CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổng quan nghiên cứu Luận án được nghiên cứu dựa trên các cơ sở lí thuyết của NNHTN. Để có cái nhìn tổng quan, trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến truyền thông trong ngôn ngữ nói chung, ADYN về truyền thông nói riêng trên thế giới và Việt Nam. Kết quả nghiên cứu được trình bày theo hướng từ lí thuyết đến ứng dụng nhằm nhìn nhận sự thay đổi, phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu về truyền thông và ADYN về truyền thông, đồng thời phát hiện khoảng trống của vấn đề nghiên cứu. Cơ sở lí thuyết của luận án bao gồm: khái niê ̣m truyền thông, các đă ̣c điể m của truyề n thông, các quan điểm về ẩn dụ, các vấn đề cơ bản của ADYN, một số khái niệm liên quan đến ADYN và quy trình phân loại MN.1 Tình hình nghiên cứu về ADYN trên thế giới NNHTN bắt đầu phổ biến vào thập niên 80 của thế kỷ 20 với sự khởi xướng của Lakoff và Johnson bằng cuốn sách được ví như “kinh thánh” của NNHTN “Metaphors We Live By” [92].
Lí thuyết tri nhận về ẩn dụ bắt nguồn từ Lakoff giúp cho danh tiếng của ông vượt ra ngoài phạm vi thuần túy ngôn ngữ học và thổi một luồng gió mới cho việc phát triển lí thuyết ẩn dụ. Với tuyên bố “ẩn dụ không đơn thuần là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy và hành động”, Lakoff và Johnson (1980) khẳng định ẩn dụ không chỉ là thủ pháp tu từ mà là phương thức tư duy. Điều này khiến phạm vi nghiên cứu về ẩn dụ không chỉ dừng lại ở ẩn dụ trong ngôn ngữ mà chuyển sang ẩn dụ trong trí não, từ đó mở ra cánh cửa để tìm hiểu quá trình tư duy của con người đối với các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, ẩn dụ vượt qua ranh giới ngôn ngữ học thuần túy, trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học hấp dẫn của nhiều ngành khoa học. Trong các nghiên cứu của Kövecses (2000 [97], 2002, 2010 [96], 2005 [98],.) đã nhấn mạnh rằng ẩn dụ không chỉ có tính phổ quát mà còn có tính đặc trưng trong từng nền văn hóa.
Điều này có nghĩa là, nghiệm thân 9 phổ quát có thể dẫn đến khả năng xuất hiện của ẩn dụ phổ quát, nhưng các trải nghiệm văn hóa xã hội và quá trình tri nhận khác nhau có thể tạo ra sự khác biệt trong ẩn dụ. Tiếp theo đó, các khía cạnh khác nhau của ADYN dần dần được các nhà ngôn ngữ học bóc tách và khai phá, trong đó thuyết nghiệm thân là một nội dung quan trọng được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Các nghiên cứu khẳng định kinh nghiệm thể xác của con người là cơ sở của sự hình thành ADYN. Trong các nghiên cứu của mình, Kövecses (1986) cho rằng các AD cảm xúc đều được cấu trúc dựa trên những trải nghiệm nghiệm thân của con người [95].
Quan điểm này được Lakoff và Johnson (1999) phát triển thành thuyết trí tuệ nghiệm thân trong tác phẩm Philosophy in the Flesh: The Embodied Mind and Its Challenge to Western Thought [104]. Những nội dung lí luận liên quan đến ADYN và văn hóa cũng là một khía cạnh đáng chú ý. Trong hướng nghiên cứu này, các công trình của Kövecses là những nghiên cứu điển hình, tác giả đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa ADYN và văn hóa giữa con người - ngôn ngữ - xã hội. Trong Metaphor and Emotion: Language, Culture, and Body in Human Feeling, Kövecses (2000) đã xây dựng một hệ thống chi tiết ADYN thuộc phạm trù cảm xúc, đồng thời chỉ ra tính phổ quát và đặc thù văn hóa của các ADYN này [97].
