Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Hạnh và TS. Nguyễn Thị Phương Thảo, chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn (mã số: 9 14 01 11) tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (năm 2021).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi, đặc biệt là lứa tuổi 5-6 tuổi, là thời kỳ có tính chất nền tảng đối với sự phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ em. Theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, Chương trình Giáo dục phổ thông bảo đảm tính kết nối chặt chẽ và liên thông với Chương trình Giáo dục mầm non. Tuy nhiên, trên thực tế dạy học tồn tại sự chênh lệch lớn giữa hai cấp học: cấp mầm non chưa thiết kế chương trình theo yêu cầu cần đạt của năng lực, ngữ liệu đọc chủ yếu giới hạn ở các văn bản văn học mà thiếu vắng văn bản thông tin; quan hệ giữa giáo viên và trẻ ở mầm non mang tính chất giáo dục gia đình ("mẹ và con"), trong khi ở tiểu học là quan hệ dạy học nhằm tiếp nhận tri thức khoa học. Mặc dù giáo dục mầm non không có nhiệm vụ dạy trẻ tập đọc, tập viết như lớp 1, song việc chuẩn bị năng lực tiền đọc cho trẻ 5-6 tuổi là một nhiệm vụ chuyên biệt mang tính quy luật, tạo tiền đề vững chắc cho việc học tập chính thức ở trường phổ thông.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non, đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực đọc của trẻ 5-6 tuổi, giúp trẻ chuẩn bị tâm thế sẵn sàng vào học lớp 1.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Nghiên cứu tổng quan và xác định cơ sở lý luận của việc hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Đề xuất một số biện pháp hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của biện pháp (về nội dung nhận biết âm vị học) và một số thiết kế đã xây dựng hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi.
Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Một trong những hạn chế trong dạy học phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non là chưa chuẩn bị đầy đủ cho việc hình thành và phát triển năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi. Nếu có những biện pháp thay đổi nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá theo tiếp cận năng lực thì hạn chế này sẽ được khắc phục, trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non sẽ được hình thành năng lực đọc.
Khách thể nghiên cứu là quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi; đối tượng nghiên cứu là một số biện pháp hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Phạm vi khảo sát thực trạng giới hạn ở 20 trường mầm non với 368 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 5 tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Bộ, gồm Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang. Phạm vi thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Mầm non Quang Trung, tỉnh Thái Nguyên, tập trung vào nội dung nhận biết âm vị học của trẻ 5-6 tuổi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản luận án được hệ thống hóa qua ba hướng tiếp cận học thuật cơ bản:
Hướng thứ nhất tập trung vào chức năng, vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em tuổi mầm non:
- Trên thế giới, các tác giả L. Vygotsky và J. Piaget làm rõ mối quan hệ giữa nhận thức và ngôn ngữ; Vygotsky nhấn mạnh ngôn ngữ là công cụ tư duy, là nền tảng cho các chức năng tâm lý cấp cao và đưa ra khái niệm "vùng phát triển gần nhất"; Piaget nhấn mạnh vai trò trải nghiệm và sự tương tác xã hội. Jaggar (1985) xem xét việc trẻ vừa xây dựng hệ thống ngôn ngữ vừa dùng ngôn ngữ để học hỏi. Maria Montessori phân tích các giai đoạn phát triển ngôn ngữ từ âm thanh riêng lẻ đến ngữ pháp. Jerome Bruner (1983-1996), Tomasello (2006), Bloom & Tinker (2001) khẳng định bối cảnh văn hóa - xã hội và vai trò của người lớn trong việc tạo lập môi trường nhúng chìm ngôn ngữ.
- Tại Việt Nam, các tác giả Nguyễn Huy Cẩn ("Tiếng nói trẻ thơ", 1998; "Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em", 2001), Ngô Công Hoàn, Lưu Thị Lan, Tạ Thị Ngọc Thanh, Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Xuân Khoa ("Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo", 1999) và Phạm Văn Lam đều khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, nhận thức và là công cụ phát triển tư duy của trẻ giai đoạn tiền học đường.
