Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về ngành công nghiệp Vijayakumari Kanapathy (2001), Industrial retructuring in Malysia: Policy shifts and the promotior of new sources of growth (Phục hồi công nghiệp ở Malysia: thay đổi chính sách và thúc đẩy các nguồn tăng trưởng mới) [139]. Cuốn sách đã khái quát sự tăng trưởng công nghiệp của Malaysia những năm cuối thế kỷ 20, trong đó nhấn mạnh những khó khăn của nền kinh tế nước này trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, từ đó đòi hỏi chính phủ Malaysia phải có những thay đổi chính sách công nghiệp để đối phó với cạnh tranh mang tính toàn cầu ngày càng tăng.
Một trong những chính sách căn bản đó là: Chính phủ Malaysia không tham gia trực tiếp vào sản xuất và khu vực kinh tế tư nhân; tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển; phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn; tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài để hình thành, phát triển các KCN, CCN tập trung, nhất là các khu công nghệ cao, các ngành sản xuất không gây ô nhiễm và chính sách thu hút lao động có tay nghề cao từ các quốc gia khác. Bài viết đã tập trung luận giải lý do nền kinh tế Hàn Quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong bốn thập kỷ (từ năm 1960), ngoại trừ cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối những năm 1990.Mah, Chính phủ Hàn Quốc đã can thiệp có chọn lọc trong việc phân bổ nguồn lực trong các hoạt động công nghiệp. Cụ thể, chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp các khoản trợ cấp bằng công cụ thuế, trợ cấp, phân bổ tín dụng, cung cấp cơ sở hạ tầng để thúc đẩy một số ngành công nghiệp chủ lực được lựa chọn. Bài viết cũng giải thích các biện pháp chính sách của chính phủ Hàn 11 Quốc nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế, phân tích điểm mạnh và điểm yếu của chính sách công nghiệp, từ đó gợi ý cho các nước đang phát triển những kinh nghiệm quý báu trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu ngành công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Dani Rodrik (2007), Industrial development: Some stylized facts and policy directions. Report: Industrial Development for the 21st Century: Sustainable Development Perspectives (Phát triển công nghiệp: một số trường hợp cá biệt hóa và định hướng chính sách) [121]. Nghiên cứu đã trình bày 5 định hướng chính sách cho các quốc gia có thể tham khảo trong quá trình xây dựng CCKTCN đó là: (1) Đa dạng hóa sự phát triển kinh tế; (2) Tăng trưởng kinh tế nhanh nhờ vào khu vực công nghiệp CBCT; (3) Sự gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế có liên quan chặt chẽ với việc chuyển dịch cơ cấu các ngành CBCT; (4) Các quốc gia có hoạt động quảng bá thương hiệu sản phẩm tốt sẽ phát triển nhanh hơn; (5) Một số mô hình chuyên môn hóa có lợi hơn so với các mô hình khác để thúc đẩy cải tiến năng lực trong ngành công nghiệp. Jan Harmsen, Joseph B.
Từ việc phân tích, luận giải các quan niệm về phát triển bền vững, phát triển bền vững công nghiệp, các tác giả đã khẳng định vai trò và sự ảnh hưởng của phát triển công nghiệp đối với phát triển kinh tế bền vững. Trên cơ sở nghiên cứu định lượng đối với các ngành hoá chất, dầu khí, sản xuất vật liệu và khai thác khoáng sản, cuốn sách đã chỉ ra cách thức cho các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả tài nguyên để đạt được sự phát triển theo quan điểm phát triển bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Bài báo khẳng định sự xuất hiện các ngành công nghiệp văn hóa là vấn đề mới trong CCKTCN của các quốc gia. Chính vì thế 12 nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về ngành công nghiệp này.
Trong bài viết, tác giả trình bày khái niệm, đặc điểm (nhất là đặc điểm về sản phẩm, thị trường, cách thức quản lý), cơ cấu ngành công nghiệp văn hóa, những khó khăn thách thức trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu ra một số định hướng cần tiếp tục nghiên cứu, nhất là những điểm nghẽn trong việc phân biệt sản phẩm của ngành công nghiệp thông thường với sản phẩm của công nghiệp văn hóa, từ đó tìm ra động lực mới cho quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp trong tương lai. Nội dung bài báo nhấn mạnh: đổi mới sáng tạo là động lực chính cho sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp, đã trở thành một xu hướng trên toàn thế giới. Chiến lược phát triển kỹ thuật số, ứng dụng, triển khai các giải pháp kỹ thuật số vào quá trình sản xuất công nghiệp là yếu tố đảm bảo tính cạnh tranh của khu vực công nghiệp.
