Tổng quan luận án

Đề tài "Dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam: Nội dung và phương thức thể hiện" do nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Nhị thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62.21, năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Ngọc Vương và PGS. Vũ Thanh.

Luận án xuất phát từ nhận thức rằng dự báo là hiện tượng có nguồn gốc sâu xa từ đời sống văn hóa, triết học và nhận thức luận của nhân loại. Thời kỳ cổ - trung đại, do trình độ nhận thức tự nhiên và sự chi phối của ý thức hệ thần quyền, dự báo mang tính chất "nhồng tính" – vừa gắn liền với tín ngưỡng, tâm linh sơ khai, vừa tích hợp các tri thức mang tính duy lí hóa dần theo thời gian. Khi đi vào văn học trung đại, các phương thức dự báo xuất hiện với tần số cao và kiểu loại phong phú nhưng thường sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành hẹp, tạo ra rào cản tiếp nhận đối với người đọc hiện đại. Trước khi luận án được thực hiện, giới nghiên cứu chủ yếu tiếp cận yếu tố kỳ ảo để phân tích hiện thực xã hội mà thiếu vắng các công trình chuyên biệt, bao quát toàn diện về hệ thống phân loại, cơ sở triết học nền tảng cũng như giá trị thi pháp học của hiện tượng dự báo.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xác lập hệ thống phương thức dự báo, phân tích toàn diện giá trị nội dung tư tưởng văn hóa và hình thức nghệ thuật của hiện tượng dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu các tiền đề lịch sử - xã hội, văn hóa và văn học hình thành nên hiện tượng dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam.
  2. Xác lập nội hàm khái niệm dự báo, nhận diện và phân loại toàn diện các phương thức dự báo trên khối lượng khảo sát 245 tác phẩm có yếu tố dự báo trên tổng số 738 tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại.
  3. Nghiên cứu nội dung phản ánh của dự báo đối với đời sống hiện thực, tư tưởng, đạo đức và màu sắc văn hóa bản địa thời trung đại.
  4. Nghiên cứu hình thức biểu hiện và giá trị nghệ thuật của dự báo trên các phương diện: kiểu loại nhân vật, tổ chức không gian - thời gian nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ.

Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các biểu hiện nội dung và phương thức thể hiện của dự báo (bao gồm điềm triệu, phong thủy, chiêm mộng, tướng thuật, Kinh Dịch, tử vi, trạch cát, thái ất, lục nhâm, kì môn độn giáp, tiếp xúc với thế giới siêu nhiên...). Phạm vi khảo sát tư liệu tập trung vào văn xuôi tự sự chữ Hán trung đại qua các bộ tuyển tập: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (4 tập, Trần Nghĩa chủ biên), Truyện truyền kì Việt Nam (2 tập, Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (3 tập, Nguyễn Đăng Na biên soạn); kết hợp đối chiếu với các bộ sử học lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử kí tiền biên, Việt sử lược, Việt sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các hướng tiếp cận lịch sử và nghiên cứu văn học liên quan đến hiện tượng dự báo và văn hóa tâm linh tại Việt Nam:

  • Hướng điều tra thư tịch Hán Nôm và ghi chép lịch sử: Công trình của học giả V. Alexei (Chiêm tinh học và thuật bói toán tại Việt Nam cổ truyền) ghi nhận sự quan tâm của giới Nho sĩ đối với sách bói toán và tài liệu thiên văn, chiêm tinh; khảo cứu của Huard và Durand phân loại địa lí phong thủy, chiêm tinh, phù thủy, xem tướng và xem chân gà; công trình Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (mục Phương thuật) hệ thống hóa các phép bốc phệ, tướng số, trạch cát, phụ tiên, cầu đồng, sấm ký và bói Kiều.
  • Hướng nghiên cứu văn học theo từng phương thức cụ thể:
    • Phương thức chiêm mộng: Được khảo sát qua các công trình, bài viết của Lê Thu Yến, Đinh Phan Cẩm Vân, Trần Đình Sử, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, Đỗ Thị Mỹ Phương, Nguyễn Thị Kim Ngân...
    • Phương thức phong thủy: Được đề cập bởi B. Riftin, Phạm Tú Châu, Trần Nghĩa, Lê Thu Yến, Trần Nho Thìn, Đào Ly Na...
    • Phương thức điềm triệu và tiếp xúc thế giới siêu nhiên: Khảo cứu qua các nghiên cứu của Trần Đình Sử, Lê Thu Yến, Nguyễn Hữu Sơn...
    • Phương thức tướng thuật: Bước đầu được phân tích trong các bài viết của B. Riftin, Trần Đình Sử, Trần Nho Thìn, Nguyễn Đăng Na...

