Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em (qua bộ truyện 'Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi')" do nghiên cứu sinh Lưu Thị Lan thực hiện tại Trường Đại học Hải Phòng, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, mã số 9220102, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Khang và TS Nguyễn Thị Hiên, hoàn thành năm 2024.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, gắn liền với sự trưởng thành, nhận thức và nhân cách của trẻ em. Trong ngôn ngữ học xã hội, tuổi tác cùng với giới tính, nghề nghiệp, vùng miền và tôn giáo là những nhân tố tạo nên sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ; theo đó, trẻ em được xác định là một cộng đồng giao tiếp mang những đặc trưng riêng biệt trong tương tác xã hội. Trong tác phẩm văn học, nhân vật trẻ em được khắc họa thông qua ngôn ngữ nói về trẻ em, ngôn ngữ giao tiếp với trẻ em và ngôn ngữ mà chính trẻ em sử dụng. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: mặc dù mảng đề tài ngôn ngữ trẻ em đã thu hút nhiều sự quan tâm từ các góc độ tâm lý học, giáo dục học và văn học, nhưng từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trên cứ liệu là các tác phẩm truyện ngắn viết cho thiếu nhi qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát ngôn ngữ của trẻ em ở hai phương diện: xưng hô và hành động ngôn ngữ từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội qua một số truyện ngắn thiếu nhi để chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em, đóng góp vào nghiên cứu giao tiếp tương tác và khẳng định mối quan hệ liên ngành giữa ngôn ngữ học và văn học.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 4 nội dung:
- Xây dựng cơ sở lý luận làm cơ sở nghiên cứu của đề tài.
- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình trên các phương diện: chủ đề giao tiếp, vai giao tiếp, xưng hô và hành động ngôn ngữ.
- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội trên các phương diện: chủ đề giao tiếp, vai giao tiếp, xưng hô và hành động ngôn ngữ.
- So sánh đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình và giao tiếp ngoài xã hội nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
Đối tượng nghiên cứu là các ngôn từ của trẻ em sử dụng trong phạm vi: chủ đề giao tiếp, vai giao tiếp, xưng hô và hành động ngôn ngữ trong tương tác giao tiếp.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về độ tuổi: Căn cứ Công ước quốc tế về quyền trẻ em (các năm 1925, 1959, 1968, 1989, 1991), Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 (Điều 1 quy định từ sơ sinh đến 15 tuổi), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và năm 2004 (Điều 1 quy định công dân dưới 16 tuổi), kết hợp khả năng ngôn ngữ và độ tuổi trung bình đến trường, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở trẻ em độ tuổi từ 4 đến 15 tuổi.
- Về phạm vi ngữ liệu và kênh giao tiếp: Khảo sát lời thoại nhân vật trong bộ sách "Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi" (5 quyển, Nhà xuất bản Trẻ). Luận án tập trung vào lời thoại nhân vật và tạm gác phần giao tiếp phi ngôn ngữ cho các công trình tiếp theo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam qua các hướng tiếp cận chuyên ngành cụ thể:
Các nghiên cứu trên thế giới
- Hướng tâm lý học: Nghiên cứu của J. Piaget qua các công trình "Ngôn ngữ và tư duy ở trẻ" (1923), "Phê phán và lập luận ở trẻ" (1924), "Quan niệm của trẻ em về Thế giới" (1926), "Quan niệm của trẻ em về tính nhân quả vật lý" (1927), "Phán xét của trẻ em về đạo đức" (1932) và "Kiến tạo Thực tại ở Trẻ em" (Hoàng Hưng dịch), chỉ ra tư duy mang tính cảm tính, tự kỷ trung tâm và chia nhận thức thành các giai đoạn: cảm giác vận động (0–2 tuổi), tiền hoạt động (2–7 tuổi), hoạt động cụ thể (7–11 tuổi). Nghiên cứu của L. S. Vygotsky khẳng định ngôn ngữ là công cụ phát triển trí tuệ, phân biệt 3 hình thức ngôn ngữ (diễn ngôn xã hội từ 2 tuổi, diễn ngôn riêng tư từ 3 tuổi, diễn ngôn nội tâm thầm lặng từ 7 tuổi); quan điểm này được tiếp nối bởi Frauenglass & Diaz (1985), Berk (1986), Berk & Landau (1993), Winsler (2007). E. V. Clark (2009) trong "First Language Acquisition" khảo sát toàn diện quá trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ. O. Capirci (2010) trong "The developing lexicon: A multimodal perspective" nghiên cứu từ vựng và phương thức đa kênh từ sơ sinh đến 3 tuổi. A. Theakston (2015) trong "The emergence of grammar: Early verbs and beyond" khảo sát sự hình thành ngữ pháp và động từ sớm.
