cơ bản khi nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV, bao gồm lý thuyết phân bổ tín dụng, lý thuyết kinh tế học thể chế, lý thuyết mạng lưới quan hệ xã hội và lý thuyết kinh tế có điều tiết. (ii) Nhóm các công trình nghiên cứu thực nghiệm gồm các luận án tiến sĩ, các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín mô tả kết quả nghiên cứu thực nghiệm về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV ở một số nước có những nét tương đồng với Việt Nam hoặc ở một số tỉnh của Việt Nam. Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết 2.
Lý thuyết phân bổ tín dụng 4 Lý thuyết phân bổ tín dụng (credit rationing) được đề xuất bởi Stiglitz & Weiss (1981) trong nghiên cứu “Credit rationing in markets with imperfect information” (Phân bổ tín dụng trong các thị trường có thông tin không hoàn hảo). Theo quy luật cung cầu tín dụng, bên cầu tín dụng (người đi vay - DNNVV) với mong muốn tối đa lợi ích kỳ vọng của mình từ việc vay tiền của bên cung tín dụng (người cho vay - NHTM), và để có quyền sử dụng số tiền vay này, DNNVV phải trả cho NHTM một khoản chi phí (lãi vay) trên cơ sở thỏa thuận của hai bên. Tuy nhiên, nghiên cứu của Stiglitz & Weiss (1981) cho thấy quy luật cung cầu tín dụng dựa vào lãi suất không thể giải thích khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV do quyết định cấp tín dụng không chỉ đơn thuần bị điều chỉnh bởi lãi suất trên thị trường, mà quyết định cấp tín dụng phụ thuộc vào cách mà NHTM lựa chọn, đánh giá DNNVV dựa trên thông tin của DNNVV mà NHTM thu thập được [69]. Điều này có nghĩa không phải tất cả DNNVV đều được cấp tín dụng khi có nhu cầu, NHTM sẽ quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu dựa trên một tập hợp các thông tin mà NHTM có được về DNNVV.
Nói cách khác, dòng chảy vốn tín dụng không chỉ tuân theo lý thuyết cung cầu, nó là một quá trình cân nhắc, trong đó DNNVV nộp hồ sơ vay vốn, sau đó NHTM xác định số tiền cho vay dựa trên cách đánh giá của NHTM đối với DNNVV. Theo Stiglitz & Weiss (1981), thông tin bất cân xứng sẽ dẫn đến việc các NHTM hạn chế cấp tín dụng cho DNNVV do NHTM khó có thể phân biệt mức độ rủi ro và khả năng trả nợ giữa các DNNVV [69]. Thông tin bất cân xứng xuất hiện trong quan hệ tín dụng khi NHTM có ít thông tin hơn DNNVV về tình hình tài chính, mục đích và quá trình sử dụng vốn vay của DNNVV,. dẫn đến NHTM ra quyết định cấp tín dụng không còn chính xác.