Hướng thứ hai nghiên cứu về xây dựng nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi đến trường:
- Trên thế giới, các nhà nghiên cứu như E. Hainơdich, Ph. Bruner (1978) đề xuất mô hình "Hệ thống hỗ trợ lĩnh hội ngôn ngữ" (Language Acquisition Support System - LASS). Machado phân tích các khía cạnh âm vị, hình thái, cú pháp và hướng dẫn trẻ làm quen với sách; Helen Gloe, Courtney xây dựng bài tập phát âm, vốn từ và ngữ pháp.
- Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Huy Cẩn, Đoàn Thiện Thuật, Lưu Thị Lan, Đinh Hồng Thái ("Phát triển ngôn ngữ trẻ em tuổi mầm non"), Đinh Thanh Tuyến (2019, "Lí luận và phương pháp tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non") đã xác định nhiệm vụ, hình thức tiết học và ngoài tiết học. Các nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp dạy học cụ thể gồm có: Vũ Thị Hương Giang (phát triển khả năng ngôn ngữ qua truyện tranh), Nguyễn Thị Huệ (2018, kể chuyện với đồ chơi), Nguyễn Thị Cẩm Bích (biện pháp hướng dẫn trẻ 5-6 tuổi kể chuyện sáng tạo qua chia sẻ thông tin, câu hỏi gợi ý, tranh ảnh, cử chỉ, phỏng đoán, sơ đồ gợi ý).
Hướng thứ ba nghiên cứu trực tiếp về hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non với hai luồng quan điểm đối lập:
- Luồng ý kiến phản đối dạy đọc sớm: Throne (1988), Elkind (1988), Gallagher và Coche (1987) trên thế giới, cùng Nguyễn Khắc Viện, Trần Thị Trọng, Trần Mạnh Hưởng tại Việt Nam cho rằng việc dạy đọc viết sớm lấy đi thời gian vui chơi, hạn chế khả năng tưởng tượng và sáng tạo của trẻ.
- Luồng ý kiến ủng hộ hình thành khả năng tiền đọc: Jewell và Zints (1986) liệt kê các hành vi đọc sớm của trẻ; Anderson, Hiebert, Scott và Williams (1985), Lomax và McGee (1987), Mason (1980) nhấn mạnh vai trò của đọc truyện và gọi tên chữ cái; Marie Clay (1996) đưa ra khái niệm khả năng tiền đọc - viết (emergent literacy); Andrée Giorlami Boulimler chỉ ra các điều kiện chuẩn bị về tri giác, định hướng không gian; Glenn Doman ("Dạy trẻ biết đọc sớm") và Phùng Đức Toàn ("Phương án 0 tuổi - Phát triển ngôn ngữ từ trong nôi") ủng hộ việc dạy chữ cho trẻ từ sớm. Ở Nhật Bản, các dự án nghiên cứu và tác giả Nobuko, Uchida, Takashi Hamano nhấn mạnh vai trò của truyện tranh. Các trường phái tiếp cận gồm: tiếp cận tự nhiên (Warner, 1961; Johnson, 1987; Fields, 1987; Allen, 1969); tiếp cận ngôn ngữ trọn vẹn (Cullinan, 1982; Ferguson, 1988; Goodman, 1986; Baumann, 1992; Huck, 1992); và tiếp cận giải mã - ngữ âm (Hillerich, 1977; Rowley, 1992; Durkin, 1987; Bettelheim & Zelan, 1981; Cazden, 1981).
- Tại Việt Nam, quan điểm ủng hộ được thể hiện qua công trình của Trần Trọng Thủy (1995), Nguyễn Ánh Tuyết (1998), Lê Thị Ánh Tuyết (1997), Trần Nga (1997), Đinh Hồng Thái, Phan Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thanh Trúc, Đinh Thanh Tuyến, Nguyễn Như Mai (2010), Trần Thị Ngọc Trâm (2012), Lường Thị Định (2014). Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2012) xác định 5 thành tố của kỹ năng đọc cơ bản gồm: làm việc với sách, nhận biết âm vị học, đọc tiếng (âm tiết), đọc trơn, hiểu nghĩa tường minh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Trong lý luận và thực tiễn giáo dục mầm non tại Việt Nam, khái niệm năng lực đọc của trẻ mầm non chưa được tường minh hóa và thường bị đồng nhất với kỹ năng hay khả năng; chưa có một khung chuẩn năng lực đọc hoàn chỉnh kèm các tiêu chí chất lượng và chỉ số hành vi đo lường được; thiếu hệ thống biện pháp dạy học tích hợp văn bản thông tin cũng như các công cụ đánh giá năng lực đọc định hướng liên thông với cấp tiểu học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý thuyết và khái niệm, luận án tiếp cận các khái niệm nền tảng:
- Khái niệm năng lực: Kế thừa định nghĩa của Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (2018), nghiên cứu của Đặng Thành Hưng, Hoàng Hòa Bình, Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, và quan điểm đánh giá năng lực của Nguyễn Công Khanh, xem năng lực là tổ hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ và kinh nghiệm cá nhân được thể hiện qua hành động để giải quyết các nhiệm vụ trong bối cảnh thực tiễn.
