Luận án tiến sĩ: Khám phá bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người Việt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người việt, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

230
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

0.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. ĐÓNG GÓP MỚI

0.6. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

0.7. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2. CÁC VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2.1. Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận

1.2.2. Bức tranh ngôn ngữ

1.2.3. Lí thuyết phạm trù và phạm trù tỏa tia

1.2.4. Ý niệm và ý niệm hóa

1.2.5. Lược đồ và điển dạng

1.2.6. Tính nghiệm thân

1.2.7. Ẩn dụ ý niệm

1.2.8. Khái niệm miền, miền nguồn và miền đích

1.2.9. Khái niệm về “sông nước”

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CHUYỂN DI NGỮ NGHĨA CỦA MIỀN Ý NIỆM SÔNG NƯỚC TRONG TIẾNG VIỆT

2.1. ĐỊNH DANH NƯỚC

2.2. Mô hình: “X + nước”

2.3. Mô hình: “nước + X”

2.4. MÔ HÌNH ẨN DỤ Ý NIỆM PHẠM TRÙ SÔNG NƯỚC TRONG TIẾNG VIỆT

2.4.1. Cuộc sống là vật chứa nước

2.4.2. Thực thể sống dưới nước là con người

2.4.3. Công cụ đánh bắt trên sông nước là con người

2.4.4. Phương tiện trên sông nước là con người

2.4.5. Hoạt động, trạng thái, tính chất của nước là hoạt động, trạng thái, tính chất của con người

2.4.6. Giá trị biểu trưng của miền ý niệm sông nước

2.4.7. Giá trị biểu trưng của miền ý niệm sông nước và liên quan đến sông nước

2.4.8. Giá trị biểu trưng của vật chứa nước và các yếu tố hữu quan

2.4.9. Giá trị biểu trưng của loài vật sống trong nước

2.4.10. Giá trị biểu trưng của công cụ đánh bắt trên sông nước

2.4.11. Giá trị biểu trưng của phương tiện di chuyển trên sông nước

2.4.12. Giá trị biểu trưng đặc tính, trạng thái và vận động của nước

2.4.13. Giá trị biểu trưng hoạt động của con người trong nước

3. CHƯƠNG 3: MIỀN Ý NIỆM SÔNG NƯỚC TRONG TÂM THỨC CỦA NGƯỜI VIỆT

3.1. CON NGƯỜI VÀ DÒNG SÔNG

3.2. ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ SÔNG NƯỚC

3.2.1. Ẩn dụ “Hành trình đời người là hành trình của dòng sông”

3.2.2. Ẩn dụ “Cuộc đời là dòng sông”

3.2.3. Ẩn dụ “Ứng xử của con người là vận động của nước”

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH

ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Bức tranh ngôn ngữ sông nước

Bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận người Việt được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa. Nghiên cứu này tập trung vào việc khám phá cách người Việt sử dụng ngôn ngữ để phản ánh và diễn đạt các ý niệm liên quan đến sông nước. Ngôn ngữ Việt Nam đã hình thành nên một hệ thống từ vựng và cấu trúc ngữ nghĩa phong phú, thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa con người và môi trường sông nước. Các biểu thức ngôn ngữ như 'nước chảy đá mòn', 'uống nước nhớ nguồn' không chỉ là những câu tục ngữ mà còn là sự phản ánh tư duy và văn hóa của người Việt.

1.1. Đặc điểm ngôn ngữ sông nước

Đặc điểm ngôn ngữ liên quan đến sông nước được thể hiện qua các mô hình định danh như 'X + nước' và 'nước + X'. Các mô hình này không chỉ phản ánh sự đa dạng trong cách gọi tên các hiện tượng sông nước mà còn cho thấy sự tương tác giữa ngôn ngữ và văn hóa. Ví dụ, 'nước mắt' không chỉ là chất lỏng mà còn biểu tượng cho cảm xúc, 'nước non' gợi lên hình ảnh quê hương. Những đặc điểm này cho thấy ngôn ngữ Việt Nam đã tích hợp sâu sắc các yếu tố văn hóa và tư duy vào trong hệ thống ngôn ngữ.

