Đánh giá lưu hành vi-rút cúm gia cầm H5N1 và hiệu quả vắc-xin Navet-Fluvac 2 tại TP.HCM

Nghiên cứu đánh giá mức độ lưu hành virus cúm gia cầm clade 2.3.2.1 tại vùng lân cận TP.HCM và hiệu quả bảo vệ của vắc-xin NavetfluVac 2. Đưa ra cơ sở khoa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

185
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình lưu hành vi rút cúm gia cầm khu vực TP

Nghiên cứu đánh giá tình hình lưu hành vi-rút Cúm gia cầm H5N1 tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Khảo sát thực hiện trên 2.880 mẫu tại cơ sở giết mổ từ 8 tỉnh gồm Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre và TP.HCM. Ngoài ra, 1.800 mẫu thu thập từ đàn gia cầm khỏe mạnh tại 5 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ. Kết quả tại cơ sở giết mổ và đàn gia cầm khỏe mạnh không phát hiện trường hợp dương tính vi-rút cúm A/H5N1. Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện 51/63 mẫu dương tính từ các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh tại hộ chăn nuôi. Dấu hiệu lâm sàng phổ biến gồm ủ rũ, bỏ ăn, phù đầu, thở khò khè, liệt chân, sả cánh, phân trắng xanh, xoay vòng, co giật. Dấu hiệu thần kinh trên vịt đặc biệt điển hình.

1.1. Tình hình lấy mẫu và giám sát vi rút cúm gia cầm

Nghiên cứu triển khai lấy mẫu tại nhiều địa điểm khác nhau trong khu vực phía Nam. Tổng cộng 2.880 mẫu được thu thập từ cơ sở giết mổ gia cầm có nguồn gốc từ 8 tỉnh lân cận TP.HCM. Song song đó, 1.800 mẫu từ đàn gia cầm khỏe mạnh tại 5 huyện ngoại thành TP.HCM. Phương pháp giám sát bao gồm xét nghiệm Real-time RT-PCR. Kết quả tại hai nhóm mẫu này đều âm tính với vi-rút cúm A/H5N1. Điều này cho thấy công tác giám sát tại cơ sở giết mổ và đàn khỏe mạnh đạt hiệu quả cao.

1.2. Phát hiện vi rút cúm A H5N1 từ trường hợp nghi ngờ

Từ các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh Cúm gia cầm tại hộ chăn nuôi, nghiên cứu thu thập 63 mẫu xét nghiệm. Kết quả ghi nhận 51 mẫu dương tính với vi-rút Cúm A/H5N1. Tỷ lệ dương tính đạt 80,95%. Các mẫu được thu thập tại TP.HCM và các tỉnh lân cận. Dấu hiệu lâm sàng trên gà và vịt mắc bệnh rất đa dạng. Bệnh tích điển hình bao gồm não và phổi xuất huyết, xuất huyết lớp mỡ vành tim, gan lách sưng xuất huyết. Da chân xuất huyết trên gà là bệnh tích đặc trưng.

II. Phân tích di truyền các chủng vi rút cúm gia cầm lưu hành

2.1. Đặc điểm các clade vi rút cúm A H5N1 phát hiện

Clade 2.1c chiếm ưu thế với 22/26 chủng phân lập (84,6%). Clade 1.2 gồm 3 chủng và clade 2 chỉ 1 chủng. Clade 2.1c có sự tương đồng cao với chủng công cường độc trong vắc-xin Navet-Fluvac 2. Mức tương đồng 96,1-99,1% cho thấy khả năng bảo hộ tốt của vắc-xin. Clade 1.2 có tương đồng thấp hơn nhiều so với các chủng vắc-xin hiện tại. Điều này đặt ra thách thức trong công tác phòng bệnh đối với các chủng vi-rút biến đổi gen.

2.2. Ý nghĩa của phân tích di truyền đối với phòng bệnh

Phân tích di truyền giúp xác định mức độ tương đồng giữa chủng thực địa và chủng vắc-xin. Kết quả cho thấy vắc-xin Navet-Fluvac 2 có khả năng bảo hộ tốt với clade 2.1c đang lưu hành. Tuy nhiên, sự xuất hiện của clade 1.2 với tương đồng thấp đặt ra yêu cầu cập nhật thành phần vắc-xin. Giám sát di truyền liên tục là yếu tố then chốt đảm bảo hiệu quả tiêm phòng. Phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho chiến lược phòng chống cúm gia cầm tại khu vực phía Nam.