- Khái niệm năng lực đọc: Dựa trên khung lý thuyết của PISA (xem năng lực đọc bao gồm các năng lực nhận thức từ giải mã thông tin đến đọc hiểu văn bản), mô hình đánh giá của dự án SWANs (Department of Education and Early Childhood Development Victoria, 2011) với đường phát triển năng lực gồm 6 mức độ, và khung lý luận của Nguyễn Thị Hạnh về hai mức độ thành thạo (chuyển mã chữ viết thành âm thanh và đọc hiểu tích cực). Luận án xác định năng lực đọc của trẻ 5-6 tuổi bao gồm 5 thành tố: (1) Kỹ năng làm việc với sách; (2) Nhận biết âm vị học; (3) Làm quen với đọc thành tiếng (theo mẫu); (4) Làm quen với đọc trơn (theo mẫu); (5) Hiểu nghĩa tường minh.
- Ngôn ngữ, lời nói và sự thụ đắc ngôn ngữ: Vận dụng luận điểm của L. Vygotsky về ngôn ngữ là phương tiện hình thành và biểu đạt ý thức, phản xạ có điều kiện đối với hệ thống tín hiệu thứ hai; khái niệm thụ đắc ngôn ngữ của Trần Hữu Luyến; và mô hình 4 giai đoạn tiền đọc của Marie Clay (1966) cùng Teale & Sulzby (1986) gồm: Giai đoạn 1 (Quan sát), Giai đoạn 2 (Khám phá), Giai đoạn 3 (Quá trình thử nghiệm), Giai đoạn 4 (Giao tiếp).
- Đặc điểm phát triển của trẻ 5-6 tuổi: Sự phân hóa chức năng của hai bán cầu não, phản xạ có điều kiện bền vững với hệ thống tín hiệu thứ hai; trí nhớ khái quát và ghi nhớ có chủ định; tư duy trực quan hình tượng kết hợp tư duy trực quan sơ đồ; tưởng tượng có chủ định mang tính sáng tạo; và sự phát triển của tình cảm xã hội, đạo đức, thẩm mỹ.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai thông qua việc kết hợp các nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp lý thuyết; phân loại và hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng cơ sở khoa học cho năng lực đọc tiền học đường.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu: Tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về việc hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi.
- Phương pháp quan sát: Dự giờ các hoạt động phát triển ngôn ngữ, sử dụng các bài tập đo để ghi nhận hứng thú và mức độ đạt được các kỹ năng đọc của trẻ.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên trực tiếp giảng dạy.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức các bài học thực nghiệm tại trường mầm non nhằm kiểm chứng tính khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, nhà khoa học về tính cần thiết và cấu trúc năng lực đọc.