Sau khi ra đời, lí thuyết về ADYN tiếp tục được phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Công trình tiếp theo của Johnson (1987): The Body in the Mind [93] và Lakoff (1987): Women, Fire and Dangerous Things [101] là những nghiên cứu nền tảng về ADYN với quan điểm cho rằng cơ sở của ADYN là dựa trên kinh nghiệm thân thể. Với sự mở rộng hướng nghiên cứu về cấu trúc tri nhận, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy có những ADYN mà nếu chỉ dùng ánh xạ hai miền nguồn – đích thì không đủ lí giải một số sắc thái ý nghĩa vốn không có sẵn ở MN và MĐ. Fauconnier và Turner (2003) đã phát triển lí thuyết không gian pha trộn (blending theory) có nhiều điểm giống với lí thuyết thần kinh về ngôn ngữ học.
Về bản chất, không gian tinh thần như miền ý niệm trong thuyết ADYN của Lakoff và Johnson. Lí thuyết 10 pha trộn ý niệm xoay quanh các không gian tinh thần với tư cách các gói ý niệm (conceptual packet). Pha trộn ý niệm là sự tích hợp của bốn không gian tinh thần (không gian chung, không gian nhập 1-2, không gian pha trộn với quan hệ ánh xạ đa chiều. Fauconnier và Turner (2003) cũng đã phân tích ví dụ “This surgeon is a butcher” (Bác sĩ giải phẫu là tên đồ tể).
Không gian pha trộn đã giúp giải thích những ý nghĩa trong ví dụ mà ánh xạ hai miền không thể giải quyết được [82]. Cuốn sách The Cambridge Handbook of Metaphor and Thought do Gibbs (2008) làm chủ biên [85] trình bày sự phát triển quan trọng trong các nghiên cứu về ẩn dụ đương đại được thể hiện qua các bài viết về ADYN từ nhiều góc độ, từ ngôn ngữ, văn hóa cho đến lí trí và cảm xúc, về ảnh hưởng của ẩn dụ đến nhận thức, giao tiếp và văn hóa của loài người. Lí thuyết ADYN mở rộng của Kövecses (2020) không chỉ đề cập đến cái nhìn tổng quan về lí thuyết ADYN của Lakoff và Johnson (1980, 2003) mà còn phân tích các hạn chế của nó. Kövecses (2020) chỉ ra rằng việc nghiên cứu ADYN ở các cấp độ sơ đồ hình ảnh, miền, và khung không đủ để phát hiện các đặc trưng văn hóa dân tộc.
Chỉ khi nghiên cứu đến cấp độ thứ tư – cấp độ không gian tinh thần gắn với ngữ cảnh – mới có thể phát hiện được những khác biệt về đặc trưng văn hóa giữa các dân tộc, từ đó làm rõ cách chúng ta tri nhận thế giới thực. Kövecses (2020) tôn vinh vai trò không thể phủ nhận của ngữ cảnh trong nghiên cứu về ADYN. Tác giả đề cao vai trò quan trọng của ngữ cảnh trong việc hình thành và hiểu ẩn dụ. Các ẩn dụ không chỉ tồn tại trong ý niệm mà còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, từ ngữ cảnh văn hóa cho đến các tình huống cụ thể.
Ví dụ, ADYN " THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC" có thể được hiểu khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh. Trong một văn hóa nơi mà thời gian được coi là quan trọng như tiền bạc, ẩn dụ này có thể được hiểu một cách tích cực. Tuy nhiên, trong một ngữ cảnh khác, khi mà thời gian không quan trọng bằng tiền bạc, ẩn dụ này có thể mang theo ý nghĩa tiêu cực [100]. Về các ứng dụng của lí thuyết ẩn dụ, những năm gần đây, các nghiên cứu về ý niệm nói chung và ADYN nói riêng có chiều hướng chú trọng tính ứng dụng.
