Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn/ngôn ngữ học với đề tài "Ẩn dụ ý niệm về truyền thông trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)", chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9229020), do nghiên cứu sinh Nguyễn Lưu Diệp Ánh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hồ Trịnh Quỳnh Thư tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (năm 2024).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) xác định ngôn ngữ phản ánh cách con người tri nhận và ý niệm hóa thế giới. Trong đó, lý thuyết ẩn dụ ý niệm (ADYN) chỉ ra rằng ẩn dụ không đơn thuần là thủ pháp tu từ bề mặt mà là phương thức tư duy nền tảng. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, truyền thông giữ vai trò chi phối và tác động sâu rộng đến nhiều lĩnh vực đời sống.
Tuy nhiên, tác giả luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu khảo sát ẩn dụ trong truyền thông (sử dụng văn bản truyền thông làm ngữ liệu để tìm các ẩn dụ về kinh tế, chính trị, thương hiệu...) hoặc nghiên cứu các ẩn dụ tiếp thị, quảng cáo đơn lẻ. Đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào khảo sát chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống xem TRUYỀN THÔNG là một miền đích (Target Domain) độc lập trong hệ thống ADYN của tiếng Việt khi đối chiếu, liên hệ với tiếng Anh. Khoảng trống nghiên cứu này là lý do trực tiếp hình thành nên đề tài luận án.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận làm cơ sở để lý giải các ADYN về truyền thông trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) trên cứ liệu báo mạng điện tử, qua đó làm sáng tỏ đặc trưng tri nhận của người Việt cũng như người nói tiếng Anh trong quan niệm về truyền thông.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (5 nhiệm vụ):
- Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết làm cơ sở lý luận của đề tài: ADYN và các khái niệm ngôn ngữ liên quan; truyền thông và các đặc điểm cơ bản của truyền thông.
- Nhận diện, thống kê các biểu thức ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh diễn đạt ẩn dụ ý niệm; nhận diện các miền ý niệm nguồn – đích.
- Thiết lập cơ chế ánh xạ nguồn – đích.
- Khái quát, phân tích tính tầng bậc của các ẩn dụ ý niệm, xây dựng các mô hình tri nhận cho mỗi loại ẩn dụ ý niệm cơ sở.
- Liên hệ để tìm ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt trong tiếng Việt và tiếng Anh, luận giải dựa trên cơ sở kinh nghiệm và đặc trưng tri nhận giữa hai ngôn ngữ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các ADYN về truyền thông trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh), tập trung vào các miền nguồn ánh xạ đến miền đích TRUYỀN THÔNG trên hai khối ngữ liệu; trong đó tiếng Việt là đối tượng khảo sát chính và tiếng Anh dùng làm đối tượng liên hệ.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Các ADYN về truyền thông được tiếp cận từ hai nhóm miền nguồn lớn: (1) Nhóm miền nguồn Thế giới tự nhiên (gồm Thời tiết, Lửa, Nước, Động vật, Thực vật) và (2) Nhóm miền nguồn Thế giới con người và xã hội (gồm Chiến tranh, Sức mạnh, Cạm bẫy, Tòa án, Thức ăn).
- Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát trên diễn ngôn báo chí điện tử/trực tuyến bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các hướng nghiên cứu đi trước theo hai trục chính:
Tình hình nghiên cứu lý thuyết ẩn dụ ý niệm trên thế giới và tại Việt Nam
- Nghiên cứu quốc tế: Khởi đầu từ công trình kinh điển Metaphors We Live By của Lakoff và Johnson (1980), khẳng định ẩn dụ là vấn đề của tư duy và hành động. Các công trình tiếp nối phát triển thuyết nghiệm thân và tính văn hóa của ẩn dụ như Johnson (1987) với The Body in the Mind, Lakoff (1987) với Women, Fire and Dangerous Things, Lakoff và Johnson (1999) với Philosophy in the Flesh. Các nghiên cứu của Kövecses (1986, 2000, 2002, 2005, 2010, 2020) đóng góp việc phân loại ẩn dụ cảm xúc, tính phổ quát và biến thiên văn hóa, cùng lý thuyết ADYN mở rộng gắn với ngữ cảnh. Fauconnier và Turner (2003) đóng góp lý thuyết không gian pha trộn (blending theory). Bên cạnh đó là các nghiên cứu ứng dụng ADYN trong nhiều lĩnh vực của Gibbs (2008), Croft và Cruse (2004), Geary (2012)...