- Nhóm phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công cụ thống kê để mã hóa thang đo, tính toán điểm trung bình, kiểm định độ tin cậy và sự khác biệt trước và sau thực nghiệm giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT, Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT, Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT); dữ liệu điều tra thực trạng tại 20 trường mầm non trên địa bàn 5 tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang; dữ liệu khảo sát trên 368 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; và dữ liệu thực nghiệm sư phạm thu thập tại Trường Mầm non Quang Trung, thành phố Thái Nguyên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Nội dung chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi. Về mặt lý luận, tác giả xác định cấu trúc năng lực đọc của trẻ mầm non thuộc giai đoạn tiền đọc (emergent reader), không đồng nhất với việc dạy học vần chính thức ở lớp 1. Năng lực này gồm hai khối thành phần chính: kỹ thuật đọc cơ bản (làm việc với sách, nhận biết âm vị học, đọc thành tiếng theo mẫu, đọc trơn theo mẫu) và đọc hiểu (nhận biết từ, hiểu nghĩa từ và nghĩa tường minh của câu đơn giản). Luận án phân tích cơ sở sinh lý thần kinh (vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hai, sự hoàn thiện vận động tinh của bàn tay) và đặc điểm tâm lý lứa tuổi (trí nhớ có chủ định, tư duy trực quan sơ đồ, trí tưởng tượng nội tâm hóa) để chứng minh tính vừa sức của việc cho trẻ làm quen với việc đọc.
Về mặt thực tiễn, chương 1 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 20 trường mầm non thuộc 5 tỉnh Đông Bắc Bộ với 368 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp qua hệ thống bảng và biểu đồ đo lường: nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên, mức độ thực hiện mục tiêu, việc sử dụng nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, và việc kiểm tra đánh giá năng lực đọc. Đánh giá chung cho thấy: đa số giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ học đọc nhưng nội dung triển khai còn phiến diện, nặng về nhận diện chữ cái đơn lẻ, thiếu các bài tập phát triển nhận thức âm vị học và kỹ năng làm việc với sách; ngữ liệu học tập thiếu vắng văn bản thông tin; phương pháp đánh giá chủ yếu mang tính định tính chung chung, chưa có chuẩn chỉ số hành vi cụ thể.
Chương 2: Biện pháp hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Chương 2 đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm dựa trên 4 nguyên tắc chỉ đạo:
- Đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực đọc cho trẻ ở giai đoạn tiền đọc.
- Phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi.
- Làm quen với việc học đọc ở tiểu học, đảm bảo tính vừa sức với trẻ mầm non.
- Tạo hứng thú, ham đọc sách cho trẻ bằng nhiều loại hoạt động đa dạng.
Trên cơ sở các nguyên tắc đó, luận án thiết kế 3 nhóm biện pháp chính:
Biện pháp 1: Xây dựng chuẩn năng lực đọc, nội dung dạy học để hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Tác giả xác lập bảng chuẩn gồm 5 thành tố, quy định rõ chỉ số hành vi và tiêu chí chất lượng:
- Chuẩn kỹ năng làm quen với sách: Biết cầm sách đúng chiều, mở sách, lật giở từng trang từ trước ra sau, nhận biết bìa sách, tên sách, phân biệt phần mở đầu và kết thúc, nhận biết hướng đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
- Chuẩn nhận biết âm vị học: Phân biệt các loại âm thanh, nhận biết âm đầu, nhận biết tiếng, nhận biết vần và thanh điệu, nhận diện mối quan hệ giữa âm và chữ cái.
- Chuẩn làm quen đọc thành tiếng (theo mẫu): Nhìn chữ gắn với hình ảnh minh họa và phát âm theo hướng dẫn của giáo viên, kết hợp chỉ tay vào văn bản.
- Chuẩn kỹ năng làm quen với đọc trơn (theo mẫu): Đọc trơn cụm từ, câu ngắn theo lời đọc mẫu của cô giáo trên các văn bản phóng to (khổ A0).
- Chuẩn kỹ năng làm quen hiểu nghĩa tường minh: Nhận diện từ chỉ sự vật, hành động quen thuộc; trả lời câu hỏi trực tiếp về nội dung câu, đoạn văn ngắn.
Biện pháp 2: Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
- Kết hợp đồng bộ các nhóm phương pháp: dùng lời (đọc thơ, kể chuyện, đàm thoại, giảng giải, nói mẫu, chỉ dẫn); trực quan (quan sát tranh ảnh, vật thật, ứng dụng công nghệ thông tin); thực hành trải nghiệm (làm sách thủ công, bài tập ngữ âm); trò chơi (trò chơi chữ cái, đóng kịch, đóng vai); phương pháp dùng tình cảm khích lệ, nêu gương và đánh giá.
