Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO Li THUYET 1. TONG QUAN TINH HiINH NGHIEN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Tw goc độ văn hóa Lĩnh vực sông nước được đề cập nhiều nhất có lẽ là trong các tải liệu về văn hóa học, có thê kể: Từ điển biểu tượng văn hóa thể giới (bản dịch) của Chevalier, Jean & Alain Gheerbrant, 2002 [6].
Trong công trình này, “sông” và “nước” như là một đặc tính của văn hóa được mô tả thông qua một số nền văn hóa. Tương tự, 4manach những nên văn mình thế giới, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2006 [1], “sông” và “nước” tuy không phải là chủ đề riêng biệt, nhưng cũng được đề cập đến, nhiều nhất là trong sinh hoạt, trong giao thông và cả trong phong thủy. Từ góc độ ngôn ngữ học Một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu trường nghĩa “nước” như: Laurel J.
Brinton va Donna M. Brinton trong “The Linguistic Structure of Modern English”, phần nghĩa của từ, bài tập 6.4 vé cac trudng tir, muc (c) Nước. Các tác giả đã phân trường “nước” thành 5 tiểu trường sau: (Ù các dạng thức tổn tại của nước (forms): bang (ice), nude (water), hơi nước nóng (steam), hơi nước, hơi sương (vapor), mưa tuyết (sleet), (mưa) rain, (tuyét) snow, mua da (hail). Ngoài ra, phân lập trường “nước” và các yếu tô liên quan đến “nước” còn có thể kế đến công trình của các tác giả ở trường đại học Texas [96].
Trước khi bàn đến bức tranh ngôn ngữ về sông nước, cần thiết phải có cái nhìn tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận. Với tư cách là một khuynh hướng nghiên cứu mới, ngôn ngữ học tri nhận đã được các học giả nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, các thuật ngữ như: ngôn ngữ học tri nhận (cognitive lingguistics), ngir nghia hoc tri nhdn (cognitive semantics), va ngir pháp trí nhận (cognitive grammar) thì mới xuất hiện trong một số công trình, đáng chú ý là Cơ sở của ngữ pháp tri nhận của R. Các tác phẩm góp phần đặt nền móng cho ngôn ngữ học có thể kể đến như: Metaphors we live by cua G.
Jonhson, Chicago - London, University of Chicago Press, 1980, The Body in the Mind: The Body Basis of Meaning, Imagination and Reason cia M.Johnson, 1987, Chicago, University of Chicago Press, 1987, Women, fire, and danggerous things cua G. Lakoff, 10 Chicago, London, University of Chicago Press, 1987, Foundation of Cognitive Grammar cua R. Langacker, Stanford University Press, 1987, v. Trong Metaphors we live by, George Lakoff and Mark Johnson da bat đầu quiển sách của mình bằng quan niệm mới về ân dụ rất khác với truyền thống: “Chứng tôi thấy rằng ẩn dụ tôn tại khắp nơi trong cuộc sống hằng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư duy và hành động.
Hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta - thể hiện qua suy nghĩ cũng như hành động - về bản chất mang tính ẩn du” [102, 3]. Sau đó, ngôn ngữ học tri nhận chính thức ra đời vào năm 1989 tại Hội nghị khoa học được tổ chức tại Duisbury (Đức). Cũng tại hội nghị, Hội Ngôn ngữ học tri nhận quốc tế được thành lập và cho phát hành Tạp chí Ngồn ngữ học tri nhận. Ngôn ngữ học tri nhận hiện đang rất phát triển trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên cứ liệu nhiều ngôn ngữ được công bố.
Ở Trung Quốc, từ cuối thế kỷ XX, giới ngôn ngữ học của nước này đã bắt đầu quan tâm đến ngôn ngữ học tri nhận. Không chỉ nghiên cứu về lí thuyết, các học giả Trung Quốc còn đặc biệt quan tâm đến tính ứng dụng trong giảng dạy ngoại ngữ, giảng dạy tiếng Hán, nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. Có thể nói, ngôn ngữ học tri nhận đã đã thúc đây sự ra đời của ngành Từ vựng học tri nhận tiếng Hán. Lĩnh vực ngữ pháp học, Trương Mẫn đã cho ra mắt quiên Ngôn ngữ học tri nhận và danh ngữ tiếng Hán, Đái Hạo Nhất và Trương Mẫn với cuốn Ngữ pháp chức năng tri nhận tiếng Hán, Triệu Diễm Phương với Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận.
Trong công trình sau, đã được dịch ra tiếng Việt, Triệu Diễm Phương đã giới thiệu một cách tổng quát các thành tựu của ngôn ngữ học tri nhận, một số vấn đề của khoa học này. Điều đặc biệt là, tác giả đã cô gắng truy tìm ngọn nguồn của những tư tưởng cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời 11 chỉ ra được những ứng dụng của nó đối với việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, nhất là ứng dụng nghiên cứu tiếng Hán dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận. Liên quan trực tiếp đến đề tài đang bàn ở đây, theo quan sát bước đầu của luận án, ấn dụ sông nước trong các ngôn ngữ biến hình xuất hiện không nhiều. Theo Trịnh Sâm (2016), trong văn hóa phương Tây, nó chỉ xuất hiện một vài ấn du: GIAO THONG LA MOT CON SONG, VAN DE LA MOT CO THE NUGC/MOT VUNG NUGC, VAN DE LA MOT VAT CHUA NUGC.
