Luận án tiến sĩ ngôn ngữ việt nam đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em qua bộ truyệntuyển tập truyện ngắn hay việt nam dành cho thiếu nhi

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm ngôn ngữ trẻ em qua tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi, làm rõ sự phát triển ngôn ngữ.

Trường đại học

Đại học Hải Phòng

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

212
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

1.4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của luận án

1.6. Cấu trúc của luận án

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1.1. Trên thế giới

3. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM TRONG GIAO TIẾP GIA ĐÌNH (QUA BỘ TRUYỆN “TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HAY VIỆT NAM DÀNH CHO THIẾU NHI”)

3.1. Chủ đề và vai giao tiếp của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.2. Chủ đề giao tiếp của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.3. Vai giao tiếp

3.4. Đặc điểm xưng hô của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.5. Tần số xuất hiện các từ ngữ xưng hô của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.6. Cách xưng hô của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.7. Đặc điểm hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.8. Tần số xuất hiện các hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.9. Khảo sát trường hợp: Nhóm hành động điều khiển của trẻ em trong giao tiếp gia đình

3.10. Tiểu kết chương 2

4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM TRONG GIAO TIẾP NGOÀI XÃ HỘI (QUA BỘ TRUYỆN “TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN HAY VIỆT NAM DÀNH CHO THIẾU NHI”)

4.1. Chủ đề và vai giao tiếp của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.2. Chủ đề giao tiếp

4.3. Vai giao tiếp

4.4. Đặc điểm xưng hô của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.5. Tần số xuất hiện các từ ngữ xưng hô của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.6. Cách xưng hô của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.7. Đặc điểm hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.8. Tần số xuất hiện các hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.9. Khảo sát trường hợp: Nhóm hành động điều khiển của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội

4.10. So sánh đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em giữa giao tiếp trong gia đình với giao tiếp ngoài xã hội

4.10.1. Những điểm tương đồng

4.10.2. Những điểm khác biệt

4.11. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU KHẢO SÁT

Tóm tắt

I. Ngôn ngữ trẻ em và truyện ngắn Việt Nam dành cho thiếu nhi

Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trẻ em qua bộ truyện Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam dành cho thiếu nhi. Ngôn ngữ trẻ em được xem xét dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội, nhằm làm rõ cách trẻ em sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình và xã hội. Truyện ngắn Việt Nam là nguồn tư liệu phong phú, phản ánh chân thực ngôn ngữ và tâm lý trẻ em qua các thời kỳ. Thiếu nhi là đối tượng trung tâm, với ngôn ngữ mang tính đặc thù, phản ánh sự phát triển tư duy và nhận thức của trẻ.

1.1. Ngôn ngữ trẻ em trong giao tiếp gia đình

Ngôn ngữ trẻ em trong giao tiếp gia đình được phân tích qua các chủ đề, vai giao tiếp, và cách xưng hô. Trẻ em thường sử dụng ngôn ngữ đơn giản, trực tiếp, phản ánh mối quan hệ thân thiết với người thân. Đặc điểm ngôn ngữ này thể hiện qua các từ ngữ xưng hô như 'bố', 'mẹ', 'ông', 'bà', mang tính gần gũi và yêu thương. Hành động ngôn ngữ của trẻ trong gia đình thường mang tính yêu cầu, hỏi han, hoặc chia sẻ cảm xúc, phản ánh sự phụ thuộc và tình cảm gia đình.

1.2. Ngôn ngữ trẻ em trong giao tiếp xã hội

Trong giao tiếp xã hội, ngôn ngữ trẻ em có sự thay đổi rõ rệt. Trẻ em sử dụng ngôn ngữ linh hoạt hơn, phù hợp với vai giao tiếp và hoàn cảnh. Truyện ngắn Việt Nam phản ánh cách trẻ em xưng hô với bạn bè, thầy cô, và người lạ, thể hiện sự tôn trọng và lễ phép. Hành động ngôn ngữ của trẻ trong xã hội thường mang tính thuyết phục, thảo luận, hoặc giải thích, phản ánh sự phát triển kỹ năng giao tiếp và nhận thức xã hội.

II. Phân tích ngôn ngữ trẻ em qua tuyển tập truyện ngắn

Luận án sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ trẻ em để làm rõ các đặc điểm ngôn ngữ trong tuyển tập truyện ngắn. Ngôn ngữ và văn học có mối quan hệ mật thiết, với ngôn ngữ là công cụ để khắc họa nhân vật và truyền tải thông điệp. Tuyển tập truyện ngắn là nguồn tư liệu quý giá, phản ánh sự đa dạng và biến đổi của ngôn ngữ trẻ em qua các thời kỳ.