III. Đánh giá khả năng bảo hộ của vắc xin Navet Fluvac 2

Vắc-xin Navet-Fluvac 2 được sản xuất trong nước, đánh giá hiệu quả phòng bệnh Cúm gia cầm từ năm 2013-2018. Đề tài nghiên cứu đã được Bộ Khoa học và Công nghệ nghiệm thu năm 2018. Vắc-xin có hiệu quả phòng bệnh với các chủng vi-rút Cúm gia cầm lưu hành tại Việt Nam. Bên cạnh vắc-xin nội địa, nhiều loại vắc-xin nhập khẩu được sử dụng gồm Re-5 (clade 2.4) từ Trung Quốc, Nobilis Influenza H5N2 từ Hà Lan và vắc-xin nhũ dầu H5N2 từ Trung Quốc. Thử nghiệm trên gà cho thấy vắc-xin Re-5 với liệu trình 2 mũi đạt tỷ lệ kháng thể bảo hộ trên 80%. Vắc-xin Nobilis Influenza H5N2 cho hiệu giá kháng thể cao từ 8,76log2-10log2 sau tiêm lần 1. Các vắc-xin thương mại đều có hiệu quả bảo hộ tốt cho gia cầm trong từng thời gian nhất định.

3.1. Hiệu quả bảo hộ của Navet Fluvac 2 với các clade lưu hành

Navet-Fluvac 2 chứa chủng công cường độc thuộc clade 2.1c. Mức tương đồng 96,1-99,1% với chủng thực địa clade 2.1c đảm bảo bảo hộ cao. Thử nghiệm công cường chứng minh vắc-xin bảo hộ hiệu quả với clade 1 và clade 2.1. Vắc-xin Re-1 bảo hộ 80% gà chống clade 1 và 100% với clade 2.4. Vắc-xin Re-5 bảo hộ 90% gà với clade 1 và 2.4. Tuy nhiên, hiệu quả giảm với một số clade biến đổi gen mới.

3.2. So sánh hiệu quả các loại vắc xin cúm gia cầm hiện có

Vắc-xin tái tổ hợp Re-6 (clade 2.1) từ Trung Quốc bảo hộ 70% gà chống clade 1. Vắc-xin Nobilis Influenza H5N2 đạt hiệu giá kháng thể cao 8,76-10log2. Vắc-xin nhũ dầu H5N2 từ Weike cũng cho kết quả tương tự. So sánh cho thấy mỗi loại vắc-xin có ưu nhược riêng tùy thuộc clade mục tiêu. Navet-Fluvac 2 có lợi thế phù hợp với chủng vi-rút lưu hành tại Việt Nam. Việc lựa chọn vắc-xin cần dựa trên kết quả giám sát di truyền vi-rút tại địa phương.

IV. Kết luận và ứng dụng trong công tác phòng chống cúm gia cầm

Nghiên cứu đã hoàn thành các mục tiêu đề ra. Tình hình lưu hành vi-rút Cúm gia cầm H5N1 tại khu vực lân cận TP.HCM được đánh giá toàn diện. Kết quả phân lập và phân tích di truyền xác định clade 2.1c chiếm ưu thế (84,6%). Vắc-xin Navet-Fluvac 2 cho thấy khả năng bảo hộ tốt với chủng vi-rút thực địa clade 2.1c. Mức tương đồng trình tự nucleotide 96,1-99,1% là cơ sở khoa học quan trọng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của clade 1.2 với tương đồng thấp cần được theo dõi. Giám sát liên tục tình hình lưu hành vi-rút là nhiệm vụ cấp thiết. Cập nhật thành phần vắc-xin theo chủng vi-rút lưu hành giúp nâng cao hiệu quả phòng bệnh. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu quý giá cho chiến lược phòng chống cúm gia cầm tại khu vực phía Nam Việt Nam.

4.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng vắc-xin Navet-Fluvac 2 trong chương trình tiêm phòng. Dữ liệu về tương đồng di truyền giúp đánh giá hiệu quả bảo hộ thực tế. Các tỉnh phía Nam có thể áp dụng kết quả để xây dựng lịch tiêm phòng phù hợp. Việc giám sát định kỳ giúp phát hiện sớm sự thay đổi của vi-rút. Cập nhật thành phần vắc-xin kịp thời đảm bảo bảo hộ tối ưu cho đàn gia cầm.