1.2. Văn hóa sông nước trong ngôn ngữ

Văn hóa sông nước được thể hiện rõ nét trong ngôn ngữ Việt Nam thông qua các ẩn dụ và hoán dụ. Các biểu thức như 'thuyền về có nhớ bến chăng' không chỉ là câu ca dao mà còn là sự phản ánh tâm thức của người Việt về sự gắn bó với quê hương. Nghiên cứu ngôn ngữ cho thấy, sông nước không chỉ là đối tượng vật lý mà còn là nguồn cảm hứng trong văn hóa và nghệ thuật. Những biểu tượng này đã trở thành một phần không thể thiếu trong tri nhận người Việt.

II. Tri nhận người Việt về sông nước

Tri nhận người Việt về sông nước được hình thành từ sự tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích cách người Việt sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt các ý niệm liên quan đến sông nước. Các ẩn dụ như 'cuộc đời là dòng sông' cho thấy sự phóng chiếu từ miền nguồn (sông nước) sang miền đích (cuộc đời). Điều này không chỉ phản ánh tư duy của người Việt mà còn cho thấy sự gắn kết giữa ngôn ngữ và văn hóa.

2.1. Ẩn dụ ý niệm sông nước

Ẩn dụ ý niệm về sông nước là một trong những công cụ quan trọng để hiểu tri nhận người Việt. Các ẩn dụ như 'hành trình đời người là hành trình của dòng sông' cho thấy sự tương đồng giữa dòng chảy của sông và quá trình sống của con người. Những ẩn dụ này không chỉ phản ánh tư duy mà còn là sự kết nối giữa ngôn ngữ và văn hóa. Nghiên cứu ngôn ngữ đã chỉ ra rằng, ẩn dụ ý niệm là một phần không thể thiếu trong cách người Việt nhìn nhận và diễn đạt thế giới.

2.2. Tương tác ngôn ngữ và văn hóa

Tương tác ngôn ngữvăn hóa trong tri nhận người Việt về sông nước được thể hiện qua các biểu thức ngôn ngữ và hành vi giao tiếp. Các câu tục ngữ, ca dao không chỉ là phương tiện truyền đạt thông tin mà còn là sự phản ánh tư duy và văn hóa. Ví dụ, 'ăn nói trôi chảy' không chỉ diễn tả sự lưu loát trong giao tiếp mà còn gợi lên hình ảnh dòng chảy của nước. Những tương tác này cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa trong tri nhận người Việt.

III. Giá trị và ứng dụng của nghiên cứu

Nghiên cứu về bức tranh ngôn ngữ sông nước trong tri nhận người Việt không chỉ có giá trị về mặt lí luận mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Về mặt lí luận, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong giảng dạy ngữ văn, nghiên cứu tiếng Việt và phát triển văn hóa.

3.1. Giá trị lí luận

Giá trị lí luận của nghiên cứu nằm ở việc làm sáng tỏ cách ngôn ngữ Việt Nam phản ánh tri nhận người Việt về sông nước. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện để diễn đạt và truyền tải văn hóa. Những phát hiện này góp phần vào việc phát triển các lí thuyết về ngôn ngữ và văn hóa, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu được thể hiện qua việc sử dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy và phát triển văn hóa. Các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến sông nước có thể được sử dụng như tài liệu giảng dạy trong các môn ngữ văn, giúp học sinh hiểu sâu hơn về văn hóa và tư duy của người Việt. Ngoài ra, nghiên cứu còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống liên quan đến sông nước.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO Li THUYET 1. TONG QUAN TINH HiINH NGHIEN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Tw goc độ văn hóa Lĩnh vực sông nước được đề cập nhiều nhất có lẽ là trong các tải liệu về văn hóa học, có thê kể: Từ điển biểu tượng văn hóa thể giới (bản dịch) của Chevalier, Jean & Alain Gheerbrant, 2002 [6].