Các nghiên cứu trước đây đã xác định văn học viết kế thừa nhiều mô-típ dự báo từ văn học dân gian và sử dụng cái kỳ ảo để phản ánh tâm thức dân tộc. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát riêng lẻ từng phương thức phổ biến (chủ yếu là mộng và phong thủy), chưa bao quát các phương thức thuật số phức tạp (Kinh Dịch, thái ất, lục nhâm, độn giáp). Khoảng trống mà luận án giải quyết là xây dựng một hệ thống lý thuyết nền tảng, khảo sát định lượng toàn diện trên diện rộng tư liệu văn xuôi tự sự, nhận diện phân loại đầy đủ các phương thức dự báo và phân tích có hệ thống cấu trúc thi pháp của dự báo từ nhân vật, không gian, thời gian đến ngôn ngữ nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành cùng các phương pháp nghiên cứu văn học chuyên sâu:

  • Cơ sở lý thuyết chung:
    • Văn hóa học: Dựa trên quan niệm của A. Gurêvich, Trần Nho Thìn và Đỗ Lai Thúy, tiếp cận tác phẩm văn học như một thành tố của hệ thống văn hóa. Phương pháp này ưu tiên phục nguyên không gian văn hóa nơi tác phẩm ra đời, giải mã mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân dưới sự chi phối của các hệ tư tưởng thời đại.
    • Thi pháp học: Vận dụng lý thuyết của V. Girmunxki, V. Vinôgrađốp và Trần Đình Sử, nghiên cứu tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật mang tính quan niệm, phân tích quy luật tổ chức văn bản thông qua các yếu tố ngôn từ, hình tượng, mô-típ và kết cấu có tính lặp lại.
  • Cơ sở lý thuyết nền tảng của các phương thức dự báo: Luận án hệ thống hóa các nguyên lý cổ phương Đông làm cơ sở giải mã thông tin dự báo, bao gồm:
    • Thuyết Âm dương: Các quy luật đối lập, thống nhất, tiêu trưởng, thăng bằng ("vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản", "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương").
    • Thuyết Ngũ hành và Thiên can Địa chi: Mối quan hệ tương sinh, tương khắc, quy luật chuyển vận thời gian - không gian.
    • Thuyết Thống nhất thông tin vũ trụ: Tư tưởng thiên nhân hợp nhất, thiên nhân cảm ứng (Đổng Trọng Thư).
    • Ma thuật vi lượng: Mối liên hệ tượng trưng giữa bộ phận và toàn thể trong tư duy cổ sơ.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp loại hình học: Khảo sát dự báo theo đặc trưng các thể loại văn xuôi tự sự (truyền kỳ, ký, tiểu thuyết chương hồi) trong sự phân biệt với văn vần tự sự (truyện thơ Nôm).
    • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn hóa học, thi pháp học, xã hội học, lịch sử học và tâm lý học.
    • Phương pháp so sánh văn học: Đối chiếu giữa văn học dân gian và văn học viết; so sánh các thể loại trong nước; đối chiếu dự báo phương Đông với các mô hình dự báo phương Tây.
    • Phương pháp diễn ngôn: Ứng dụng lý thuyết của Michel Foucault về diễn ngôn như công cụ kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực, đặt văn bản dự báo trong mối quan hệ với diễn ngôn chính trị, tôn giáo, đạo đức thời phong kiến.
    • Thao tác bổ trợ: Thống kê, phân loại, miêu tả, phân tích văn bản.
Nguồn tư liệu khảo sát chính Quy mô / Số lượng Mục đích sử dụng trong luận án
Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Trần Nghĩa chủ biên) 4 tập (khảo sát chính trong tổng số 738 tác phẩm) Khảo sát định lượng và phân loại phương thức dự báo (xác định 245 tác phẩm chứa yếu tố dự báo).
Truyện truyền kì Việt Nam (Nguyễn Huệ Chi chủ biên) & Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Đăng Na) 5 tập Đối chiếu, bổ sung các dị bản và phân tích đặc trưng thể loại truyền kỳ, ký sự.
Các bộ sử ký (ĐVSKTT, Đại Việt sử kí tiền biên, Việt sử lược, Việt sử tiêu án...) Đa tập Đối chiếu văn bản văn học với ghi chép chính sử, làm rõ bối cảnh lịch sử và mối quan hệ vương quyền - thần quyền.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa định nghĩa về dự báo từ các từ điển trong nước và quốc tế (Từ điển tiếng Việt, Oxford, Merriam-Webster, Larousse, Robert, Từ điển Tôn giáo và các thể nghiệm siêu việt), xác định dự báo là hành vi biết và báo trước tương lai một cách chủ động hoặc bị động dựa trên điềm báo tự nhiên, thuật số hoặc sự trợ giúp của thần linh.