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Khung lý thuyết NNHTN được định hình qua công trình của Lý Toàn Thắng (2009); hệ thống hóa lý thuyết ADYN qua các tài liệu của Trần Văn Cơ (2007, 2009, 2011). Hướng nghiên cứu ứng dụng ADYN vào tiếng Việt phát triển qua các tác giả như: Trần Thị Phương Lý, Lê Đức Luận, Phạm Thị Kiều Oanh (miền Thực vật); Đào Duy Tùng, Đinh Lam Trường (miền Con người); Nguyễn Thị Bích Hợp, Nguyễn Thị Hương (miền Ẩm thực); Phan Văn Hòa, Hồ Trịnh Quỳnh Thư, Trần Văn Nam, Đinh Thị Hương (miền Tình yêu); Nguyễn Thị Thanh Huyền, Hà Thanh Hải (miền Kinh tế); Nguyễn Tiến Dũng (miền Chính trị); Huỳnh Ngọc Mai Kha (miền Lửa và Nước); Lê Lâm Thi (miền Xây dựng); Trịnh Sâm (miền Sông nước); Nguyễn Thị Lan Phương, Lưu Trọng Tuấn (miền Quảng cáo); Phí Thị Thu Trang (miền Khẩu hiệu)...
Các nghiên cứu về truyền thông và ẩn dụ liên quan đến truyền thông
- Về lý thuyết truyền thông: Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng (2006), Michael Schudson (1995), Armand Mattelart và Michele Mattelart (2004), The Missouri Group (2007), Đinh Kiều Châu (2016), Hoàng Anh (2008), Nguyễn Thị Trường Giang (2020), Allan Bell (1991), Hober (1954), Gerald Miller (1966), Bless Sodel, Schachter (1951)...
- Về ẩn dụ trong truyền thông và về truyền thông:
- Các nghiên cứu ADYN trong truyền thông: Charteris-Black và Musolff (2003) phân tích ẩn dụ về đồng Euro trên báo chí Anh - Đức; Musolff (2006) nghiên cứu tranh luận báo chí về Liên minh châu Âu; Lưu Trọng Tuấn (2010) nghiên cứu ẩn dụ thương hiệu trong quảng cáo; Raluca Gabriela Burcea (2010) nghiên cứu ADYN trong tiếp thị; Tina Krennmayr (2011) khảo sát việc sử dụng ẩn dụ trong báo chí.
- Các nghiên cứu ADYN về truyền thông: Marianne Van Den Boomen (2014) trong Transcoding the Digital phân loại ẩn dụ truyền thông theo ba chức năng (xử lý, truyền tải, lưu trữ); Daniel Roux, Douglas A. Surip, Eddy Setia, T. Silvana Sinar, Gustianingsih (2021) phân tích ẩn dụ truyền thông qua 9 lĩnh vực.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu xem diễn ngôn truyền thông là môi trường chứa đựng các ẩn dụ của những lĩnh vực khác, hoặc chỉ tiếp cận một số khía cạnh riêng lẻ của truyền thông (thương hiệu, quảng cáo). Luận án của Nguyễn Lưu Diệp Ánh lựa chọn giải quyết khoảng trống: xây dựng một hệ thống phân tích toàn diện lấy TRUYỀN THÔNG làm miền đích độc lập, thiết lập các chuỗi ánh xạ từ 10 tiểu miền nguồn thuộc hai thế giới (Tự nhiên; Con người và Xã hội), xác lập mô hình tri nhận và đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng Anh trên ngữ liệu báo điện tử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm: Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết của Lakoff và Johnson (1980, 2003) cùng Kövecses (2002, 2010, 2020), định nghĩa ADYN là quá trình ánh xạ có hệ thống từ một miền ý niệm nguồn (thường cụ thể, trực quan) sang một miền ý niệm đích (thường trừu tượng, phức tạp).
- Các đặc điểm cốt lõi của ADYN được vận dụng: Tính đơn hướng (unidirectionality), tính che giấu và nhấn mạnh (hiding and highlighting), tính hệ thống (systematicity), tính tầng bậc (hierarchical organization), tính phổ quát (universality), tính biến thiên văn hóa (cultural variation), và tính tương hòa văn hóa.