- Hướng văn học: M. Marshall phân chia ranh giới văn học thanh niên (13–18 tuổi) và văn học thiếu nhi (sơ sinh–13 tuổi). R. S. Trites nhìn nhận văn học thiếu nhi là một cấu trúc văn hóa. M. Nikolajeva nhấn mạnh tính thẩm mỹ đặc thù của văn học thiếu nhi. D. L. Russell (2010) trong "Children's Literature, Briefly" và J. Bland (2011) trong "Children's Literature and Learner Empowerment" nghiên cứu vai trò của văn bản văn học trong phát triển ngôn ngữ. Cùng hướng này có C. Huck (2003), J. Susina (2004), Temple, Martinez, Yokota và Naylor.
- Hướng tương tác giao tiếp: L. Bloom (1956) trong "The Role of Context in Learning to Mean" khảo sát vai trò ngữ cảnh. S. Ervin-Tripp (1974) trong "The Acquisition of Communicative Competence" đề xuất khái niệm năng lực giao tiếp ở trẻ. B. Hart, T. R. Risley và cộng sự (1995) khảo sát 42 gia đình về tác động của tương tác ngôn ngữ từ cha mẹ. M. Tomasello (1995) trong "Conversation and Comprehension: The Development of Intersubjectivity" nghiên cứu tính liên chủ thể qua hội thoại. Về giới tính trong ngôn từ trẻ em có các nghiên cứu của Nelson (1973), Sachs (1987), Becker (1994), Gleason (1997), Lloyd and Goodwin (1993), Sadker and Sadker (1994).
- Hướng ngôn ngữ học: F. de Saussure với "Ngôn ngữ học đại cương"; E. Sapir (1921) về mối quan hệ giữa hình thái ngôn ngữ và mẫu hình văn hóa; O. Beverly (2008) trong "Development of Language in Early Childhood" tiếp cận tích hợp các thành tố ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng; L. Bloom (1973) trong "Language Acquisition in the Preschool Years" nghiên cứu giai đoạn 2–5 tuổi; E. V. Clark (2009).
Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Hướng tâm lý học: Nhóm tác giả thời kỳ trước năm 1980 với tiếp cận "Hoạt động – Nhân cách" gồm Đỗ Thị Xuân, Nguyễn Đức Minh, Phạm Cốc, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Hồ Ngọc Đại, Phạm Hoàng Gia, Đặng Xuân Hoài, Phạm Văn Đỗ, Hà Vỹ, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc. Giáo trình "Tâm lí học Tiểu học" của Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2005). Luận án của Hồ Lam Hồng (2005) về tâm lý ngôn ngữ trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi qua kể chuyện; bài viết của Vũ Bá Hùng (1997); nghiên cứu vốn từ của Bùi Thị Thanh (2005).
- Hướng văn học: Lã Thị Bắc Lý (2011) trong "Giáo trình Văn học trẻ em"; Bùi Thanh Truyền trong "Thi pháp trong văn học thiếu nhi"; Nguyễn Thị Đài Trang (2013) về nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn Nhật Ánh; Trịnh Thị Hà Bắc trong "Văn học thiếu nhi trong nhà trường" (cùng Nguyễn Thị Bạch Dương, Dương Thị Hương); Vân Thanh trong "Văn học thiếu nhi Việt Nam" (tập 1 và 2); Tạ Duy Anh (2000); Hoàng Văn Cẩn (2005); Kỷ yếu hội thảo (2009); Châu Minh Hùng và Lê Nhật Ký (2009); Văn Hồng (2012); Nguyễn Thị Thanh Hương (2016).
