CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ MẠCH LẠC CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC 1. Cớ sở lý luận 1. Ngôn ngữ mạch lạc và những đặc điểm của ngôn ngữ mạch lạc 1.
Khái niệm về ngôn ngữ mạch lạc Nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra các định nghĩa về lời nói mạch lạc của trẻ em trong đó sẽ có những điểm chung và điểm khác nhau. Trong cuốn “Giáo trình phát triển lời nói cho trẻ em” của Đinh Hồng Thái đã nêu ra định nghĩa của Tiến sĩ Ngôn ngữ học Xôkhin - tác giả của nhiều cuốn sách giáo khoa, phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em. Ông đã định nghĩa đơn giản như sau: “Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác định, được thực hiện một cách logic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tính biểu cảm”. Ngữ pháp mà Xôkhin dùng ở đây là nói về ngữ pháp văn bản chứ không nói về cú pháp (Từ đó nêu ra một trong những tiêu chí đánh giá lời nói mạch lạc của trẻ là câu nói đúng ngữ pháp) Có hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ mạch lạc đó là: lời nói đối thoại và lời nói độc thoại.
Nó liên quan chặt chẽ với tư duy. * Lời nói đối thoại: Đối thoại: Nói chuyện giữa một số người, không ít hơn hai. Mục đích của đối thoại là hỏi về cái gì đó và đòi hỏi trẻ phải trả lời. Đối thoại về căn bản là lời nói hội thoại nó bao gồm phản ứng tương hỗ của hai cá nhân giao tiếp với nhau, các phản ứng tự phát một cách bình thường được xác định bởi hoàn cảnh hoặc lời nói của những người tham gia đối thoại.
Có 2 hình thức hội thoại: Nói chuyện và đàm thoại + Nói chuyện: Là câu chuyện giữa hai người trở lên, không được chuẩn bị từ trước 7 + Đàm thoại: Là câu chuyện về một chủ đề nào đó đã được chuẩn bị hệ thống câu hỏi trước. Nó mang tính hoàn cảnh cao, sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ tỉnh lược, những phương tiện biểu cảm phi ngôn ngữ, các đặc tính biểu cảm của lời nói đóng vai trò quan trọng. Đặc điểm nổi bật của lời nói hội thoại chính là kĩ năng hình thành và đưa ra câu hỏi tương ứng với nó là câu trả lời bổ sung và sửa chữa cho người đối thoại mình. Trẻ có thể dễ dàng nắm được lời nói hội thoại vì trẻ sử dụng và được nghe nhiều trong cuộc sống.
* Lời nói độc thoại Độc thoại: Nói một mình, tự nói với mình mà không có người đối thoại, là câu chuyện của một chủ thể nói năng với nhiều đối tượng, đây là hình thức ngôn ngữ rất phức tạp về tư duy và hình thức, chủ thể phải có vốn ngôn ngữ rất rộng và chuẩn bị bài nói rất cẩn thận về nội dung và người nói phải có kĩ năng phát triển tốt. Độc thoại thường là lời nói của phong cách sách vở. Độc thoại là một hệ thống có tổ chức của các tư tưởng có hình thức lời nói, là những tác động có dự định trước đến những người xung quanh. Bất kì lời nói độc thoại nào cũng là sáng tác văn học ở dạng phôi thai.
Ngôn ngữ độc thoại đòi hỏi người nói phải chú ý căng thẳng hơn với nội dung lời nói và hình thức của nó. Ở đây rất cần giữ được sự sinh động và trực tiếp của lời nói. Ngôn ngữ độc thoại khó với trẻ vì trẻ ít được nghe trong đời sống sinh hoạt hàng ngày mà thường chỉ được sử dụng khi miêu tả, tường thuật, phán đoán thì mới được sử dụng. Độc thoại mà thông báo về các sự kiện tồn tại thời gian gọi là miêu tả.
Độc thoại thông báo về các sự kiện tiếp nối nhau gọi là tường thuật. Còn độc thoại thông báo về các sự kiện tồn tại trong mối quan hệ nhân quả gọi là phán đoán. Trong độc thoại thường dùng các cấu trúc cú pháp đơn giản hoặc phức hợp của ngôn ngữ chuẩn làm cho lời nói trở thành mạch lạc: câu đồng chức, câu biệt 8 lập, câu ghép liên hợp. Trẻ phải nắm được cấu trúc cú pháp để hiểu lời nói mạch lạc, truyền đạt thông báo của mình… Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định.
Phát triển lời nói mạch lạc là nhiệm vụ quan trọng nhất trong các nhiệm vụ phát triển lời nói của trẻ em. Tuy nhiên, hiểu lời nói mạch lạc là gì thì có nhiều ý kiến còn chưa chính xác định xuất hiện trong các nghiên cứu gần đây. Lời nói mạch lạc là một khái niệm công cụ quan trọng nhất trong các nghiên cứu phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ nhỏ. Làm sáng tỏ khái niệm này sẽ giúp các nhà sư phạm có định hướng đúng đắn trong các nghiên cứu về lĩnh vực này.
Có nghĩa là cái ngôn bản được tạo ra ấy phải đảm bảo các đặc trưng của ngôn bản với tư cách một đơn vị giao tiếp ngôn ngữ hoàn chỉnh. Đó là 2 đặc trưng cơ bản: tính hoàn chỉnh và tính liên kết. Tính hoàn chỉnh của ngôn bản bao gồm hai mặt là hoàn chỉnh về nội dung (có chủ đề tập trung, triển khai chủ đề hợp lý và có tính nhất quán về mục tiêu của chủ đề); hoàn chỉnh về hình thức chủ yếu là có kết cấu rõ ràng. Tính liên kết của môn bản thể hiện ở hai mặt hình thức và nội dung.
