CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Biến đổi khí hậu mà biểu hiện của nó là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao đã và đang tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn cầu. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với các ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác [123]. Thiên tai và những biểu hiện của quá trình biến đổi khí hậu diễn ra từ từ đã và đang tác động đến nơi cư trú và sinh kế của nhiều người dân.
Những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu không chỉ tập trung mô tả xu hướng và biểu hiện của biến đổi khí hậu mà còn tập trung mô tả những tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống kinh tế, xã hội của con người cũng như các giải pháp làm giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu [137]. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn bởi những tác động của biến đổi khí hậu. “Trong giai đoạn 2008-2015, Việt Nam có khoảng 2 triệu người phải lánh nạn do hậu quả của thiên tai.
Nhiều người phải chuyển cư đến sinh sống ở vùng đất mới tạm thời hay vĩnh viễn” [4, tr. Những người ở lại luôn có mức độ bị tổn thương cao vì khu vực sinh sống của họ vẫn thường xảy ra thiên tai nhiều lần trong năm. Theo khuyến cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu, “Việt Nam sẽ bị mất hơn 40.000 km2 chiếm 12,1 % tổng diện tích đất hiện có khi mực nước biển dâng lên 100 cm, khi đó sẽ có hơn 17,1 triệu người sẽ mất đi nơi sinh sống” [17]. Biến đổi khí hậu được cho là có tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, xã hội.
Biến đổi khí hậu dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới ngành nông nghiệp. “Nó cũng là nguyên nhân phát sinh các virus mới và những virus đột biến gây bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng.” [17] Theo báo cáo của Bộ tài nguyên và Môi trường: Đồng bằng sông Cửu Long, là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển dâng cao 22 100 cm khu vực đồng bằng châu thổ này sẽ có khoảng 39% diện tích bị ngập, điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới gần 35% dân số, nguy cơ mất đi 40,5% tổng sản lượng lúa của cả vùng [17]. Những năm qua các hiện tượng khí hậu cực đoan như: bão lũ, mực nước biển dâng cao khiến cho tình trạng xâm nhập mặn diễn ra ngày càng nhiều.
Sạt lở bờ sông và ven biển, đã khiến cho những người mà sinh kế của họ dựa vào hoạt động nông nghiệp ngày càng trở nên bấp bênh. Cũng như nhiều tỉnh thành khác trong khu vực, thành phố Cần Thơ là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng như: sạt lở bờ sông, ngập lụt, xâm nhập mặn, lũ, triều cường, sạt lở đất, nắng nóng, bão, lốc xoáy. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng thành phố Cần Thơ, diễn biến sạt lở bờ sông, kênh rạch trên địa bàn thành phố diễn ra ngày một nghiêm trọng, phức tạp, gia tăng cả về cường độ và số lượng [132]. Từ năm 2010 đến cuối năm 2017 trên địa bàn thành phố Cần Thơ xuất hiện “153 điểm sạt lở, với chiều dài sạt lở khoảng 6km, làm 63 căn nhà bị hư hại hoàn toàn.
Ngoài ra, thành phố Cần Thơ còn có trên 106 vị trí có nguy cơ sạt lở cao với tổng chiều dài khoảng 52,7km” [132]. Đến năm 2020 “toàn thành phố Cần Thơ có khoảng 9.353 hộ bị ảnh hưởng bởi sạt lở và xâm nhập mặn cần được bố trí ổn định cuộc sống” [132]. Những khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố Cần Thơ đó là quận Ninh Kiều, Cái Răng, Phong Điền, Bình thủy. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới “Những biến động lớn và tình huống căng thẳng do biến đổi khí hậu gây ra có khả năng làm ngưng trệ các hệ thống của đô thị và làm đảo ngược các thành quả phát triển kinh tế xã hội phải nhiều năm mới đạt được.13] Với thành phố Cần Thơ những biến động lớn, có sức tàn phá do thiên tai, sạt lở, ngập lụt có thể làm ngưng trệ hoạt động của một số hay toàn bộ các hệ thống đô thị, và có thể gây ra những tổn thất, thiệt hại về tài sản và sinh mạng.
Những biến động lớn nghiêm trọng hay tình huống căng thẳng kéo dài cũng có thể để lại những hậu quả sâu sắc, dai dẳng cho sự phát triển của con người [10, tr. Bên cạnh đó chúng ta cần nhận thức rằng “những mất mát do thiên tai thường đi liền với hay bị làm trầm trọng hơn bởi đói nghèo và tình trạng khó khăn của người nghèo do bất ổn kinh tế - xã hội và môi trường mang lại”[10, tr.13] 23 Như vậy, các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra cho chúng ta thấy những biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu là thành phố Cần Thơ. Đây là những chỉ dẫn về mặt lý luận và thực tiễn giúp tác giả lựa chọn địa bàn nghiên cứu cũng như tìm hiểu về bối cảnh trong đó các quá trình di động nghề nghiệp diễn ra. CÁC NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG LIÊN THẾ HỆ VỀ NGHỀ NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM Di động xã hội nói chung, di động nghề nghiệp nói riêng là vấn đề được rất nhiều nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu trong đó phải kể đến các nhà xã hội học tiêu biểu như E Durkheim, Sorokin, Anthony Giddens, Stuart S.Từ những năm đầu thế kỷ XX nhà xã hội học người Mỹ Sorokin đã bàn về di động xã hội một cách khá hệ thống.