4.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo và nâng cao hiệu quả phòng bệnh

Nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi giám sát sang các tỉnh khác. Phân tích di truyền thường xuyên giúp theo dõi sự tiến hóa của vi-rút. Đánh giá khả năng bảo hộ chéo giữa các clade khác nhau cần được thực hiện. Nghiên cứu phát triển vắc-xin đa giá trị chứa nhiều chủng kháng nguyên. Ứng dụng công nghệ vắc-xin tái tổ hợp thế hệ mới nâng cao hiệu quả bảo hộ. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dịch bệnh cúm gia cầm tại khu vực phía Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ đánh giá tình hình lưu hành virút cúm gia cầm tại khu vực lân cận thành phố hồ chí minh và khả năng bảo hộ của vắcxin navetfluvac 2 đối với virút cúm gia cầm clade 2 3 2 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về vi-rút Cúm gia cầm Vi-rút Cúm A/H5N1 thuộc họ Orthomyxoviridae, là vi-rút RNA sợi âm, đa hình thái, kích thước 80 - 120 nm. Dựa trên cấu trúc kháng nguyên của protein bề mặt HA và NA, vi-rút Cúm A được phân chia thành 18 subtype HA và 11 subtype NA, trong đó tác nhân gây bệnh Cúm ở gia cầm chủ yếu là các subtype H5, H7 và H9 (CDC, 2020). Kháng nguyên HA (Haemagglunitin) và NA (Neuraminidase) có vai trò rất quan trọng trong quá trình gây bệnh của vi-rút Cúm A.

HA và NA là hai loại protein kháng nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của vi-rút vào tế bào cảm nhiễm, phân bố không đồng đều trên bề mặt vỏ (tỉ lệ khoảng 1NA/ 4HA). HA là protein gây ngưng kết hồng cầu và NA có chức năng là enzyme phá hủy liên kết của vi-rút với thụ thể trên tế bào vật chủ. (Wagner và ctv. Vật chất di truyền của vi-rút cúm A là RNA có độ dài 13.500 nucleotit với 8 phân đoạn riêng biệt (PB1, PB2, PA, HA, NP, NA, M và NS) mã hóa cho 11 protein của vi-rút, trong đó phân đoạn M mã hóa cho 2 protein là M1 và M2; phân đoạn NS mã hóa cho 2 protein là NS và NEP, phân đoạn PB1 mã hóa cho 2 protein là PB1 và PB1-F2 (Ito và ctv., 1998; Conenello và ctv.

Phân đoạn 1 (gien PB2 - polymerase basic 2) có kích thước 2.431 bp, mã hóa tổng hợp protein enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme polymerase của vi-rút, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA. Protein PB2 có khối lượng phân tử khoảng 87 kDa. Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí axít amin 627 ở protein PB2 (ở vi-rút Cúm gia cầm, vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 40oC, còn ở vi-rút cúm trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 37oC) (Wasilenko và ctv. Các đoạn RNA của vi-rút Cúm gia cầm tuýp A và các protein tương ứng (Breen và ctv., 2016) Phân đoạn 2 (gien PB1 - polymerase basic 1) cũng có kích thước 2.431 bp, mã hóa tổng hợp enzyme PB1, đây là tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzym polymerase trong quá trình tổng hợp RNA vi-rút, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA (Murphy và Webster, 1996).

Gần đây, đã có phát hiện thêm một protein (PB1-F2) được mã hóa bởi một khung đọc mở khác của PB1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis (hiện tượng tế bào chết có lập trình) (Tumpey và ctv, 2002). Phân đoạn 3 (gien PA - polymerase acidic) có kích thước 2.233 bp, là phân đoạn gien bảo tồn cao, mã hóa tổng hợp protein enzyme PA có khối lượng phân tử khoảng 83 kDa (trên thực tế là 96 kDa). PA là một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp RNA của vi-rút (Palese, 2007). 7 Phân đoạn 4 (gien HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng phân type vi-rút Cúm A (A/H1N1 là 1.714 bp, H5N1 là khoảng 1.