Nói về tính ứng dụng của ADYN, theo Croft và Cruse (2004) [75], mục đích chính của 11 Lakoff trong việc phát triển lí thuyết ADYN là tìm hiểu các ánh xạ giữa hai miền nguồn và đích và lí giải thông qua lý lẽ và hành vi của con người, từ đó ứng dụng lí thuyết này vào các lĩnh vực cụ thể. Bản thân Lakoff và Johnson (1980) luôn cố gắng hoàn thiện học thuyết ADYN của mình và mở rộng phạm vi ứng dụng học thuyết này sang nhiều lĩnh vực khác nhau. Đến nay lí thuyết ADYN đã được sử dụng trong các lĩnh vực như ĐIỆU BỘ [74]; CHÍNH TRỊ [66], [73], [110]; KINH TẾ [72], [83], [94]; GIÁO DỤC [70], [71]; CẢM XÚC [95], [130]; TÌNH YÊU [129]; QUẢNG CÁO [109]; DIỄN NGÔN TRUYỀN THÔNG [77] [99], [120], [126] với sự đa dạng trong ngữ liệu nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm tại Việt Nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu về NNHTN nói chung và ADYN nói riêng bắt đầu từ đầu thế kỷ 21.
Người đặt nền móng nghiên cứu NNHTN tại Việt Nam một cách có hệ thống với khung lí thuyết cụ thể là Lý Toàn Thắng (2009) với tác phẩm “Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt”. Trong tác phẩm này, Lý Toàn Thắng giới thiệu các khái niệm và khung lí thuyết cơ bản của ngành như tri nhận, ý niệm, hình-nền, nguyên lý “dĩ nhân vi trung”. Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào nghiên cứu ADYN mà tập trung vào đặc điểm tri nhận không gian của người Việt. Đây là một công trình quan trọng, giới thiệu một xu hướng nghiên cứu mới và có giá trị thực tiễn khi áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt.
Trong các nghiên cứu về ADYN, đáng chú ý là các công trình của Trần Văn Cơ (2007), (2009), (2011). Tác giả tổng thuật lại toàn bộ các vấn đề cốt lõi của lý thuyết ADYN dựa trên hai tác phẩm “Metaphors We Live By” (Lakoff và Johnson, 1980) và “Women, Fire and the Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind” (Lakoff, 1987). Các công trình của Trần Văn Cơ thực sự cần thiết và hữu ích, giúp cho việc tiếp cận NNHTN ở Việt Nam trở nên dễ dàng hơn và thúc đẩy việc áp dụng lí thuyết NNHTN vào thực tiễn nghiên cứu tiếng Việt. Bên cạnh đó, các nghiên cứu tập trung vào tính ứng dụng của ADYN trong các diễn ngôn với các phạm trù, ý niệm quen thuộc trong văn hóa Việt như: THỰC VẬT (Trần Thị Phương Lý [40], Lê Đức Luận, Phạm Thị Kiều Oanh [39]); CON 12 NGƯỜI (Đào Duy Tùng, Đinh Lam Trường [53]); ẨM THỰC (Nguyễn Thị Bích Hợp [29], Nguyễn Thị Hương [32]); TÌNH YÊU (Phan Văn Hòa, Hồ Trịnh Quỳnh Thư [25], Trần Văn Nam [42], Đinh Thị Hương [33]); KINH TẾ (Nguyễn Thị Thanh Huyền [31]), Hà Thanh Hải [19]), CHÍNH TRI ̣ (Nguyễn Tiến Dũng [10]); LỬA và NƯỚC (Huỳnh Ngọc Mai Kha [34]); XÂY DỰNG (Lê Lâm Thi [58]); SÔNG NƯỚC (Trịnh Sâm [49]); QUẢNG CÁO (Nguyễn Thị Lan Phương [46]); KHẨU HIỆU (Phí Thị Thu Trang [61]),… Các nghiên cứu đã chứng minh tính ứng dụng cao của lí thuyết ADYN trong việc xây dựng nhận thức của người Việt và cộng đồng người nói tiếng Anh về thế giới thông qua mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy.
Có thể nhận thấy, lĩnh vực NNHTN nói chung và ADYN nói riêng trên thế giới và Việt Nam ngày càng được mở rộng, phát triển. Kể từ khi công trình “Metaphors We Live By” của Lakoff và Johnson (1980) ra đời, các nghiên cứu về ADYN từ góc độ lí thuyết và ứng dụng ngày càng gia tăng.