2.1. Đặc điểm xưng hô của trẻ em

Đặc điểm xưng hô của trẻ em được phân tích qua tần suất và cách sử dụng các từ ngữ xưng hô. Trẻ em thường sử dụng từ ngữ xưng hô phù hợp với vai giao tiếp và hoàn cảnh. Trong gia đình, trẻ sử dụng từ ngữ thân mật, trong khi ở xã hội, trẻ sử dụng từ ngữ lễ phép và tôn trọng. Phân tích ngôn ngữ trẻ em cho thấy sự linh hoạt và nhạy cảm của trẻ trong việc lựa chọn từ ngữ xưng hô.

2.2. Hành động ngôn ngữ của trẻ em

Hành động ngôn ngữ của trẻ em được phân tích qua các tình huống giao tiếp cụ thể. Trẻ em thường sử dụng hành động ngôn ngữ như yêu cầu, hỏi han, thảo luận, và giải thích. Ngôn ngữ trong văn học thiếu nhi phản ánh sự phát triển kỹ năng giao tiếp và nhận thức xã hội của trẻ. Luận án chỉ ra sự khác biệt trong hành động ngôn ngữ của trẻ giữa gia đình và xã hội, phản ánh sự thích ứng và phát triển của trẻ trong các môi trường khác nhau.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của luận án

Luận án không chỉ làm rõ đặc điểm ngôn ngữ trẻ em mà còn có giá trị thực tiễn trong giáo dục và nghiên cứu. Nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em góp phần vào việc hiểu sâu hơn về sự phát triển ngôn ngữ và tư duy của trẻ. Văn học thiếu nhi Việt Nam là nguồn tư liệu quý giá, giúp giáo viên và phụ huynh hiểu rõ hơn về tâm lý và ngôn ngữ của trẻ. Luận án cũng góp phần vào việc phát triển các phương pháp giáo dục ngôn ngữ hiệu quả cho trẻ em.

3.1. Ứng dụng trong giáo dục

Nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em có giá trị lớn trong giáo dục, giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách trẻ sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống khác nhau. Văn học thiếu nhi Việt Nam là công cụ hữu ích để phát triển kỹ năng ngôn ngữ và tư duy cho trẻ. Luận án góp phần vào việc thiết kế các chương trình giáo dục ngôn ngữ phù hợp với đặc điểm tâm lý và ngôn ngữ của trẻ.

3.2. Ứng dụng trong nghiên cứu

Luận án cung cấp nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu mới về ngôn ngữ trẻ em. Phân tích ngôn ngữ trẻ em qua tuyển tập truyện ngắn mở ra hướng nghiên cứu liên ngành, kết hợp giữa ngôn ngữ học, văn học, và tâm lý học. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong các công trình nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ và văn hóa trẻ em.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chương này trình bày một cách ngắn gọn tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến ngôn ngữ trẻ em, đồng thời, trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm: một số vấn đề lý thuyết về giao tiếp tương tác và ngôn ngữ học xã hội tương tác, lý thuyết về xưng hô và hành động ngôn ngữ, một số vấn đề ngôn ngữ trẻ em. Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”) Chương này đi sâu khảo sát, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”), bao gồm: chủ đề và vai giao tiếp, đặc điểm xưng hô của trẻ em, đặc điểm hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình. Từ kết quả thu được, luận án chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ riêng khác của trẻ em thể hiện qua chủ đề và vai giao tiếp của trẻ em, từ ngữ xưng hô và hành động ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình. Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”) Trong chương 3, chúng tôi đi sâu khảo sát, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”), bao gồm: chủ đề và vai giao tiếp, từ ngữ xưng hô của trẻ em, các hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội, so sánh đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em giữa giao tiếp trong gia đình với giao tiếp ngoài xã hội.

Từ kết quả thu được, luận án đã chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ khác biệt của trẻ em thể hiện qua chủ đề và vai giao tiếp của trẻ em, xưng hô và hành động ngôn ngữ trong giao tiếp ngoài xã hội, đồng thời khẳng định ở mỗi môi trường giao tiếp, trẻ em sử dụng ngôn ngữ khác nhau. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Ngôn ngữ của trẻ em từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và nghiên cứu.

Qua thu thập và tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em, chúng tôi nhận thấy có một số hướng nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em như sau: Thứ nhất, nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em từ góc độ tâm lí học Nghiên cứu về ngôn ngữ gắn với quá trình phát triển tâm lí trẻ em tiêu biểu phải kể đến tác giả Piaget, J với nhiều nghiên cứu nổi bật như: công trình Ngôn ngữ và tư duy ở trẻ (1923) đi sâu phân biệt các quá trình ngôn ngữ và tư duy của trẻ em - người lớn. Trong tương tác giao tiếp, người lớn luôn tư duy về mặt xã hội và liên tục để ý đến thái độ của người đối diện nên ngôn ngữ bị chi phối và sử dụng có chọn lọc. Ngược lại, trẻ em trong tương tác giao tiếp dường như nói nhiều hơn người lớn. Tư duy của trẻ phần lớn mang tính cảm tính cá nhân, ít chịu sự chi phối của xã hội và ít quan tâm đến người đối diện.