Đây là gien chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp protein HA - kháng nguyên bề mặt vi-rút cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2. Vùng nối giữa HA1 và HA2 gồm một số axít amin mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, là điểm cắt của enzym protease, là vùng quyết định độc lực của vi-rút. Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 63 kDa (nếu không được glycosyl hóa) và 77 kDa (nếu được glycosyl hóa, trong đó HA1 là 48 kDa và HA2 là 29 kDa) (Gambotto và ctv., 2008, Keawcharoen và ctv. Phân đoạn 5 (gien NP) kích thước khoảng 1.556 bp, mã hóa tổng hợp nucleoprotein (NP) - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận chuyển RNA giữa nhân và bào tương của tế bào chủ.

NP là một protein được glycosyl hóa, có đặc tính kháng nguyên biểu hiện theo nhóm vi-rút, tồn tại trong các hạt vi-rút ở dạng kết hợp với mỗi phân đoạn RNA, có khối lượng phân tử khoảng 50 - 60 kDa (Salzberg, 2007). Phân đoạn 6 (gien NA) có chiều dài thay đổi theo từng chủng vi-rút Cúm A (A/H6N2 là 1.413 bp, A/H5N1 thay đổi khoảng từ 1.410 bp) (Nguyễn Thị Bích Nga, 2006), mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên bề mặt capsid của vi- rút, có khối lượng phân tử theo khoảng 50 - 60 kDa. Các nghiên cứu phân tử gien NA của vi-rút cúm cho thấy, phần đầu 5’- của gien này có tính biến đổi cao và phức tạp giữa các chủng vi-rút Cúm A, sự thay đổi này liên quan đến quá trình thích ứng và gây bệnh của vi-rút cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau (Wagner và ctv. Đặc trưng biến đổi của gien NA ở vi-rút Cúm A là hiện tượng đột biến trượt- xóa một đoạn gien là 57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho độ dài vốn có trước đây của NA(N1) là 1.350 bp (Keawcharoen và ctv.

Phân đoạn 7 (gien M) có kích thước khoảng 1.027 bp, mã hóa cho protein khung (matrix protein - M) của vi-rút. Cùng với HA và NA, có khoảng 3.000 phân tử MP trên bề mặt capsid của vi-rút Cúm A, có mối quan hệ tương tác bề mặt với hemagglutinin (Scholtissek và ctv. Protein M1 là một protein nền, là thành 8 phần chính của vi-rút, có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình “nẩy chồi” của vi-rút. Protein M2 là chuỗi polypeptide có khối lượng phân tử theo tính toán là 11 kDa (trên thực tế là 15 kDa), là protein chuyển màng - kênh ion (ion channel), cần thiết cho khả năng lây nhiễm của vi-rút, chịu trách nhiệm cởi vỏ capsid của vi-rút trình diện hệ gien ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ (Scholtissek và ctv.

Phân đoạn 8 (gien NS) là gien mã hóa protein không cấu trúc (non structural protein), có độ dài ổn định nhất trong hệ gien của vi-rút Cúm A, kích thước khoảng 890 bp, mã hóa tổng hợp hai protein là NS1 và NS2 (còn gọi là NEP - nuclear export protein), có vai trò bảo vệ hệ gien của vi-rút, nếu thiếu chúng vi-rút sinh ra sẽ bị thiểu năng (defective virus) (Chen và ctv., 2008; Zhu và ctv, 2008).2 Các phương thức biến đổi kháng nguyên vi-rút Cúm Vi-rút Cúm A không có gien mã hóa enzyme sửa chữa RNA, do vậy chúng dễ dàng bị đột biến điểm trong các phân đoạn gien trong quá trình sao chép, dẫn đến thay đổi đặc tính kháng nguyên tạo nên các chủng vi-rút Cúm A mới. Hiện tượng này được gọi là lệch kháng nguyên (antigenic drift). Mặt khác, khi trong cùng một tế bào bị nhiễm hai chủng vi-rút khác nhau, do 8 sợi RNA của mỗi chủng được tổng hợp riêng biệt nên khi hình thành hạt vi-rút mới sẽ có thể có sự tổ hợp (reassortment) của các sợi RNA của cả hai chủng vào một hạt vi-rút. Từ đó tạo ra một loại vi-rút mới và hiện tượng này được gọi là trượt kháng nguyên (antigenic shift) (Suarez và Schultz-Cherry, 2000).