- Đa dạng hóa hình thức tổ chức trong hoạt động học có chủ đích (làm quen chữ cái qua tranh gắn từ, thẻ chữ, làm quen tác phẩm văn học, khám phá khoa học) và các hoạt động khác (hoạt động góc đọc sách, hoạt động ngoài trời, lễ hội).
- Đổi mới ngữ liệu và công cụ dạy học: Đưa văn bản thông tin vào dạy học (ví dụ cuốn sách "Bí mật của chiều cao", NXB Lao Động); sử dụng thẻ đánh dấu đọc sách hình động vật; mã hóa thời gian nghỉ tương đối của các loại dấu câu cơ bản (dấu chấm, dấu phẩy) bằng ký hiệu trực quan giúp trẻ nhận biết nhịp điệu khi đọc theo mẫu.
Biện pháp 3: Đánh giá năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non. Luận án xây dựng quy trình và bộ công cụ đánh giá năng lực gồm các bảng kiểm quan sát hành vi: bảng quan sát kỹ năng làm quen với sách, bảng quan sát kỹ năng đọc trơn, bảng quan sát kỹ năng hiểu nghĩa tường minh, tiêu chí đánh giá năng lực nhận biết âm vị học, và bảng tổng hợp đánh giá theo dõi sự tiến bộ cá nhân của trẻ.
Bảng tổng hợp các thành tố năng lực đọc và chỉ số hành vi do luận án xây dựng:
| Thành tố năng lực đọc |
Chỉ số hành vi cơ bản |
Tiêu chí chất lượng |
| 1. Kỹ năng làm việc với sách |
Cầm sách, lật giở trang sách, định hướng trang bìa, tên sách, phân biệt chữ và hình ảnh |
Thực hiện đúng thao tác vật lý, mở sách từ phải qua trái, chỉ mắt/tay từ trái sang phải, từ trên xuống dưới |
| 2. Nhận biết âm vị học |
Phân biệt âm thanh ngôn ngữ, nhận diện âm đầu, vần, tiếng, thanh điệu giống và khác nhau |
Nhận biết đúng âm vị qua phát âm, tìm được tiếng có cùng âm vị theo yêu cầu |
| 3. Làm quen đọc thành tiếng (theo mẫu) |
Phát âm rõ ràng các âm, tiếng gắn với chữ cái và tranh minh họa tương ứng theo mẫu của cô |
Phát âm đúng, rõ ràng, không ngọng, kết hợp mắt nhìn chữ và miệng đọc theo hướng dẫn |
| 4. Làm quen đọc trơn (theo mẫu) |
Đọc nhắc lại câu, đoạn ngắn theo cô giáo trên văn bản phóng to khổ lớn (A0) |
Đọc liền mạch, không ngắt quãng giữa các tiếng trong từ ghép, biết ngừng nghỉ ở dấu câu theo mã hóa |
| 5. Hiểu nghĩa tường minh |
Nhận diện nghĩa của từ quen thuộc, trả lời các câu hỏi về chi tiết trực tiếp trong văn bản |
Trả lời chính xác câu hỏi "Ai?", "Cái gì?", "Làm gì?", hiểu được mối quan hệ trực tiếp trong câu |
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Quang Trung, tỉnh Thái Nguyên nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất, tập trung vào nội dung nhận biết âm vị học của trẻ 5-6 tuổi.
Quá trình thực nghiệm được tiến hành theo quy trình khoa học:
- Phân chia mẫu nghiên cứu thành hai nhóm: nhóm thực nghiệm (dạy học theo quy trình, nội dung và biện pháp mới của luận án) và nhóm đối chứng (dạy học theo phương pháp thông thường hiện hành của chương trình mầm non).
- Tiến hành đo đạc đầu vào (trước thực nghiệm) ở cả hai nhóm để bảo đảm tính tương đương về trình độ ban đầu.
- Triển khai các hoạt động dạy học thực nghiệm theo kế hoạch đã thiết kế.
- Tiến hành đo đạc đầu ra (sau thực nghiệm) ở cả hai nhóm dựa trên bảng tiêu chí chất lượng và bài tập đo chuẩn hóa.