- Các khái niệm công cụ: Khái niệm ý niệm và ý niệm hóa (Evans, 2007); miền (domain), miền nguồn (source domain), miền đích (target domain) theo Langacker (1987) và Kövecses (2002); phạm trù và phạm trù hóa (Rosch; Evans & Green, 2006); lược đồ hình ảnh (image schema); sơ đồ ánh xạ (mapping); thuyết nghiệm thân (embodiment) theo Lakoff & Johnson (1999) và Tim Rohrer (2007).
- Cơ sở lý thuyết về truyền thông: Luận án tổng hợp các thuộc tính cơ bản của truyền thông gồm: thông điệp truyền thông, người làm truyền thông, người sử dụng truyền thông, phương tiện truyền thông, hoạt động truyền thông, tính chất truyền thông và tác động của truyền thông. Đây là các thuộc tính ở miền đích tiếp nhận sự phóng chiếu từ các miền nguồn.
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp giữa phương pháp định tính (đóng vai trò chủ đạo) và phương pháp định lượng (thống kê mô tả tần suất, tỉ lệ phần trăm). Các phương pháp và thủ pháp cụ thể gồm:
- Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure): Sử dụng quy trình chuẩn 4 bước của nhóm Pragglejaz (2007):
- Bước 1: Đọc toàn bộ văn bản để hiểu nghĩa khái quát.
- Bước 2: Xác định các đơn vị từ vựng có trong văn bản.
- Bước 3: Xác lập nghĩa ngữ cảnh của đơn vị từ vựng; xác định nét nghĩa cơ bản (cụ thể, trực quan, dựa trên tri giác) của từ vựng trong các ngữ cảnh khác; đối chiếu xem nghĩa ngữ cảnh có đối lập và có thể hiểu được qua sự so sánh với nghĩa cơ bản hay không.
- Bước 4: Nếu có sự đối lập và chuyển di nét nghĩa, đơn vị từ vựng đó được xác định là biểu thức ẩn dụ.
- Phương pháp thu thập và xử lý ngữ liệu: Phân chia ẩn dụ theo cấp độ tầng bậc (ẩn dụ khái quát bậc cao và ẩn dụ cụ thể bậc thấp) dựa trên các miền nguồn; tra cứu nghĩa từ vựng căn cứ vào hai từ điển chuẩn: Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) và Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2003).
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả cấu trúc, cơ chế ánh xạ và sự chuyển di thuộc tính giữa hai miền nguồn – đích.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa tri nhận: Xác định nghĩa ẩn dụ của các biểu thức ngôn ngữ trong ngữ cảnh diễn ngôn.
- Phương pháp ánh xạ: Lập sơ đồ tương ứng giữa các yếu tố thuộc tính của miền nguồn và miền đích.
- Thủ pháp so sánh một chiều: Chọn tiếng Việt làm ngôn ngữ gốc khảo sát chính, tiếng Anh làm ngôn ngữ đối tượng liên hệ để làm sáng tỏ các nét tương đồng, dị biệt và đặc trưng tri nhận của người Việt.
- Thủ pháp thống kê và phân loại: Thống kê tần số xuất hiện, tính toán tỉ lệ phần trăm làm cơ sở định lượng; phân loại hệ thống 10 miền nguồn.
Nguồn ngữ liệu
Tổng dung lượng ngữ liệu khảo sát gồm 1.996 biểu thức ngôn ngữ thu thập từ các trang báo mạng điện tử:
- Ngữ liệu tiếng Việt: Gồm 1.287 biểu thức (được mã hóa từ V1 đến V1287), trích xuất từ các báo điện tử: Thanh Niên, Tuổi Trẻ, VnExpress, Dân Trí, Tiền Phong, Nhân Dân...
- Ngữ liệu tiếng Anh: Gồm 709 biểu thức (được mã hóa từ A1 đến A709), trích xuất từ các báo điện tử: New York Times, CNN, Reuters, The Guardian, NBC News, Forbes, HuffPost, The Washington Post, The Washington Times... (Các ngữ liệu tiếng Anh được tác giả tạm dịch sang tiếng Việt theo ngữ cảnh văn bản).