Trong công trình này, “sông” và “nước” như là một đặc tính của văn hóa được mô tả thông qua một số nền văn hóa. Tương tự, 4manach những nên văn mình thế giới, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2006 [1], “sông” và “nước” tuy không phải là chủ đề riêng biệt, nhưng cũng được đề cập đến, nhiều nhất là trong sinh hoạt, trong giao thông và cả trong phong thủy. Từ góc độ ngôn ngữ học Một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu trường nghĩa “nước” như: Laurel J.

Brinton va Donna M. Brinton trong “The Linguistic Structure of Modern English”, phần nghĩa của từ, bài tập 6.4 vé cac trudng tir, muc (c) Nước. Các tác giả đã phân trường “nước” thành 5 tiểu trường sau: (Ù các dạng thức tổn tại của nước (forms): bang (ice), nude (water), hơi nước nóng (steam), hơi nước, hơi sương (vapor), mưa tuyết (sleet), (mưa) rain, (tuyét) snow, mua da (hail). Ngoài ra, phân lập trường “nước” và các yếu tô liên quan đến “nước” còn có thể kế đến công trình của các tác giả ở trường đại học Texas [96].

Trước khi bàn đến bức tranh ngôn ngữ về sông nước, cần thiết phải có cái nhìn tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận. Với tư cách là một khuynh hướng nghiên cứu mới, ngôn ngữ học tri nhận đã được các học giả nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, các thuật ngữ như: ngôn ngữ học tri nhận (cognitive lingguistics), ngir nghia hoc tri nhdn (cognitive semantics), va ngir pháp trí nhận (cognitive grammar) thì mới xuất hiện trong một số công trình, đáng chú ý là Cơ sở của ngữ pháp tri nhận của R. Các tác phẩm góp phần đặt nền móng cho ngôn ngữ học có thể kể đến như: Metaphors we live by cua G.

Jonhson, Chicago - London, University of Chicago Press, 1980, The Body in the Mind: The Body Basis of Meaning, Imagination and Reason cia M.Johnson, 1987, Chicago, University of Chicago Press, 1987, Women, fire, and danggerous things cua G. Lakoff, 10 Chicago, London, University of Chicago Press, 1987, Foundation of Cognitive Grammar cua R. Langacker, Stanford University Press, 1987, v. Trong Metaphors we live by, George Lakoff and Mark Johnson da bat đầu quiển sách của mình bằng quan niệm mới về ân dụ rất khác với truyền thống: “Chứng tôi thấy rằng ẩn dụ tôn tại khắp nơi trong cuộc sống hằng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư duy và hành động.

Hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta - thể hiện qua suy nghĩ cũng như hành động - về bản chất mang tính ẩn du” [102, 3]. Sau đó, ngôn ngữ học tri nhận chính thức ra đời vào năm 1989 tại Hội nghị khoa học được tổ chức tại Duisbury (Đức). Cũng tại hội nghị, Hội Ngôn ngữ học tri nhận quốc tế được thành lập và cho phát hành Tạp chí Ngồn ngữ học tri nhận. Ngôn ngữ học tri nhận hiện đang rất phát triển trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên cứ liệu nhiều ngôn ngữ được công bố.

Ở Trung Quốc, từ cuối thế kỷ XX, giới ngôn ngữ học của nước này đã bắt đầu quan tâm đến ngôn ngữ học tri nhận. Không chỉ nghiên cứu về lí thuyết, các học giả Trung Quốc còn đặc biệt quan tâm đến tính ứng dụng trong giảng dạy ngoại ngữ, giảng dạy tiếng Hán, nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. Có thể nói, ngôn ngữ học tri nhận đã đã thúc đây sự ra đời của ngành Từ vựng học tri nhận tiếng Hán. Lĩnh vực ngữ pháp học, Trương Mẫn đã cho ra mắt quiên Ngôn ngữ học tri nhận và danh ngữ tiếng Hán, Đái Hạo Nhất và Trương Mẫn với cuốn Ngữ pháp chức năng tri nhận tiếng Hán, Triệu Diễm Phương với Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận.