Nói cách khác, đứa trẻ khi sử dụng ngôn ngữ thường không chú ý quá nhiều đến ý nghĩa của sự vật và bỏ qua các nhân tố liên quan đến việc nhìn nhận sự vật, hiện tượng. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra ở những trẻ 7-8 tuổi, các giao tiếp ngoài xã hội không mang tính bền vững cao và ngôn ngữ thường sử dụng đi kèm với các ngôn ngữ cử chỉ [52]. Đặc biệt trong công trình Kiến tạo Thực tại ở Trẻ em (Sự xây dựng Cái thực tại ở trẻ do dịch giả Hoàng Hưng dịch), tác giả Piaget.J đã mô tả một đứa trẻ như một nhà khoa học cô độc tự tạo ra cảm giác riêng của nó về thế giới. Đồng thời, ông cũng đưa ra các giai đoạn nhận thức của trẻ gắn với từng độ tuổi và sự phát triển của ngôn ngữ như: Giai đoạn cảm giác vận động (0 – 2 tuổi), trẻ không có khả năng tư duy mà chủ yếu là hoạt động phản thân; Giai đoạn tiền hoạt động (2-7 tuổi), tư duy của trẻ tiếp tục phát triển và khả năng ngôn ngữ cũng phát triển mạnh.

Trẻ tư duy trực quan, thường lấy mình làm trung tâm nên trong suy nghĩ có tính cứng nhắc và suy diễn tuỳ tiện; Giai đoạn hoạt động cụ thể (7-11 tuổi), trẻ biết dùng các quy tắc logic để giải quyết vấn đề và tư duy của trẻ trở nên linh hoạt, hiệu quả hơn. Cùng bàn đến vấn đề này, tác giả còn có nhiều công trình khác như: Phê phán và lập luận ở trẻ (1924); Quan niệm của trẻ em về Thế giới (1926); Quan niệm của trẻ em về tính nhân quả vật lý (1927); Phán xét của trẻ em về đạo đức (1932),. Cùng nghiên cứu về sự phát triển tâm lí, nhận thức và ngôn ngữ của trẻ nhưng Vygotsky (Nhà tâm lí học nổi tiếng người Nga) lại quan niệm ngôn ngữ phụ thuộc và có vai trò to lớn đối với sự phát triển tư duy, đồng thời, ông cũng nhấn mạnh đến sự tác động của văn hoá, nhân tố xã hội đến sự phát triển tư duy của trẻ và chỉ ra: “Ngôn ngữ đóng hai vai trò trong sự phát triển nhận thức: 1. Nó là phương tiện chính để người lớn chuyển giao thông tin cho trẻ em.

Bản thân ngôn ngữ trở thành một công cụ rất mạnh cho sự thích nghi trí tuệ” [dẫn theo 80]. Từ nhận định trên, Vygotsky phân biệt ba hình thức ngôn ngữ: 1) Diễn ngôn xã hội là truyền thông hướng ngoại dùng để trò chuyện với người khác (điển hình là từ 2 tuổi); 2) Diễn ngôn riêng tư (điển hình là từ 3 tuổi) trực tiếp với cái bản ngã và dùng như một chức năng trí tuệ; 3) Diễn ngôn riêng tư đi xuống tầng ngầm, dường như không nghe thấy khi nó thực hiện chức năng tự điều chỉnh và biến thành diễn ngôn nội tâm thầm lặng (điển hình từ 7 tuổi). Ông cũng là người đầu tiên ghi nhận tầm quan trọng của diễn ngôn riêng tư - “diễn ngôn riêng tư là biểu thị sớm nhất của diễn ngôn nội tâm” - “là việc sử dụng ngôn ngữ để tự điều chỉnh hành vi" [dẫn theo 80]. Từ đó, tác giả khẳng định: ngôn ngữ là một nhân tố tăng tốc cho sự suy nghĩ/ hiểu.