Ngữ liệu được tổ chức thành 10 nhóm miền nguồn: Thời tiết, Lửa, Nước, Động vật, Thực vật, Chiến tranh, Sức mạnh, Cạm bẫy, Tòa án, và Thức ăn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các tiền đề lý luận và lịch sử nghiên cứu của đề tài. Tác giả làm rõ các khái niệm bản chất của ngôn ngữ học tri nhận, lịch sử phát triển của lý thuyết ADYN từ quan điểm truyền thống của Aristotle đến quan điểm tri nhận hiện đại của Lakoff, Johnson, Kövecses. Chương này phân định ranh giới giữa nghiên cứu ẩn dụ trong truyền thông và ẩn dụ về truyền thông.
Đồng thời, chương 1 xác lập khung phân loại gồm 10 miền nguồn chia thành hai nhóm lớn: Thế giới tự nhiên và Thế giới con người - xã hội; định hình quy trình phân tích gồm nhận diện biểu thức ngôn ngữ qua quy trình MIP, xác định miền nguồn - đích, lập sơ đồ ánh xạ và giải thích cơ chế nghiệm thân cùng các yếu tố văn hóa - tri nhận chi phối.
Chương 2: Ẩn dụ ý niệm về truyền thông xét từ miền nguồn Thế giới tự nhiên trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)
Chương 2 tiến hành khảo sát và phân tích 5 tiểu miền nguồn thuộc Thế giới tự nhiên: THỜI TIẾT, LỬA, NƯỚC, ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT.
Trong khối ngữ liệu, tác giả ghi nhận tổng cộng 492 lượt xuất hiện ẩn dụ thuộc nhóm Thế giới tự nhiên trong tiếng Việt và 267 lượt trong tiếng Anh. Cơ cấu phân bố trong tiếng Việt được thống kê như sau:
| Mô hình ẩn dụ |
Số lượng (lượt) |
Tỷ lệ (%) |
| TRUYỀN THÔNG LÀ NƯỚC |
140 / 492 |
29% |
| TRUYỀN THÔNG LÀ THỜI TIẾT |
135 / 492 |
28% |
| TRUYỀN THÔNG LÀ LỬA |
95 / 492 |
19% |
| TRUYỀN THÔNG LÀ THỰC VẬT |
62 / 492 |
12% |
| TRUYỀN THÔNG LÀ ĐỘNG VẬT |
60 / 492 |
12% |
| Tổng cộng |
492 / 492 |
100% |
Nội dung cụ thể của các tiểu miền nguồn:
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ THỜI TIẾT: Chiếm 28% ngữ liệu tự nhiên. Do con người có trải nghiệm trực tiếp về sự biến đổi khí quyển và thiên tai, các hiện tượng thời tiết được ánh xạ sang tác động của thông tin.
- Sơ đồ ánh xạ: Bão/lũ/lốc/mưa gió ánh xạ thành Thông tin tiêu cực; Cơn mưa rào/làn gió mát ánh xạ thành Thông tin tích cực; Thiên tai dồn dập ánh xạ thành Sự xuất hiện tràn lan của tin tức; Thiệt hại do thiên tai ánh xạ thành Thiệt hại về uy tín, nhân phẩm; Tính bất ngờ khó đoán của thời tiết ánh xạ thành Phản ứng nhanh, bất ngờ của dư luận.
- Hai mô hình bậc dưới: Mô hình "THÔNG TIN TIÊU CỰC LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT NGUY HIỂM" chiếm đa số với 116/135 lượt (86%), tiêu biểu qua các biểu thức như "cơn bão truyền thông", "cơn bão mạng xã hội", "bão tin giả"; mô hình "THÔNG TIN TÍCH CỰC LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT DỄ CHỊU" chiếm 19/135 lượt (14%). Tác giả liên hệ với các biểu thức tương đương trong tiếng Anh.
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ LỬA: Khai thác đặc tính nhiệt độ, khả năng phát sáng, tốc độ bùng cháy và sức thiêu rụi của lửa. Phân thành các ẩn dụ bậc dưới: "THÔNG TIN CẤP THỜI LÀ NHIỆT" (tin sốt dẻo, tin nóng), "SỨC MẠNH LAN TỎA CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ KHẢ NĂNG TRUYỀN NĂNG LƯỢNG CỦA LỬA" (thổi bùng dư luận, châm ngòi tranh cãi), "THÔNG TIN LÀ SỰ CHÁY" (cháy vé, thiêu rụi sự nghiệp).