- Hướng ngôn ngữ học: Luận án của Lưu Thị Lan (1996) về các bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi ở nội thành Hà Nội; Trịnh Thị Hà Bắc (2005); Bùi Thị Thanh (2005); Trương Dĩnh Phát; Nguyễn Thị Quỳnh Trang; Nguyễn Huy Cẩn (2001) trong "Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em"; Bùi Minh Yến (2001) về từ xưng hô gia đình đến ngoài xã hội; Bùi Thị Ngọc Anh (2014) về từ kiêng kị của trẻ làng Hoài Thị; Nguyễn Thị Thanh Bình (2000) về giới trong xưng và gọi; Quách Thị Bích Thủy (2015); Ngô Thanh Mai (2005) về ngôn ngữ nhân vật trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận ngôn ngữ trẻ em ở lứa tuổi mầm non (dưới 6 tuổi) hoặc giới hạn trong hoạt động dạy học nhà trường. Chưa có công trình nào khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi 4–15 tuổi dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội thông qua cứ liệu truyện ngắn thiếu nhi trải dài nhiều thập kỷ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng tổng hợp 4 hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết giao tiếp và giao tiếp tương tác: Kế thừa mô hình giao tiếp 3 nhân tố của Aristotle (người phát – thông điệp – người nhận); mô hình 6 nhân tố và 6 chức năng của R. Jakobson (người phát, thông điệp, người nhận, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã); quan niệm của Berge (1994) và Diệp Quang Ban về giao tiếp như quá trình tương tác xã hội; định nghĩa giao tiếp của Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa và Nguyễn Thiện Giáp; quan niệm của Joan Soler-Adillon (2017); quan điểm của Nguyễn Văn Khang về năng lực ngôn ngữ (competence) thuộc tâm lý và năng lực giao tiếp (performance) thuộc phạm trù xã hội.
- Mô hình sự kiện giao tiếp của Dell Hymes (SPEAKING): Gồm 8 thành tố chi phối cuộc thoại: Chu cảnh/thoại trường (Setting and Scene - S); Người tham dự (Participants - P); Mục đích (Ends - E); Chuỗi hành vi (Acts sequence - A); Phương thức (Key - K); Phương tiện (Instrumentalities - I); Chuẩn tương tác và giải thích (Norms of interaction and interpretation - N); Loại thể (Genres - G).
- Lý thuyết phân tầng xã hội và quan hệ giao tiếp: Ngôn ngữ phản ánh sự phân tầng xã hội theo tuổi tác, giới tính, vị thế quyền lực. Hai trục quan hệ giao tiếp cơ bản là quan hệ quyền thế (quyền lực trên - dưới) và quan hệ thân hữu (thân - sơ) theo Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Đức Dân. Sự phân tầng trong tiếng Việt được nhận biết hiển ngôn qua từ ngữ xưng hô và các từ tình thái, cảm thán (dạ, vâng, ừ, à, ờ, nhỉ, nhé, nha, ạ, thưa, bẩm).
- Lý thuyết xưng hô và hành động ngôn ngữ:
- Về xưng hô: Khái niệm của Hoàng Phê, Đỗ Thị Kim Liên; xưng hô tương ứng chính xác và không tương ứng chính xác theo Nguyễn Văn Chiến; hệ thống 13 kiểu xưng hô theo phân loại của Nguyễn Văn Khang (tên riêng; họ; tên đệm + tên; họ + tên; họ + tên đệm + tên; đại từ nhân xưng; từ thân tộc; các từ khác; một chức danh; nhiều chức danh; tên người thân thuộc/gọi thay vai; kết hợp; khuyết vắng từ xưng hô/zero xưng hô); khuôn mẫu sử dụng theo Lê Thanh Kim (2002).
- Về hành động ngôn ngữ: Lý thuyết của J. L. Austin với 3 cấp độ hành động (tạo lời, mượn lời, ở lời) và 5 lớp động từ nói năng (phán xử, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử); lý thuyết phân loại của J. Searle dựa trên 4 tiêu chí then chốt (đích ở lời, hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề) chia thành 5 lớp hành động ngôn ngữ: Tái hiện/Xác tín (representatives/assertive), Điều khiển (directives), Cam kết (commissive), Biểu cảm (expressive), Tuyên bố (declarations); quan niệm của O. Ducrot, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Như Ý.