Sự thay đổi kháng nguyên giúp cho vi-rút lưu hành rộng rãi trong tự nhiên ở nhiều loài vật chủ khác nhau. Có ba phương thức chủ yếu làm biến đổi kháng nguyên ở vi-rút Cúm A (Wu và ctv.1 Hiện tượng lệch kháng nguyên (antigienic drift) Thực chất là các đột biến điểm xảy ra tại các phân đoạn gien/hệ gien của vi- rút. Sự thiếu hụt enzyme sửa chữa RNA dẫn đến các enzyme sao chép phụ thuộc RNA sẽ có thể “gài” thêm, làm mất đi hoặc thay thế (Lê Thanh Hòa, 2006) một hay nhiều nucleotide mà không được sửa chữa trong phân tử RNA chuỗi đơn mới của vi-rút (Conenello và ctv. 9 Đột biến điểm Không có cơ chế đọc- sửa bản sao -RNA Quá trình sao chép dưới xúc -RNA tác RNA polymerase Sao chép trong tế bào chủ Dịch mã + mRNA Protein bị đột biến Hình 1.

Sơ đồ minh họa sự đột biến điểm của vi-rút Cúm gia cầm (Ô màu đỏ là mã bộ ba ribonucleotide bị thay đổi qua quá trình sao chép dưới xúc tác RNA polymerase; Ô màu tím là mã bộ ba ribonucleotide bị đột biến qua quá trình sao chép trong tế bào chủ) Tùy thuộc vị trí xảy ra các đột biến trong bộ ba mã hóa, có thể trực tiếp làm thay đổi các axít amin trong trình tự của protein được mã hóa, dẫn đến thay đổi thuộc tính của protein, hoặc tích lũy trong phân đoạn gien xảy ra đột biến. Tần suất xảy ra đột biến điểm rất cao, cứ mỗi 10.000 nucleotide, có 1 nucleotide sai khác (Webster, 1998). Hiện tượng trộn kháng nguyên HA HA Vi rút A/H3N2 Vi rút A/H5N1 NA NA 8 Phân đoạn gen Màng tế bào Tế bào HA Vi rút A/H5N2 Chủng vi rút mới tạo ra do sự hòa trộn các phân đoạn gen Hình 1. Minh họa sự thay đổi di truyền của vi-rút Cúm (Chen và ctv., 2008) 10 Hiện tượng này còn gọi là trao đổi hay tái tổ hợp các gien kháng nguyên (antigienic shift) chỉ có ở vi-rút cúm và rất ít ở một số vi-rút RNA gây bệnh gia cầm khác, cho phép vi-rút có khả năng biến chủng rất cao.

Trường hợp khi 2 chủng vi-rút Cúm A khác nhau đồng nhiễm trong một tế bào có thể xảy ra sự hoà trộn (reassort), hoặc trao đổi (swap) các phân đoạn gien của chúng và trong quá trình kết hợp lại hệ gien, tạo ra các tổ hợp khác nhau của hệ gien của các hạt vi-rút mới từ hai hệ gien của những vi-rút ban đầu. Kết quả tạo ra thế hệ vi-rút mới có các phân đoạn gien kết hợp và đôi khi giúp cho chúng có khả năng lây nhiễm ở loài vật chủ mới, hoặc gia tăng độc lực gây bệnh (Chen và ctv. Hiện tượng glycosyl hóa Sự gắn kết của một chuỗi carbonhydrate (oligosaccharide) với axít amin asparagine (N) ở một số vị trí nhất định trong chuỗi polypeptide HA hay NA, hay một số polypeptide khác của vi-rút cúm được gọi là hiện tượng glycosyl hoá. Hiện tượng lệch kháng nguyên sinh ra đột biến điểm hình thành bộ mã của asparagine, tạo tiền đề cho hiện tượng glycosyl hóa xảy ra khi tổng hợp chuỗi polypeptide HA hay NA, làm thay đổi biểu hiện đặc tính kháng nguyên của HA và NA, giúp cho vi- rút thoát khỏi tác động miễn dịch bảo hộ của cơ thể vật chủ và điều hoà sự nhân lên của vi-rút (Baigient và McCauley, 2001).

Sự hiện diện của các N-glycosylation cũng có tác động làm giảm đáp ứng miễn dịch của gia cầm đối với vi-rút Cúm gia cầm, hậu quả là làm giảm hiệu quả của vắc-xin với kháng nguyên là vi-rút có nhiều vị trí N-linked glycosylation trên protein HA, dù tỷ lệ tương đồng axít amin ở mức rất cao, chẳng hạn chủng vi-rút vắc-xin (2.2/Indo/05) trong nghiên cứu (Criado và ctv.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