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ NƯỚC: Là miền nguồn xuất hiện nhiều nhất trong nhóm tự nhiên (29%). Khai thác đặc tính dòng chảy, dung lượng, mực nước và sức cuốn của nước. Phân thành: "HOẠT ĐỘNG CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC" (luồng thông tin, làn sóng dư luận, tràn ngập thông tin), "THÔNG TIN LÀ VÙNG NƯỚC" (biển thông tin, xoáy sâu vào vụ việc).
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ ĐỘNG VẬT: Chiếm 12%, phân thành: "TRUYỀN THÔNG/NGƯỜI LÀM TRUYỀN THÔNG TIÊU CỰC LÀ NHỮNG LOÀI ĐỘNG VẬT CÓ ĐẶC TÍNH TIÊU CỰC" (kền kền báo chí, chim mồi), "HOẠT ĐỘNG CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG VẬT" (săn tin, đánh hơi thông tin, xâu xé đời tư).
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ THỰC VẬT: Chiếm 12%, phản ánh các quá trình sinh trưởng và bộ phận cây: "TÊN GỌI TRUYỀN THÔNG LÀ TÊN GỌI CÁC LOÀI THỰC VẬT KHÁC NHAU" (báo lá cải, tin vỉa hè), "HOẠT ĐỘNG CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỰC VẬT" (nở rộ trào lưu, đâm chồi ý tưởng, bám rễ sâu vào nhận thức).
Chương 3: Ẩn dụ ý niệm về truyền thông xét từ miền nguồn Thế giới con người và xã hội trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)
Chương 3 triển khai khảo sát 5 tiểu miền nguồn xuất phát từ thiết chế xã hội và hoạt động của con người: CHIẾN TRANH, SỨC MẠNH, CẠM BẪY, TÒA ÁN, THỨC ĂN.
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ CHIẾN TRANH: Ánh xạ các yếu tố quân sự vào hoạt động báo chí. Các mô hình bậc dưới gồm:
- Truyền thông là chiến trường: Cuộc chiến thông tin, mặt trận tư tưởng, chiến tuyến truyền thông.
- Truyền thông tiêu cực là kẻ thù: Sự xâm lấn của tin độc hại, đối đầu truyền thông.
- Phương tiện truyền thông là vũ khí: Ngòi bút là vũ khí sắc bén, đòn tấn công truyền thông, bộc phá thông tin.
- Người làm truyền thông là chiến binh/chiến sĩ: Nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, cây bút xung kích.
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ SỨC MẠNH: Miêu tả quyền năng và mức độ tác động của truyền thông: "SỨC MẠNH TRUYỀN THÔNG LÀ SỰ THỐNG TRỊ" (quyền lực thứ tư, thao túng dư luận), "TRUYỀN THÔNG TÍCH CỰC LÀ SỰ GẮN KẾT" (cầu nối cộng đồng), "TRUYỀN THÔNG TIÊU CỰC LÀ SỰ HỦY DIỆT" (vùi dập nạn nhân, bức tử danh dự).
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ CẠM BẪY: Phản ánh các khía cạnh tiêu cực và phi chuẩn mực: "CHIÊU TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ SỰ THAO TÚNG", "CHIÊU TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ SỰ LỪA ĐẢO" (sập bẫy truyền thông, giăng bẫy dư luận, mồi nhử câu view, đánh tráo khái niệm).
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ TÒA ÁN: Ánh xạ các hoạt động tư pháp vào chức năng giám sát của truyền thông: "HÀNH ĐỘNG CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ HÀNH VI PHÁN XÉT" (tòa án dư luận, luận tội, kết án trên mặt báo), "HÀNH ĐỘNG CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ HÀNH VI VI PHẠM ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT" (vượt quyền phán xét, kết tội khi chưa có phán quyết).
- ADYN TRUYỀN THÔNG LÀ THỨC ĂN: Ánh xạ các hành vi ăn uống, tiêu hóa vào việc tiếp nhận thông tin: "HOẠT ĐỘNG CỦA TRUYỀN THÔNG LÀ HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN VÀ THƯỞNG THỨC THỨC ĂN" (xào nấu tin tức, món ăn tinh thần, bữa tiệc thông tin, dọn sẵn tin tức), "TÌNH HÌNH TRUYỀN THÔNG LÀ SỰ CẢM NHẬN VÀ PHẢN ỨNG CỦA CƠ THỂ ĐỐI VỚI THỨC ĂN" (ngộ độc thông tin, bội thực tin tức, nuốt trọn thông điệp).