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong gia đình và cộng đồng làm cơ sở phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích ngữ liệu hội thoại trên các bình diện cấu trúc lượt lời, hoàn cảnh giao tiếp và ngữ dụng.
- Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức ngôn ngữ học với tâm lý học, xã hội học và lý luận văn học.
- Thủ pháp thống kê – phân loại: Tính đếm số lượng, tần suất xuất hiện và phân nhóm các từ ngữ, cuộc thoại, hành động ngôn ngữ.
- Thủ pháp so sánh: So sánh đối chiếu nội nhóm từ ngữ và so sánh đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ giữa hai môi trường giao tiếp.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Ngữ liệu khảo sát được trích xuất từ lời thoại nhân vật trong bộ sách "Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi" (5 quyển, Nhà xuất bản Trẻ), gồm 131 truyện ngắn của 93 nhà văn thuộc nhiều thế hệ như Quang Dũng ("Mùa quả cọ"), Võ Quảng ("Những chiếc áo ấm"), Nguyên Hồng ("Những ngày thơ ấu"), Nguyễn Nhật Ánh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hồ Dzếnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Sanh, Thạch Lam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến ngôn ngữ trẻ em, đồng thời thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam theo các phân ngành: tâm lý học, văn học, tương tác giao tiếp và ngôn ngữ học.
- Trình bày cơ sở lý thuyết về giao tiếp tương tác, mô hình sự kiện giao tiếp 8 thành tố SPEAKING của Dell Hymes, lý thuyết phân tầng xã hội và hai trục quan hệ quyền thế – thân hữu.
- Làm rõ lý thuyết xưng hô tiếng Việt (định nghĩa, các khuôn mẫu, 13 kiểu xưng hô theo Nguyễn Văn Khang) và lý thuyết hành động ngôn ngữ (mô hình 3 loại hành động của Austin, bảng phân loại 5 lớp hành động của Searle).
- Xác định cách tiếp cận của đề tài: Phân tích lời thoại nhân vật trẻ em từ 4 đến 15 tuổi trong tác phẩm văn học thiếu nhi dưới góc nhìn ngôn ngữ học xã hội tương tác.
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”)
Chương 2 tập trung khảo sát, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật trẻ em khi tương tác trong môi trường gia đình:
- Chủ đề và vai giao tiếp trong gia đình: Ngữ liệu cuộc thoại gia đình phản ánh các chủ đề gắn liền với cuộc sống sinh hoạt thường nhật, việc học tập, vui chơi, sự chăm sóc, nuôi dưỡng và mối quan hệ tình cảm huyết thống. Về vai giao tiếp, trẻ em chủ yếu đóng vai dưới (con đối với cha mẹ, cháu đối với ông bà) và vai ngang bằng/thứ bậc nhỏ (anh, chị, em đối với nhau).
- Đặc điểm xưng hô trong gia đình: Luận án thống kê tần số và mô tả cách xưng hô hai chiều: vai dưới (trẻ em) với vai trên (người lớn) và vai trên (người lớn) với vai dưới (trẻ em). Kết quả khảo sát cho thấy trẻ em xưng hô tuyệt đối tuân thủ trật tự thân tộc gia đình Việt Nam truyền thống. Trẻ tự xưng là "con", "cháu", "em" và gọi người đối thoại bằng các danh từ thân tộc tương ứng "bà", "ông", "bố", "mẹ", "chú", "bác", "anh", "chị". Các phát ngôn của trẻ em hướng lên vai trên luôn đi kèm các yếu tố tình thái, thưa gửi và kính ngữ (dạ, vâng, ạ, thưa).
- Đặc điểm hành động ngôn ngữ trong gia đình: Thống kê tần số xuất hiện các lớp hành động ngôn ngữ của trẻ. Luận án đi sâu khảo sát trường hợp nhóm hành động điều khiển: Do ở vị thế vai dưới và có khoảng cách quyền lực thấp, hành động điều khiển của trẻ em đối với người lớn trong gia đình chủ yếu mang mục đích xin phép, cầu xin, nhờ vả, hỏi han hoặc thỉnh cầu, được thực hiện bằng các biểu thức gián tiếp hoặc cấu trúc giảm nhẹ tính áp đặt nhằm bảo đảm nguyên tắc lịch sự.