Cùng quan điểm này với Vygotsky có thể kể đến các nhà nghiên cứu như: Frauenglass & Diaz (1985), Berk (1986), Berk & Landau, 1993, Winsler (2007),. (2009) trong “First Language Acquisition" (Tiếp nhận ngôn ngữ đầu tiên) cung cấp một cách khái quát toàn diện về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em từ những ngày đầu đến khi họ học được ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, bao gồm cả cách thức trẻ em học và sử dụng ngôn ngữ. Quá trình này bao gồm các giai đoạn khác nhau, từ sơ sinh cho đến khi đạt được sự thành thục trong việc sử dụng ngôn ngữ, với sự phát triển từ ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, đến kỹ năng xử lý ngôn ngữ phức tạp [115]. (2010) trong nghiên cứu "The developing lexicon: A multimodal perspective" (Từ vựng đang phát triển: Một quan điểm đa phương thức) tập trung 9 vào việc nghiên cứu sự phát triển của từ vựng ở trẻ em từ khi sinh ra đến khoảng 3 tuổi, bao gồm cả việc sử dụng ngôn ngữ phi ngôn ngữ như cử chỉ và biểu hiện khuôn mặt.

Kết quả cho thấy: trẻ em từ khi sinh ra đến khoảng 3 tuổi sử dụng các kỹ năng đa phương tiện, chẳng hạn như: ngôn ngữ cơ thể và các biểu hiện tay chân, để tạo ra các từ mới và học ngôn ngữ. Nghiên cứu của bà cho thấy rằng các từ được học thông qua nhiều kênh thị giác, nghe và chạm, và việc sử dụng nhiều kênh này cùng một lúc giúp trẻ em học từ mới nhanh chóng và hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giải thích ý nghĩa của từ mới trong ngữ cảnh văn hóa của trẻ em rất quan trọng trong quá trình học từ vựng [128]. (2015) trong "The emergence of grammar: Early verbs and beyond" (Sự xuất hiện của ngữ pháp: Động từ sớm và nhiều hơn thế) nghiên cứu sự phát triển của ngữ pháp sớm ở trẻ em, tập trung vào việc hình thành động từ sớm và các khía cạnh ngữ pháp khác nhau.

Họ đã phân tích dữ liệu từ các nghiên cứu trên ngôn ngữ của trẻ em và đưa ra kết luận rằng sự phát triển của ngữ pháp ở trẻ em là một quá trình phức tạp và đa dạng, liên quan đến nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài như bối cảnh xã hội và tình huống giao tiếp. Họ cũng đưa ra các khuyến nghị để phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ em, bao gồm việc thúc đẩy hoạt động tương tác ngôn ngữ và cung cấp cho trẻ nhiều kinh nghiệm ngôn ngữ khác nhau [112]. Thứ hai, nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em từ góc độ văn học Tuy không trực tiếp nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ em nhưng các nhà nghiên cứu văn học khi đi sâu lí giải các khía cạnh thuộc về văn học trẻ em cũng đã đề cập đến ngôn ngữ của trẻ trong các tác phẩm văn học, chẳng hạn: Tác giả Marshall, M. khi định nghĩa về Văn học thiếu nhi đã dựa trên độ tuổi và phát biểu: "Một số người cho rằng văn học thiếu nhi là từ độ tuổi sơ sinh đến 18 tuổi.

Tuy nhiên, không học sinh trung học nào tự cho rằng mình là trẻ em. Vì vậy, tôi định nghĩa văn học cho lứa tuổi 13 đến 18 tuổi là văn học thanh niên và văn học cho tuổi từ sơ sinh đến 13 tuổi là văn học thiếu nhi. Các trường tiểu học truyền thống nhận trẻ từ 6 tuổi và những đứa trẻ này sẽ hoàn thành cấp tiểu học tới 12 hoặc 13 tuổi" [dẫn theo 85]. Tác giả cũng nhận ra thực tế không phải bất cứ tác phẩm nào viết cho thiếu nhi cũng phản ánh đúng độ tuổi của các em bởi trong các tác phẩm đó 10 chuyển tải các nội dung liên quan đến những vấn đề gai góc của cuộc sống ẩn sâu trong những nhân vật trẻ em độ tuổi thiếu nhi trong sáng, hồn nhiên và đầy cảm xúc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm ngôn ngữ trẻ em qua tuyển tập truyện ngắn Việt Nam dành cho thiếu nhi" là một nghiên cứu chuyên sâu về cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn học thiếu nhi Việt Nam. Tài liệu này phân tích các đặc điểm ngôn ngữ độc đáo, cách diễn đạt và cấu trúc câu phù hợp với tâm lý và nhận thức của trẻ em. Qua đó, nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ mà còn gợi mở cách tiếp cận hiệu quả trong việc sáng tác và giảng dạy văn học thiếu nhi. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, giáo viên và những người quan tâm đến văn học và giáo dục trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh ngôn ngữ và văn học, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ ngữ văn vị từ tình thái trong truyện kiều của nguyễn du, nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong tác phẩm kinh điển. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975 cung cấp góc nhìn sâu sắc về yếu tố đối thoại trong văn học hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ anh biện pháp tu từ trong các bài báo thuộc tạp chí national geographic sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các kỹ thuật ngôn ngữ trong văn bản.