Ở cả hai chương 2 và 3, tác giả đều lập sơ đồ ánh xạ chi tiết, bảng mô hình tri nhận và phân tích sự tương đồng (do chia sẻ chung trải nghiệm thể xác nghiệm thân) và dị biệt (do ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa, địa lý và tâm lý dân tộc) giữa tiếng Việt và tiếng Anh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án củng cố luận điểm trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận: ẩn dụ không đơn thuần là một biện pháp tu từ học hay phương tiện trang sức của ngôn từ mà là phương thức tư duy, phản ánh cơ chế ý niệm hóa của con người về thế giới.
- Làm rõ tính phổ quát song hành cùng tính đặc thù văn hóa trong hệ thống ADYN: các trải nghiệm thân thể phổ quát tạo nên các mô hình ánh xạ tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Anh (như lửa biểu thị tốc độ/nhiệt lượng, chiến tranh biểu thị xung đột), trong khi các đặc trưng văn hóa, tập quán và môi trường địa lý tạo nên sự phân hóa và lựa chọn biểu thức ngôn ngữ đặc thù ở mỗi ngôn ngữ.
- Cung cấp một khung phân tích có hệ thống và quy trình nhận diện, miêu tả miền nguồn - miền đích cho các nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng hệ thống sơ đồ ánh xạ và bảng thống kê định lượng cụ thể cho 10 miền nguồn (Thời tiết, Lửa, Nước, Động vật, Thực vật, Chiến tranh, Sức mạnh, Cạm bẫy, Tòa án, Thức ăn) ánh xạ sang miền đích TRUYỀN THÔNG trên nguồn ngữ liệu báo chí điện tử.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập các chuyên đề Ngôn ngữ học tri nhận, Ngữ nghĩa học, Ngôn ngữ học đối chiếu tại các trường đại học và cao đẳng.
- Cung cấp cơ sở ngôn ngữ học hỗ trợ hoạt động biên - phiên dịch Anh - Việt và Việt - Anh trong việc chuyển dịch chính xác các biểu thức ẩn dụ báo chí truyền thông.
- Giúp người làm báo, biên tập viên, phóng viên và sinh viên ngành truyền thông nâng cao nhận thức về cơ chế tác động của ẩn dụ ngôn từ, từ đó sử dụng ngôn ngữ truyền thông chính xác, hiệu quả và có trách nhiệm xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Về phạm vi ngữ liệu: Do giới hạn thời gian nghiên cứu, ngữ liệu mới chỉ tập trung khảo sát trên diễn ngôn báo chí trực tuyến/điện tử của tiếng Việt và tiếng Anh, chưa mở rộng sang các thể loại diễn ngôn khác như diễn ngôn văn học, diễn ngôn chính trị hay diễn ngôn khoa học.
- Về hướng tiếp cận đối chiếu: Đề tài áp dụng thủ pháp so sánh một chiều (lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ gốc khảo sát chính và tiếng Anh làm đối tượng liên hệ), chưa thực hiện đối chiếu song song hai chiều toàn diện với dung lượng ngữ liệu cân bằng tuyệt đối giữa hai ngôn ngữ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát ADYN về truyền thông trên các nguồn ngữ liệu đa dạng hơn như mạng xã hội, diễn ngôn truyền hình, phát thanh hoặc các văn bản pháp lý về truyền thông.
- Áp dụng lý thuyết không gian pha trộn (Conceptual Blending Theory) để lý giải sâu hơn các cấu trúc ý niệm phức hợp không thể giải thích trọn vẹn bằng mô hình ánh xạ hai miền nguồn - đích.
- Mở rộng so sánh đối chiếu đa ngữ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ phương Đông và phương Tây khác.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học:
- Tham khảo chương 1 về hệ thống hóa cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, quy trình nhận diện ẩn dụ MIP 4 bước của nhóm Pragglejaz (2007) và phương pháp xác lập sơ đồ ánh xạ.
- Tham khảo chương 2 và chương 3 về phương pháp phân tích ngữ nghĩa tri nhận, kỹ thuật lập bảng mô hình ý niệm và kỹ thuật đối chiếu ngôn ngữ một chiều.
- Giảng viên, người làm công tác dịch thuật và người học ngoại ngữ (tiếng Anh):
- Khai thác các cặp biểu thức ẩn dụ tương ứng giữa tiếng Việt và tiếng Anh trong các bảng thống kê và phân tích ngữ liệu để xử lý thỏa đáng sự chuyển dịch ẩn dụ liên văn hóa.