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”)
Chương 3 khảo sát ngôn ngữ trẻ em ngoài môi trường gia đình và thực hiện thao tác so sánh đối chiếu:
- Chủ đề và vai giao tiếp ngoài xã hội: Hoàn cảnh giao tiếp diễn ra ở không gian rộng lớn và đa dạng hơn như lớp học, sân trường, đường phố, thôn xóm, thiên nhiên. Chủ đề giao tiếp mở rộng sang học tập tại trường, sinh hoạt tập thể, thế giới tự nhiên, quan hệ bạn bè và các hiện tượng xã hội. Vai giao tiếp của trẻ phong phú hơn: vừa có quan hệ trên – dưới xã hội (với thầy cô giáo, người lớn tuổi ngoài xã hội), vừa có quan hệ ngang hàng (với bạn bè cùng trang lứa).
- Đặc điểm xưng hô ngoài xã hội: Luận án thống kê tần số và cách thức xưng hô giữa trẻ em với người lớn ngoài xã hội và giữa trẻ em với trẻ em. Khi giao tiếp với người lớn ngoài xã hội, trẻ áp dụng các từ thân tộc theo phương thức xã hội hóa (bác, chú, cô, thầy, cô giáo) kết hợp tự xưng là "cháu" hoặc "em". Trong giao tiếp ngang hàng giữa trẻ em với nhau, hệ thống từ xưng hô phong phú hơn hẳn so với gia đình: xuất hiện đại từ nhân xưng (tớ – cậu, mình – bạn, tao – mày), xưng hô bằng tên riêng, hoặc sử dụng biệt hiệu, tên đệm.
- Đặc điểm hành động ngôn ngữ ngoài xã hội: Tần số các hành động ngôn ngữ ngoài xã hội có sự dịch chuyển. Khảo sát trường hợp nhóm hành động điều khiển chỉ ra rằng: trong tương tác ngang hàng với bạn bè, trẻ em sử dụng nhiều hành động điều khiển trực tiếp với ngữ khí mạnh mẽ, dứt khoát như rủ rê, yêu cầu, sai khiến, tranh luận, thách thức; trong khi đối với người lớn ngoài xã hội, các hành động này vẫn duy trì khuôn mẫu lễ phép, giữ khoảng cách tôn ti.
- So sánh đặc điểm ngôn ngữ giữa gia đình và ngoài xã hội:
- Điểm tương đồng: Trẻ em luôn bộc lộ tâm lý lứa tuổi ngây thơ, trực tiếp; khi đối thoại với vai trên (người lớn), dù trong gia đình hay ngoài xã hội, trẻ em đều ý thức rõ vị thế vai dưới, tuân thủ nguyên tắc tôn ti trật tự thông qua việc sử dụng từ xưng hô tôn kính và hệ thống thán từ, kính ngữ.
- Điểm khác biệt: Không gian ngoài xã hội tạo điều kiện cho trẻ mở rộng chủ đề giao tiếp vượt khỏi phạm vi sinh hoạt gia đình; vai giao tiếp ngoài xã hội đa dạng và linh hoạt hơn; cách thức xưng hô giữa trẻ em với nhau ngoài xã hội có tính đa dạng, tự do và bộc lộ cá tính cao hơn khuôn mẫu thân tộc cố định trong gia đình; hành động điều khiển trực tiếp xuất hiện với mật độ cao hơn rõ rệt trong các cuộc thoại bạn bè ngoài xã hội.