Liên kết nội dung bao gồm liên kết chủ đề và liên kết logic; còn liên kết hình thức nói về phương pháp thức liên kết các câu, các đoạn câu (các phương thức: lặp, thế, nối, phối ứng từ ngữ, tỉnh lược, đối, nêu câu hỏi,.) Tóm lại, lời nói mạch lạc không phải được tạo nên bởi phép cộng đơn thuần của các phát ngôn mà tồn tại bởi sợi dây liên kết (liên kết nội dung và liên kết hình thức) được biểu hiện bởi tư duy logic về một chủ đề nhất định và bởi phương thức liên kết lời nói với nhau nhằm thực hiện các chức năng giao tiếp. Đặc điểm của ngôn ngữ mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5-6 tuổi xuất hiện do như cầu muốn mô tả lại cho người khác nghe những gì mà trẻ được nhìn thấy mà không thể dựa vào tình huống cụ thể trước mắt. 9 Ví dụ: Đến lớp, trẻ muốn kể cho cô giáo nghe chuyện tối qua bị bố mẹ mắng vì lười không chịu ăn cơm. Như vậy nhu cầu giải thích, phân trần cho bạn hay người lớn của trẻ về một vấn đề nào đó nhằm mục đích thuyết phục người nghe.
Để đạt được điều đó trẻ phải cố gắng diễn đạt suy nghĩ của mình một cách rõ ràng theo đúng một trình tự thể hiện được mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng… Trong bậc học mầm non, lứa tuổi 5-6 tuổi là lứa tuổi học cao nhất, ở độ tuổi này trẻ còn thêm nội dung học là chuẩn bị kiến thức vào lớp 1. Ở lứa tuổi này, nhu cầu nhận thức của trẻ phát triển mạnh, nhu cầu nhận thức là nhu cầu hướng tới, tiếp thu những tri thức mới. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi góp phần chuẩn bị phương tiện tư duy trực quan hình tượng ở giai đoạn cao hơn, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự xuất hiện kiểu tư duy logic ở giai đoạn phát triển tiếp theo, giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc hơn, góp phần mở rộng phạm vi giao tiếp, phát triển xúc cảm, tình cảm và tâm lí trẻ nói chung, nâng cao kĩ năng ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi này Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5-6 tuổi: Ở mẫu giáo lớn lời nói mạch lạc đã đạt trình độ khá cao, cao hơn hẳn so với trẻ ở hai độ tuổi mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ. Trẻ mẫu giáo lớn có vốn từ phong phú hơn về số lượng cũng như từ loại.
Trẻ sử dụng được nhiều loại mẫu câu khác nhau. Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ biết so sánh, nhận ra những đặc điểm giống, khác nhau của sự vật, hiện tượng. Ở trẻ bắt đầu xuất hiện khả năng tổng quát, đưa ra kết luận. Những đặc điểm đó của tư duy ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ mạch lạc của trẻ.
Ngôn ngữ của trẻ rõ ràng hơn, có nội dung hơn, người nghe dễ hiểu hơn. Trong ngôn ngữ độc thoại trẻ thường dùng những câu, những đoạn ngắn. Trẻ thích được trò chuyện với người lớn. Trẻ không chỉ đàm thoại về những gì trẻ đang tri giác mà còn biết đàm thoại về những nội dung mà trẻ đã biết và được đưa ra nhận định của mình.
10 Mặc dù không phải lúc nào trẻ cũng đưa ra những nhận định đúng, trẻ có thể kể lại một câu chuyện mà trẻ biết hoặc được nghe kể, có thể kể theo tranh, hoặc đồ chơi, đồ vật. Mặc dù phần lớn lời kể của trẻ bắt chước theo mẫu của người lớn. Hiểu lời nói mạch lạc của người lớn, ý thức về dòng âm thanh mà chúng nghe được đi trước sự nắm vững các câu, các nhóm từ, các từ tố, nghĩa là đi trước khả năng tách biệt chúng khỏi dòng âm thanh. Nắm vững lời nói mạch lạc, không có được,nếu không phát triển khả năng tách biệt các thành tố của nó như câu, từ.Để phát triển khả năng này, chú ý các đặc điểm cấu tạo từ, cấu tạo câu.
Mỗi từ có nhiều nghĩa, hiếu tính nhiều nghĩa của từ phải trong lời nói mạch lạc, trong câu, nhóm từ. Ví dụ: Từ “ánh sáng” có thể hiểu là ánh sáng mặt trời, ánh sáng điện; sự vui sướng (tràn đầy ánh sáng); sự thật (đưa ra ánh sáng).Tính nhiều nghĩa của từ dẫn đến sự chuyển nghĩa của từ. Trẻ sớm nhận biết sự chuyển nghĩa nếu như được giải thích rõ ràng, dễ hiểu thực chất của hiện tượng: sự so sánh ngầm là cơ sở của bất kì sự chuyển nghĩa nào. Để trả lời được câu hỏi của người lớn đưa ra thì trẻ đã biết sử dụng các câu tương đối chính xác, ngắn gọn và khi cần thì mở rộng.
Lúc này trẻ đã phát triển kĩ năng nhận xét lời nói và câu trả lời của các bạn, bổ sung hoặc sửa chữa các câu trả lời đó. Lời nói của trẻ mang tính tình huống, chủ yếu là diễn đạt một cách vội vàng. Những lời nói mạch lạc của trẻ được cấu tạo từ hai đến ba câu, nhưng cũng cần xem đó là sự thể hiện mạch lạc.