Bài báo mô tả lộ trình nghiên cứu sâu hơn theo hướng tạo điều kiện thể chế cho sự phát triển của các hệ thống lấy mạng làm trung tâm và các doanh nghiệp công nghệ cao, cũng như cập nhật các phương pháp và công cụ để phân tích và đánh giá kinh tế hiệu quả. Jan Maarten, Daniel Nigohosyan, Michael Flickens (2021), Impacts of the COVID-19 pandemic on EU industries (Tác động của đại dịch COVID-19 đối với các ngành công nghiệp của EU) [129]. Nghiên cứu này cho rằng, cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 gây ra có tác động rất lớn đến 27 nền kinh tế EU và gây ra các phản ứng chính sách chưa từng có trên toàn cầu. Nghiên cứu, tập trung làm rõ: (1) Tác động của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế EU nói chung và với từng ngành kinh tế nói riêng; (2) Những thay đổi của cơ cấu ngành công nghiệp do cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra; (3) Các biện pháp cần thiết để CCL nhằm phục hồi ngành công nghiệp của các nước thành viên EU.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài về cơ cấu kinh tế công nghiệp và cơ cấu lại kinh tế công nghiệp Martin A. Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa CCKT ngành công nghiệp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, thông qua việc khảo sát 13 ngành công nghiệp ở 12 quốc gia Châu Âu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự tụt hậu, kém hiệu quả của CCKT ngành công nghiệp sẽ kéo theo hệ quả tất yếu là tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại. Biện pháp để khắc phục tình trạng trên là các quốc gia phải tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, điểu chỉnh chiến lược phát triển công nghiệp, hướng tới CCKTCN hợp lý, hiệu quả, nhất là phải ưu tiên thu hút vốn đầu tư để phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp có lợi thế và công nghệ cao.
Rajan, Luigi Zingales (2001), “Financial Systems, Industrial Structure and Growth” (Hệ thống tài chính, tái cơ cấu công nghiệp và tăng trưởng) [137]. Bài báo phân tích sự ảnh hưởng của hệ thống tài chính đến tăng trưởng công nghiệp, tập trung vào sự ảnh hưởng đến cơ cấu ngành công nghiệp và sự phân bố cũng như quy mô của các doanh nghiệp. Nội dung bài viết đã chỉ rõ tầm quan trọng của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính, tác động của những biến động của thị trường tài chính đối với tăng trưởng kinh tế nói chung, tăng trưởng ngành công nghiệp nói riêng và việc xây dựng cơ cấu ngành công nghiệp trước những biến động của thị trường tài chính. Cuốn sách phân tích cấu trúc thị trường công nghiệp, trong đó nhấn mạnh đến lĩnh vực sản xuất và khai thác khoáng sản của các nền kinh tế công nghiệp phát triển.
Đồng thời cuốn sách cũng phân tích mở rộng về giá cả, chính sách sản phẩm, đổi mới công nghệ, chống độc quyền trong lĩnh vực 14 sản xuất công nghiệp, cũng như các chính sách điều chỉnh mối quan hệ giá cả giữa các công ty liên kết theo chiều dọc. Huang Maoxing, Li Junjun (2009), “Technology Choice, Upgrade of Industrial Structure and Economic Growth” (Lựa chọn công nghệ, nâng cấp cơ cấu ngành công nghiệp và tăng trưởng kinh tế) [127]. Các tác giả cho rằng, đổi mới công nghệ là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững nền kinh tế. Cần phải lựa chọn phát triển công nghệ phù hợp và mức độ tích lũy của hệ thống công nghệ được lựa chọn trong nền kinh tế.
Các tác giả đã phân tích mối quan hệ bên trong giữa lựa chọn công nghệ, cơ cấu ngành công nghiệp và tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình xây dựng với dữ liệu bảng điều khiển của 31 tỉnh của Trung Quốc từ năm 1991 đến 2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc đổi mới công nghệ góp phần thúc đẩy CCLKTCN, cải thiện năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Gan Chunhui, Zheng Ruogu, Dianfan Yu (2011), “An Empirical Study on the Effects of Industrial Structure on Economic Growth and Fluctuations in China” (Một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp đối với tăng trưởng và biến động kinh tế ở Trung Quốc) [125]. Bài báo nghiên cứu mối quan hệ giữa CCKT ngành công nghiệp và tăng trưởng kinh tế, và cho rằng việc điều chỉnh CCKT ngành công nghiệp hiện đang là một vấn đề cần thiết ở Trung Quốc.
Tác giả bài báo đưa ra nhận định: việc tối ưu hóa CCKT ngành công nghiệp là một nguồn biến động kinh tế quan trọng, nhưng việc hợp lý hóa CCKT ngành công nghiệp có thể tránh được sự biến động này. Nhìn chung, sự đóng góp của việc hợp lý hóa CCKT ngành công nghiệp để phát triển kinh tế lớn hơn nhiều so với việc tối ưu hóa CCKT ngành công nghiệp. Từ đó, các tác giả đưa ra những gợi ý trong quá trình hoạch định chính sách, chính phủ nên cân nhắc nhiều hơn đến việc hợp lý hóa CCKT ngành công nghiệp thay vì tối ưu hóa cơ cấu này. Cuốn sách này đi sâu phân tích cấu trúc ngành công nghiệp của Hoa Kỳ, so sánh cấu trúc ngành công nghiệp của Hoa Kỳ trước và sau cuộc đại suy thoái kinh tế 2008.
Từ đó, chỉ ra những ngành công nghiệp chủ lực góp phần thúc đẩy kinh tế Hoa Kỳ bước qua khủng hoảng và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay. Theo tác giả, những ngành công nghiệp chủ lực của Hoa Kỳ đó là: công nghiệp dầu khí, công nghiệp điện, công nghiệp viễn thông, công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp chăm sóc sức khỏe, công nghiệp công nghệ cao… và đặc biệt là ngành công nghiệp sản xuất (chế tạo máy bay; chế tạo máy công nghiệp, nông nghiệp; sản xuất hàng tiêu dùng…).