Dưới đây là bảng tổng hợp hệ thống bảng thống kê ngữ liệu được tác giả xây dựng trong luận án:
| Ký hiệu bảng |
Nội dung khảo sát thống kê trong luận án |
| Bảng 2.1 |
Bảng thống kê cuộc thoại trong giao tiếp của trẻ em trong gia đình |
| Bảng 2.2 |
Chủ đề giao tiếp của trẻ em trong gia đình |
| Bảng 2.3 |
Vai giao tiếp của trẻ em trong gia đình |
| Bảng 2.4 |
Xưng và hô của vai dưới (trẻ em) - vai trên (người lớn) trong giao tiếp gia đình |
| Bảng 2.5 |
Xưng và hô của người lớn (vai trên) - trẻ em (vai dưới) trong giao tiếp gia đình |
| Bảng 2.6 |
Tương quan giữa các kiểu xưng hô của trẻ em trong giao tiếp gia đình |
| Bảng 2.7 |
Bảng thống kê hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình |
| Bảng 2.8 |
Các hành động ngôn ngữ thuộc nhóm hành động điều khiển của trẻ em trong giao tiếp gia đình |
| Bảng 3.1 |
Bảng thống kê cuộc thoại trong giao tiếp của trẻ em ngoài xã hội |
| Bảng 3.2 |
Hoàn cảnh và chủ đề giao tiếp của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội |
| Bảng 3.3 |
Vai giao tiếp của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội |
| Bảng 3.4 |
Xưng và hô của vai dưới (trẻ em) đối với vai trên (người lớn) trong giao tiếp ngoài xã hội |
| Bảng 3.5 |
Xưng và hô của người lớn (vai trên) đối với trẻ em (vai dưới) trong giao tiếp xã hội |
| Bảng 3.6 |
Xưng và hô của trẻ em - trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội |
| Bảng 3.7 |
Tương quan giữa các kiểu xưng hô của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội |
| Bảng 3.8 |
Bảng thống kê hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội |
| Bảng 3.9 |
Các HĐNN thuộc nhóm hành động điều khiển của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án góp phần làm rõ vấn đề về giao tiếp tiếng Việt nói chung và giao tiếp của trẻ em dưới góc độ tác động của các nhân tố ngôn ngữ – xã hội dựa vào đặc điểm ngôn ngữ trong tương tác giao tiếp của trẻ em.
- Công trình góp phần nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và trẻ em theo hướng tiếp cận liên ngành hoặc đa ngành của ngôn ngữ học hiện đại (kết hợp ngôn ngữ học xã hội, ngữ dụng học, tâm lý học lứa tuổi và nghiên cứu văn học).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu giao tiếp tiếng Việt dưới tác động của các nhân tố giao tiếp; từ việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong tương tác giao tiếp, luận án chỉ ra đặc trưng cũng như sự biến đổi trong văn hóa ứng xử – ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam.
- Luận án góp phần bổ sung nguồn tư liệu, ngữ liệu phong phú phục vụ trực tiếp cho công tác học tập, giảng dạy văn học thiếu nhi và phân môn Tiếng Việt trong chương trình giáo dục Tiểu học và Trung học Cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung khai thác phần lời thoại của nhân vật trẻ em thông qua bộ ngữ liệu văn học thành văn là "Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi" (5 tập, Nhà xuất bản Trẻ), chưa mở rộng khảo sát trên các thể loại văn học khác (tiểu thuyết, thơ, kịch bản sân khấu thiếu nhi) cũng như chưa khảo sát trực tiếp lời nói tự nhiên của trẻ em trong sinh hoạt đời thường.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả nêu rõ: trong phạm vi công trình này mới chỉ tập trung nghiên cứu kênh lời thoại nhân vật, phần giao tiếp phi lời (cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, tư thế, khoảng cách giao tiếp) được tạm gác lại để tiếp tục triển khai trong các công trình nghiên cứu sau.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Ngữ dụng học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận ứng dụng lý thuyết sự kiện giao tiếp của Dell Hymes, lý thuyết xưng hô và lý thuyết hành động ngôn ngữ vào phân tích diễn ngôn hội thoại nghệ thuật.
- Đối với giáo viên phổ thông và giảng viên đào tạo sư phạm Tiểu học, Trung học Cơ sở: Các bảng thống kê ngữ liệu và phân tích đặc điểm xưng hô, hành vi ngôn ngữ của trẻ là nguồn tư liệu thực chứng hữu ích để phục vụ giảng dạy các bài học về từ xưng hô, hội thoại, hành động nói và văn học thiếu nhi.