Trong công trình sau, đã được dịch ra tiếng Việt, Triệu Diễm Phương đã giới thiệu một cách tổng quát các thành tựu của ngôn ngữ học tri nhận, một số vấn đề của khoa học này. Điều đặc biệt là, tác giả đã cô gắng truy tìm ngọn nguồn của những tư tưởng cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời 11 chỉ ra được những ứng dụng của nó đối với việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, nhất là ứng dụng nghiên cứu tiếng Hán dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận. Liên quan trực tiếp đến đề tài đang bàn ở đây, theo quan sát bước đầu của luận án, ấn dụ sông nước trong các ngôn ngữ biến hình xuất hiện không nhiều. Theo Trịnh Sâm (2016), trong văn hóa phương Tây, nó chỉ xuất hiện một vài ấn du: GIAO THONG LA MOT CON SONG, VAN DE LA MOT CO THE NUGC/MOT VUNG NUGC, VAN DE LA MOT VAT CHUA NUGC.

Riêng trong giới học giá Trung Quốc cũng có hai bài bản về “nước”: bài của Rong Chen (Water networks, the Chinese radical, and beyond in Languages and Linguistics, Compendium of cognitive linguistics research, Thomas Fuyin Li (ed), Nova publishers, New York, 2012) va Y. Trong do, nghién cứu về cấu tạo chữ Hán có bộ “thủy” và một số ân dụ về nước. Cũng theo Trịnh Sâm (2016), tuy về mặt văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam có những đặc điểm gần gũi nhưng tri nhận sông nước rất khác biệt. Như vậy, nói không quá rằng, với tư cách là một miền nguồn, sông nước có thê xuất hiện ở một số ngôn ngữ nhưng đậm đặc và phong phú nhất có lẽ là trong tiếng Việt.

Điều này cũng dễ hiểu vì với người Việt Nam từ Nam chí Bắc sông nước là một thực thể rất thân thuộc và gần gũi. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1 Từ góc độ văn hóa Ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX, Cao Xuân Huy khi đề cập đến lịch trình tư tưởng dân tộc đã nhắc đến “đặc tính nước” như một biểu tượng khái quát cho đặc trưng của dân tộc Việt. Ông cho rằng: “Sức sống của nước là ở nguôn, sức mạnh của nước là ở chỗ rất nhiều hạt nhỏ cầu kết lại với nhau một cách mem mai, uyễn chuyền, linh hoạt, lưu động, có thể uốn theo 12 đường cong, đường thẳng, chỗ lôi, chỗ lõm của đối tượng” [34, 363]. Tuy nhiên, cần thấy tính chất uuển chuyển, mêm mại, linh hoạt, lưu động không có nghĩa là mềm yếu.

Tác giả khẳng định: “Đó không phải là vì nó không có cá tính. Trái lại, đó là khả năng thích ứng vô hạn của nó mà chính cái khả năng thích ứng đó là cái tính ưu việt, cải bí quyết sinh ton của dân tộc ta” [34, 364]. Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1995), Trần Ngọc Thêm đánh giá rất cao vai trò của “làng nước” trong tâm thức cũng như ứng xử của người Viét. Tác giả khai thác nhiều tính chất thiên về âm tính của nước.

Tuy không biện giải một cách tường minh, nhưng theo tác giả, ước (chất lỏng) và nước (quốc gia) trong “đất nước” là cùng một nguồn gốc. Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Nước không chỉ phản ánh điều kiện địa lí và đặc điển kinh tế, nó còn nói lên những đặc tính đặc trưng nhất của văn hóa Việt Nam: Đó là thiên về âm tính (so với đất thì đất dương, nước âm); sự mềm mỏng, linh hoạt (nước luôn lách, chảy vào khắp mọi nơi, nó không có hình dáng nhất định); khả năng thích nghỉ cao (chảy vào vật gì thì mang hình dạng của vật đỏ), v. Tác giả nhân mạnh: “. /uôn hướng tới sự thăng bằng, quân bình (nước luôn chảy về chỗ trũng, bớt chỗ nhiều, bù chỗ thiếu)” [73, 161].