Trong tác phẩm “Social mobility” (di động xã hội) (1927), Sorokin đã chỉ ra rằng: “các kênh lưu thông dọc tồn tại ở bất cứ xã hội phân tầng nào…đó là điều cần thiết cho sự phân phối tài năng vào các nghề nghiệp một cách hiệu quả” [27, tr. Đặc biệt những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2 vấn đề di động liên thế hệ được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [43, tr. Những đóng góp về mặt lý thuyết cho nghiên cứu về di động liên thế hệ phải kể đến công trình nghiên cứu của Peter M. Blau và Otis D.
Duncan, (1967) khi các tác giả này chỉ ra mối liên hệ giữa vị thế nghề nghiệp của cha và con trai. Blau và Otis D. Duncan trong tác phẩm cơ cấu nghề nghiệp ở Mỹ (American occupational structure) chỉ ra rằng những người nam giới có bố làm công việc có vị thế trên có tỷ lệ nắm giữ các địa vị ở phía trên của tháp phân tầng cao hơn và sự tác động của cha đến con trai được thực hiện thông qua giáo dục [96, tr. Khi mô tả mô hình di động liên thế hệ về nghề nghiệp Blau and Duncan, (1967) bàn đến sự duy trì vị thế nghề nghiệp được liên hệ với nguồn gốc xã hội và động lực của các cá nhân.
Đặc biệt động lực của các cá nhân có thể được xác định bởi đặc tính nghề nghiệp gắn liền với mức thu nhập và vị thế xã hội. Những đóng góp về mặt lý thuyết cho nghiên cứu về di động liên thế hệ cũng phải kể đến bài viết của Conlisk (1974) khi tác giả phân tích quá trình chuyển giao các nguồn lực kinh tế giữa các thế hệ thông qua việc phân tích tình trạng kinh tế xã hội của cá nhân được đo bằng thu nhập hoặc 24 các nguồn thu[21]. Becker và Tomes (1978 và 1989) đề xuất một mô hình trong đó di động là kết quả của việc cha mẹ đầu tư vào giáo dục cho con cái nhằm tối đa hóa những mong đợi. Các tác giả này chỉ ra rằng mối liên hệ giữa kinh tế của cha mẹ và địa vị kinh tế của con cái phụ thuộc vào các đặc trưng văn hóa và mức độ đầu tư giáo dục của cha mẹ [14,tr.
Solon (1992) và Zimmerman (1992) lại đưa ra mô hình đánh giá tính di động liên thế hệ ở Hoa Kỳ dựa trên cơ sở ước tính độ co giãn thu nhập giữa các thế hệ. Theo phương pháp này Solon và Zimmerman chỉ ra rằng sự di động trong xã hội Hoa Kỳ dường như không lớn như những gì đã được mô tả trong các công trình nghiên cứu trước đây. Như vậy, xét về mặt lý thuyết và phương pháp các nghiên cứu về di động liên thế hệ thường quan tâm đến sự chuyển giao những loại nguồn lực như: tài sản, thu nhập, vị thế nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình để mô tả những chiều cạnh khác nhau của bất bình đẳng. Di động liên thế hệ về nghề nghiệp được đánh giá thông qua dịch chuyển vị thế nghề nghiệp giữa các thế hệ.
Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng khi nghiên cứu di động liên thế hệ về nghề nghiệp các nhà nghiên cứu kinh điển ở Mỹ và Châu Âu đều chỉ xem xét sự di động, sự thành đạt của con trai so với nguồn gốc của cha thể hiện trong bảng quay vòng cha con (Father- son Turnover Table). Hertel (2017) sử dụng mô hình so sánh vị thế xã hội của cha được xác định trong suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu với địa vị đạt được của các cá nhân trong cuộc sống sau này để đánh giá di động xã hội trong thế kỷ 20 –di động giai cấp và sự thay đổi nghề nghiệp ở Mỹ và Đức. Trong tác phẩm này di động liên thế hệ là mối liên hệ giữa nguồn gốc xã hội được đo lường qua vị thế xã hội của cha và địa vị đạt được của con [38, tr. Peter Franz cho thấy rằng các nghiên cứu về di động đã bỏ qua mà không phân tích kỹ lưỡng hơn về sự di động của nhóm phụ nữ, người nước ngoài hay nhóm người làm việc trong lĩnh vực thông tin [43, tr.
Điều này bị phê phán về mặt lý thuyết và phương pháp.