- Đối với các nhà văn, nhà biên kịch sáng tác cho thiếu nhi: Các phát hiện về sự khác biệt giữa ngôn ngữ giao tiếp gia đình và xã hội giúp định hướng xây dựng lời thoại nhân vật phù hợp với tâm lý lứa tuổi và bối cảnh giao tiếp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án căn cứ vào những cơ sở nào để xác lập độ tuổi của đối tượng trẻ em từ 4 đến 15 tuổi?
Luận án căn cứ vào khung pháp lý quốc tế và Việt Nam: các Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1925, 1959, 1968, 1989, 1991); Điều 1 Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 quy định trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và 2004 quy định trẻ em là công dân dưới 16 tuổi. Kết hợp với năng lực ngôn ngữ và độ tuổi trung bình trẻ đến trường, tác giả giới hạn độ tuổi khảo sát là 4–15 tuổi.
2. Tiêu chí và quy mô của nguồn ngữ liệu khảo sát trong luận án được xác định như thế nào?
Nguồn ngữ liệu được thu thập từ bộ sách "Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi" gồm 5 quyển do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Bộ sách gồm 131 truyện ngắn của 93 nhà văn Việt Nam thuộc nhiều thế hệ trên cả nước, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu lời thoại nhân vật trẻ em trên cả hai phương diện không gian và thời gian qua nhiều thập kỷ.
3. Khung lý thuyết phân loại hành động ngôn ngữ nào được luận án sử dụng làm chuẩn phân tích?
Luận án sử dụng lý thuyết hành động ngôn ngữ kế thừa từ J. L. Austin và hệ thống phân loại 5 lớp hành động ngôn ngữ của J. Searle (dựa trên 4 tiêu chí: đích ở lời, hướng khớp ghép, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề), bao gồm: lớp Tái hiện (Xác tín), lớp Điều khiển, lớp Cam kết, lớp Biểu cảm và lớp Tuyên bố; trong đó luận án chọn nhóm hành động điều khiển làm trường hợp khảo sát chuyên sâu.
4. Đâu là điểm khác biệt rõ nét nhất trong cách xưng hô của trẻ em giữa môi trường gia đình và môi trường ngoài xã hội?
Trong gia đình, xưng hô của trẻ mang tính quy ước nghiêm ngặt theo trật tự thân tộc dòng họ (con, cháu, em – xưng; ông, bà, cha, mẹ, anh, chị – hô) đi kèm kính ngữ. Ngoài xã hội, trong quan hệ ngang hàng với bạn bè, xưng hô biến thiên đa dạng hơn với các đại từ nhân xưng (tớ – cậu, mình – bạn, tao – mày), gọi tên riêng và biệt hiệu; còn với người lớn ngoài xã hội, trẻ vận dụng từ ngữ thân tộc xã hội hóa kết hợp với đại từ cháu/em.
5. Luận án chỉ ra điểm tương đồng cốt lõi nào trong ngôn ngữ của trẻ em ở cả hai môi trường?
Dù ở gia đình hay ngoài xã hội, ngôn ngữ của trẻ em đều phản ánh tâm lý lứa tuổi hồn nhiên, trực cảm. Khi giao tiếp với người lớn (vai trên), trẻ em ở cả hai môi trường đều nhận thức rõ vị thế vai dưới của mình, tuân thủ nguyên tắc tôn kính thông qua hệ thống danh từ xưng hô tôn ti và việc sử dụng các từ tình thái, thưa gửi, kính ngữ như dạ, vâng, ạ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lưu Thị Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em độ tuổi 4–15 tuổi dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội tương tác thông qua ngữ liệu lời thoại trong 131 truyện ngắn thiếu nhi Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về chủ đề, vai giao tiếp, phương thức xưng hô và các hành động ngôn ngữ của trẻ em trong hai không gian giao tiếp cơ bản là gia đình và ngoài xã hội. Các kết quả thống kê và phân tích đối chiếu không chỉ kiểm chứng sự vận hành của lý thuyết giao tiếp, xưng hô và hành động nói trên văn bản nghệ thuật mà còn cung cấp nguồn ngữ liệu thực chứng có giá trị cho nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội và hoạt động giảng dạy tiếng Việt, văn học thiếu nhi ở bậc phổ thông.