Đáng chú ý hơn cả là cuốn Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (Trần Ngọc Thêm chủ biên, 2013). Trong công trình này, nhóm tác giả đã trình bày hai nội dung có liên quan đến “sông nước”, bao gồm: (¡) “Văn hóa ứng xử với đất và nước của người Việt vùng Tây Nam Bộ” (chương II), (ii) “Tính sông nước” (chương V). Trong chuong III, nhóm tác gia nhấn mạnh vấn đề tận dụng nước trong buôn bán, cư trú và sinh hoạt của người Việt vùng Tây Nam Bộ. Trong chương V, khi nói về “tính sông nước”, nhóm tác giả cho rằng: “Tính sông nước — hay nói đầy đủ hơn là “tính hòa hợp cao với thiên nhiên sông nước” — là một đặc trưng tính cách văn hóa xuất hiện ở những vùng văn hóa có mạng lưới sông nước dày đặc chỉ phối toàn bộ cuộc sống vật chất và tinh thần của con người và con người thì biết khai thác tối đa lợi thế của thiên 13 nhiên sông nước trong khi chỉ đối phó với nó ở mức tối thiểu và đối phó mà không xung đột với nó" [76, 647].

Co thé nói công trình đã tổng kết, kế thừa được thành tựu nghiên cứu về văn hóa sông nước của nhiều thế hệ. Từ góc độ ngôn ngữ Trước đây, Nguyễn Kim Thản (1993), trong lúc đi tìm các cứ liệu dé chứng minh cho nhận định “môi trường sống thời xa xưa cũng để lại những dấu ấn trong vốn từ vựng tiếng Việt” cũng cho rằng: “nước có nghĩa là quốc gia, tổ quốc là từ cùng gốc với nước với nghĩa là chất lỏng, không màu, không mùi, không vị, có công thức Hạ0” và cũng thừa nhận rằng hai yếu tổ “đât” và “nước” có một tầm quan trọng rất to lớn trong đời sống của ngươi Việt” [61, 33]. Trần Thị Ngọc Lang (1982, 1995), trong khi nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ đã dành riêng một chương để mô tả về nhận thức khá chỉ tiết nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ. Tác giả cung cấp khá đầy đủ về bức tranh phân cắt hiện thực của người Nam Bộ trên ba nhóm từ chỉ: địa hình, sự vận động của dòng nước, sự vận động của con người trên sông nước và các phương tiện dùng cho hoạt động này.

Những tư liệu cung cấp ở chương này là rất lí thú và bổ ích, nhất là khi so sánh đối chiếu với các phương ngữ khác. Luận án của Trương Thị Nhàn (1995) với đề tài “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thâm mỹ - không gian trong ca dao” (luận án phó tiến sĩ). Tác giả đã đề cập đến một số biểu trưng như biển, sông, cầu, thuyền, V. nÓI chung là những từ chỉ không gian (không gian khung chứa, không gian tọa độ, không gian vật thê).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Bức tranh ngôn ngữ sông nước trong tri nhận người Việt là một nghiên cứu chuyên sâu về cách người Việt tri nhận và biểu đạt thế giới sông nước thông qua ngôn ngữ. Tác giả khám phá những đặc trưng văn hóa, tâm lý, và tư duy của người Việt được phản ánh qua các từ ngữ, thành ngữ, và tục ngữ liên quan đến sông nước. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ học, văn hóa dân gian, và tư duy tri nhận của người Việt.

Để mở rộng kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn tốt nghiệp đặc điểm ngôn ngữ văn hóa của địa danh huyện tây giang quảng nam, nghiên cứu về sự giao thoa giữa ngôn ngữ và văn hóa địa phương. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ việt nam học công cụ trồng lúa nước của người việt ở đồng bằng bắc bộ cung cấp góc nhìn về mối liên hệ giữa văn hóa sông nước và nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ thành ngữ tục ngữ hàn quốc nói về động vật và thực vật một vài so sánh với việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự tương đồng và khác biệt trong cách tri nhận thiên nhiên giữa hai nền văn hóa.