- Phân tích và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học: kiểm định sự khác biệt điểm số trước và sau thực nghiệm của nhóm đối chứng, kiểm định sự khác biệt trước và sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm, và kiểm định so sánh đối chiếu kết quả sau thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt và vượt trội về năng lực nhận biết âm vị học so với nhóm đối chứng, khẳng định tính khả thi của các biện pháp được đề xuất.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực, năng lực đọc và quá trình phát triển năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non theo tiếp cận năng lực người học.
- Xác định cấu trúc năng lực đọc tiền học đường của trẻ 5-6 tuổi gồm 5 thành tố: kỹ năng làm việc với sách; nhận biết âm vị học; làm quen với đọc thành tiếng (theo mẫu); làm quen với đọc trơn (theo mẫu); hiểu nghĩa tường minh.
- Xây dựng mô tả đường phát triển năng lực đọc của trẻ 5-6 tuổi trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm quốc tế (dự án SWANs), cụ thể hóa các mức độ thành các chỉ số hành vi và tiêu chí chất lượng phù hợp với ngữ cảnh tiếng Việt và tâm lý lứa tuổi mẫu giáo.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát, phân tích một cách có hệ thống thực trạng nhận thức của giáo viên, thực trạng tổ chức dạy học và thực trạng năng lực đọc của 368 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 20 trường mầm non thuộc 5 tỉnh Đông Bắc Bộ.
- Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ bao gồm: xây dựng bảng chuẩn năng lực và nội dung dạy học tiền đọc; đa dạng hóa phương pháp, hình thức dạy học, bổ sung thể loại văn bản thông tin, sử dụng sách khổ lớn, thẻ đánh dấu đọc sách và trực quan hóa dấu câu; thiết lập bộ công cụ đánh giá năng lực đọc thông qua bảng kiểm quan sát hành vi.
- Kiểm chứng thực nghiệm khẳng định biện pháp dạy học nội dung nhận biết âm vị học mang lại hiệu quả thực tế cho trẻ trước khi vào lớp 1.
Các khuyến nghị và giải pháp đề xuất:
- Đối với các nhà quản lý, xây dựng Chương trình Giáo dục mầm non: Cần rà soát, điều chỉnh mục tiêu và nội dung chuẩn bị cho trẻ học đọc theo tiếp cận năng lực; bảo đảm tính liên thông chặt chẽ với Chương trình Giáo dục phổ thông môn Tiếng Việt lớp 1; bổ sung ngữ liệu văn bản thông tin vào chương trình mầm non; ban hành khung tiêu chí đánh giá năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi.
- Đối với giáo viên mầm non: Cần nâng cao nhận thức về bản chất của năng lực đọc tiền học đường (không dạy học vần trước nhưng rèn luyện các thao tác kỹ thuật đọc cơ bản và đọc hiểu); vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học qua trải nghiệm, trò chơi; sử dụng hiệu quả góc đọc sách, sách khổ lớn và tài liệu trực quan; thực hiện việc theo dõi, đánh giá trẻ thường xuyên thông qua quan sát hành vi cụ thể thay vì đánh giá cảm tính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án cho thấy một số giới hạn về phạm vi triển khai:
- Về phạm vi khảo sát thực trạng: Nghiên cứu giới hạn dữ liệu tại 20 trường mầm non thuộc 5 tỉnh khu vực Đông Bắc Bộ (Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Bắc Giang), chưa bao quát được các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trên cả nước.
- Về phạm vi thực nghiệm sư phạm: Quá trình thực nghiệm kiểm chứng mới được tổ chức giới hạn tại 01 trường mầm non (Trường Mầm non Quang Trung, tỉnh Thái Nguyên) và mới tập trung thực nghiệm đối với 01 nội dung thành tố là năng lực nhận biết âm vị học của trẻ 5-6 tuổi.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản là: Mở rộng diện nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm sư phạm đồng bộ trên tất cả các thành tố còn lại của năng lực đọc (kỹ năng làm việc với sách, đọc trơn theo mẫu, đọc hiểu nghĩa tường minh); đồng thời triển khai thực nghiệm trên các địa bàn đa dạng hơn để kiểm định toàn diện hiệu quả của hệ thống biện pháp sư phạm trong bối cảnh thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các trường sư phạm chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Lí luận và phương pháp dạy học Tiếng Việt: Phần tổng quan lý luận (chương 1) và cấu trúc 5 thành tố năng lực đọc tiền học đường cung cấp cơ sở phương pháp luận rõ ràng cho các đề tài nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em.