Riêng trong giới học giá Trung Quốc cũng có hai bài bản về “nước”: bài của Rong Chen (Water networks, the Chinese radical, and beyond in Languages and Linguistics, Compendium of cognitive linguistics research, Thomas Fuyin Li (ed), Nova publishers, New York, 2012) va Y. Trong do, nghién cứu về cấu tạo chữ Hán có bộ “thủy” và một số ân dụ về nước. Cũng theo Trịnh Sâm (2016), tuy về mặt văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam có những đặc điểm gần gũi nhưng tri nhận sông nước rất khác biệt. Như vậy, nói không quá rằng, với tư cách là một miền nguồn, sông nước có thê xuất hiện ở một số ngôn ngữ nhưng đậm đặc và phong phú nhất có lẽ là trong tiếng Việt.
Điều này cũng dễ hiểu vì với người Việt Nam từ Nam chí Bắc sông nước là một thực thể rất thân thuộc và gần gũi. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1 Từ góc độ văn hóa Ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX, Cao Xuân Huy khi đề cập đến lịch trình tư tưởng dân tộc đã nhắc đến “đặc tính nước” như một biểu tượng khái quát cho đặc trưng của dân tộc Việt. Ông cho rằng: “Sức sống của nước là ở nguôn, sức mạnh của nước là ở chỗ rất nhiều hạt nhỏ cầu kết lại với nhau một cách mem mai, uyễn chuyền, linh hoạt, lưu động, có thể uốn theo 12 đường cong, đường thẳng, chỗ lôi, chỗ lõm của đối tượng” [34, 363]. Tuy nhiên, cần thấy tính chất uuển chuyển, mêm mại, linh hoạt, lưu động không có nghĩa là mềm yếu.
Tác giả khẳng định: “Đó không phải là vì nó không có cá tính. Trái lại, đó là khả năng thích ứng vô hạn của nó mà chính cái khả năng thích ứng đó là cái tính ưu việt, cải bí quyết sinh ton của dân tộc ta” [34, 364]. Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1995), Trần Ngọc Thêm đánh giá rất cao vai trò của “làng nước” trong tâm thức cũng như ứng xử của người Viét. Tác giả khai thác nhiều tính chất thiên về âm tính của nước.
Tuy không biện giải một cách tường minh, nhưng theo tác giả, ước (chất lỏng) và nước (quốc gia) trong “đất nước” là cùng một nguồn gốc. Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Nước không chỉ phản ánh điều kiện địa lí và đặc điển kinh tế, nó còn nói lên những đặc tính đặc trưng nhất của văn hóa Việt Nam: Đó là thiên về âm tính (so với đất thì đất dương, nước âm); sự mềm mỏng, linh hoạt (nước luôn lách, chảy vào khắp mọi nơi, nó không có hình dáng nhất định); khả năng thích nghỉ cao (chảy vào vật gì thì mang hình dạng của vật đỏ), v. Tác giả nhân mạnh: “. /uôn hướng tới sự thăng bằng, quân bình (nước luôn chảy về chỗ trũng, bớt chỗ nhiều, bù chỗ thiếu)” [73, 161].
Đáng chú ý hơn cả là cuốn Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (Trần Ngọc Thêm chủ biên, 2013). Trong công trình này, nhóm tác giả đã trình bày hai nội dung có liên quan đến “sông nước”, bao gồm: (¡) “Văn hóa ứng xử với đất và nước của người Việt vùng Tây Nam Bộ” (chương II), (ii) “Tính sông nước” (chương V). Trong chuong III, nhóm tác gia nhấn mạnh vấn đề tận dụng nước trong buôn bán, cư trú và sinh hoạt của người Việt vùng Tây Nam Bộ. Trong chương V, khi nói về “tính sông nước”, nhóm tác giả cho rằng: “Tính sông nước — hay nói đầy đủ hơn là “tính hòa hợp cao với thiên nhiên sông nước” — là một đặc trưng tính cách văn hóa xuất hiện ở những vùng văn hóa có mạng lưới sông nước dày đặc chỉ phối toàn bộ cuộc sống vật chất và tinh thần của con người và con người thì biết khai thác tối đa lợi thế của thiên 13 nhiên sông nước trong khi chỉ đối phó với nó ở mức tối thiểu và đối phó mà không xung đột với nó" [76, 647].
Co thé nói công trình đã tổng kết, kế thừa được thành tựu nghiên cứu về văn hóa sông nước của nhiều thế hệ. Từ góc độ ngôn ngữ Trước đây, Nguyễn Kim Thản (1993), trong lúc đi tìm các cứ liệu dé chứng minh cho nhận định “môi trường sống thời xa xưa cũng để lại những dấu ấn trong vốn từ vựng tiếng Việt” cũng cho rằng: “nước có nghĩa là quốc gia, tổ quốc là từ cùng gốc với nước với nghĩa là chất lỏng, không màu, không mùi, không vị, có công thức Hạ0” và cũng thừa nhận rằng hai yếu tổ “đât” và “nước” có một tầm quan trọng rất to lớn trong đời sống của ngươi Việt” [61, 33]. Trần Thị Ngọc Lang (1982, 1995), trong khi nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ đã dành riêng một chương để mô tả về nhận thức khá chỉ tiết nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ. Tác giả cung cấp khá đầy đủ về bức tranh phân cắt hiện thực của người Nam Bộ trên ba nhóm từ chỉ: địa hình, sự vận động của dòng nước, sự vận động của con người trên sông nước và các phương tiện dùng cho hoạt động này.
Những tư liệu cung cấp ở chương này là rất lí thú và bổ ích, nhất là khi so sánh đối chiếu với các phương ngữ khác. Luận án của Trương Thị Nhàn (1995) với đề tài “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thâm mỹ - không gian trong ca dao” (luận án phó tiến sĩ). Tác giả đã đề cập đến một số biểu trưng như biển, sông, cầu, thuyền, V. nÓI chung là những từ chỉ không gian (không gian khung chứa, không gian tọa độ, không gian vật thê).