- Nhà báo, biên tập viên, sinh viên và người làm chính sách truyền thông:
- Nắm bắt các mô hình tri nhận về truyền thông (như ẩn dụ Cạm bẫy, Tòa án, Chiến tranh...) để nhận diện xu hướng định hướng dư luận, kiểm soát thông tin tiêu cực và sử dụng từ ngữ báo chí chuẩn mực, hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng nghiên cứu và ngôn ngữ khảo sát chính là gì?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm về truyền thông, cụ thể là các miền nguồn ánh xạ đến miền đích TRUYỀN THÔNG. Ngôn ngữ khảo sát chính là tiếng Việt (1.287 biểu thức, mã hóa V1–V1287), tiếng Anh được sử dụng làm ngôn ngữ đối tượng để liên hệ, so sánh (709 biểu thức, mã hóa A1–A709).
2. Quy trình nhận diện ẩn dụ (MIP) được luận án thực hiện theo các bước nào?
Luận án áp dụng quy trình MIP của nhóm Pragglejaz (2007) gồm 4 bước: (1) Đọc toàn bộ văn bản để nắm ý nghĩa khái quát; (2) Xác định các đơn vị từ vựng trong văn bản; (3) Xác lập nghĩa ngữ cảnh của đơn vị từ vựng và đối chiếu với nét nghĩa cơ bản (cụ thể, trực quan hơn); (4) Nếu nghĩa ngữ cảnh đối lập và chuyển di từ nghĩa cơ bản thì xác định đơn vị từ vựng đó là biểu thức ẩn dụ.
3. Hệ thống miền nguồn được luận án phân chia như thế nào?
Luận án chia hệ thống miền nguồn thành 2 nhóm lớn gồm 10 tiểu miền nguồn:
- Nhóm Thế giới tự nhiên: THỜI TIẾT, LỬA, NƯỚC, ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT.
- Nhóm Thế giới con người và xã hội: CHIẾN TRANH, SỨC MẠNH, CẠM BẪY, TÒA ÁN, THỨC ĂN.
4. Trong nhóm miền nguồn Thế giới tự nhiên, mô hình ẩn dụ nào chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất trong tiếng Việt?
Theo số liệu thống kê tại Bảng 2.1 của luận án, mô hình chiếm tỷ lệ cao nhất là TRUYỀN THÔNG LÀ NƯỚC với 140/492 lượt (chiếm 29%), tiếp theo là TRUYỀN THÔNG LÀ THỜI TIẾT với 135/492 lượt (chiếm 28%), TRUYỀN THÔNG LÀ LỬA với 95/492 lượt (chiếm 19%), TRUYỀN THÔNG LÀ THỰC VẬT với 62/492 lượt (chiếm 12%) và TRUYỀN THÔNG LÀ ĐỘNG VẬT với 60/492 lượt (chiếm 12%).
5. Luận án sử dụng những cuốn từ điển nào làm căn cứ xác định nghĩa của từ vựng?
Để làm căn cứ xác định nghĩa cơ bản của từ vựng phục vụ quy trình nhận diện ý niệm, luận án sử dụng hai nguồn từ điển: (1) Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) và (2) Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2003).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Lưu Diệp Ánh là công trình chuyên khảo vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu có hệ thống các ẩn dụ ý niệm có miền đích là TRUYỀN THÔNG trong tiếng Việt trên cơ sở liên hệ với tiếng Anh. Thông qua khối ngữ liệu gồm 1.996 biểu thức trích xuất từ báo chí điện tử, tác giả đã thiết lập các mô hình tri nhận và sơ đồ ánh xạ cho 10 tiểu miền nguồn thuộc hai thế giới Tự nhiên cùng Con người và Xã hội. Công trình xác nhận ẩn dụ là phương thức tư duy mang tính phổ quát dựa trên trải nghiệm nghiệm thân, đồng thời mang tính đặc thù do các yếu tố văn hóa và trải nghiệm xã hội của mỗi cộng đồng quy định. Luận án đóng góp nguồn ngữ liệu và khung phân tích có giá trị thực tiễn cho nghiên cứu ngôn ngữ học, công tác dịch thuật và hoạt động thực hành truyền thông báo chí.