- Các nhà quản lý giáo dục, chuyên viên phụ trách mầm non và tiểu học tại các Sở/Phòng Giáo dục và Đào tạo, các nhà biên soạn chương trình giáo dục: Khung chuẩn năng lực đọc, đường phát triển năng lực và các khuyến nghị chính sách là căn cứ để xây dựng quy định chuẩn đầu ra liên thông giữa mầm non và lớp 1.
- Giáo viên trực tiếp dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi: Phần các biện pháp sư phạm (chương 2), đặc biệt là hệ thống bảng quan sát tiêu chí hành vi, cách thức tổ chức góc sách, kỹ thuật sử dụng sách khổ lớn và mã hóa dấu câu cung cấp tài liệu hướng dẫn cụ thể để áp dụng vào hoạt động giáo dục phát triển ngôn ngữ hằng ngày.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc năng lực đọc của trẻ 5-6 tuổi theo luận án gồm những thành tố nào?
Theo luận án, năng lực đọc của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non gồm 5 thành tố: (1) Kỹ năng làm việc với sách; (2) Nhận biết âm vị học; (3) Làm quen với đọc thành tiếng (theo mẫu); (4) Làm quen với đọc trơn (theo mẫu); (5) Hiểu nghĩa tường minh.
2. Khảo sát thực trạng của đề tài được thực hiện trên quy mô và địa bàn nào?
Khảo sát thực trạng được tiến hành tại 20 trường mầm non với 368 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thuộc 5 tỉnh khu vực Đông Bắc Bộ, bao gồm Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh và Bắc Giang.
3. Nội dung thực nghiệm sư phạm trong Chương 3 tập trung vào nội dung nào và ở đâu?
Nội dung thực nghiệm sư phạm của luận án được tổ chức tại Trường Mầm non Quang Trung, tỉnh Thái Nguyên, tập trung kiểm chứng biện pháp dạy học nội dung nhận biết âm vị học của trẻ 5-6 tuổi.
4. Luận án đề xuất bổ sung loại ngữ liệu đọc nào vốn còn thiếu trong trường mầm non hiện nay?
Luận án chỉ ra rằng ngữ liệu đọc ở trường mầm non hiện nay chủ yếu là văn bản văn học, do đó tác giả đề xuất đưa thêm các văn bản thông tin (ví dụ sách khoa học thường thức "Bí mật của chiều cao") vào dạy học để trẻ làm quen với các cấu trúc văn bản đa dạng.
5. Luận án giải quyết vấn đề phân định giữa dạy đọc ở mầm non và tiểu học như thế nào?
Luận án khẳng định giáo dục mầm non không có nhiệm vụ dạy trẻ tập đọc, đánh vần chữ cái như lớp 1, mà hình thành năng lực tiền đọc thông qua các hành vi làm quen với sách, nhận diện âm vị, làm quen đọc theo mẫu và hiểu nghĩa tường minh, chuẩn bị tâm thế và kỹ năng nền tảng cho việc học đọc chính thức.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoa đã làm rõ cơ sở khoa học và khảo sát thực trạng hình thành năng lực đọc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 20 trường mầm non khu vực Đông Bắc Bộ. Tác giả đã xác lập cấu trúc năng lực đọc tiền học đường gồm 5 thành tố cụ thể, kèm theo hệ thống tiêu chí chất lượng và chỉ số hành vi đo lường được. Các biện pháp sư phạm được đề xuất tập trung vào chuẩn hóa mục tiêu, đa dạng hóa phương pháp - hình thức, bổ sung văn bản thông tin và đổi mới công cụ đánh giá bằng bảng kiểm hành vi. Kết quả thực nghiệm tại Trường Mầm non Quang Trung (Thái Nguyên) khẳng định tính khả thi của biện pháp phát triển nhận thức âm vị học, đóng góp luận cứ thực tiễn cho việc bảo đảm tính liên thông giữa cấp học mầm non và lớp 1 tiểu học.