Tác giả phân tích bức tranh dự báo trên thế giới qua hai nhánh: thiên khải (bị động chờ dấu hiệu từ trời) và nhân vi (chủ động kiến tạo kỹ thuật thăm dò tương lai). Năm hệ thống tiên tri lớn trên thế giới được điểm luận gồm: chiêm tinh học, thuật số (Kabbalic, Chaldean, Pythagorean), Kinh Dịch, bài Tarot và chữ Rune. Luận án so sánh hệ thống biểu tượng dự báo phương Đông (trầu cau, sen, gạo, trâu, rùa, đồng tiền âm dương, thẻ can chi) và phương Tây (cỏ bốn lá, tầm gửi, xúc xắc, bài Tarot, quả cầu thủy tinh).

Tại Việt Nam, dự báo tiếp thu truyền thống thuật số Trung Hoa nhưng có sự dung hợp với văn hóa bản địa, hình thành các hình thức đặc thù như bói Kiều, xin keo âm dương và bói chân gà (Việt vu, được ghi nhận từ thời Sử ký Tư Mã Thiên). Chương 1 cũng trình bày chi tiết các khung lý thuyết tiếp cận (văn hóa học, thi pháp học, lý thuyết diễn ngôn) và các nguyên lý vũ trụ luận cổ phương Đông (Âm dương, Ngũ hành, Can chi).

Chương 2: Các tiền đề hình thành và vấn đề nhận diện, phân loại dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Chương 2 phân tích các tiền đề đa diện dẫn đến sự hình thành dự báo trong văn học:

  • Tiền đề lịch sử, xã hội: Chế độ quân chủ chuyên chế sử dụng thần quyền như một dạng "quyền lực mềm" để củng cố vương quyền và duy trì trật tự xã hội. Các truyền thuyết về nguồn gốc thần linh, điềm triệu lên ngôi, thần linh phò trợ đánh giặc được ghi chép vào chính sử và văn học nhằm hợp thức hóa thuyết Thiên mệnh. Hoạt động ngoại giao đi sứ sang Trung Quốc cũng là con đường du nhập tài liệu dự báo (các sứ thần như Trần Huy Mật mua Tử vi đẩu số, Địa lý tuyết tâm; Lê Quý Đôn mua Tử vi đẩu số, Mai hoa Dịch số dù bị triều đình phong kiến phương Bắc nghiêm cấm).
  • Tiền đề văn hóa, tôn giáo: Tín ngưỡng bản địa vạn vật hữu linh, tục thờ nhiên thần (Tứ pháp, Mẫu Tứ phủ) và thờ nhân thần (tổ tiên, anh hùng lịch sử); sự khúc xạ của Nho giáo thời Hán với thuyết "Thiên nhân cảm ứng" của Đổng Trọng Thư; sự hòa nhập của Phật giáo Thiền tông, Mật tông với các yếu tố huyền thuật; ảnh hưởng của Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy.
  • Tiền đề văn học: Mạch nguồn truyện kể dân gian cung cấp hệ thống mô-típ dự báo (giấc mơ linh ứng, điềm báo thiên tai, lời sấm truyền); sự giao lưu và tiếp thu truyền thống văn thi pháp từ văn học cổ Trung Quốc.

Trên cơ sở thống kê 245/738 tác phẩm, tác giả nhận diện và phân loại dự báo theo hai trục chính:

Tiêu chí phân loại Các phân nhóm cụ thể trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam
Theo hình thức và kĩ thuật dự báo - Tiếp xúc với thế giới siêu nhiên: Cầu đồng cốt, chiêm mộng, tiếp xúc thần ma.
- Xem Kinh Dịch, tử vi: Bốc phệ, gieo quẻ, tính toán lá số mệnh vận.
- Phong thủy, trạch cát: Suy đoán long mạch, chọn ngày giờ lành dữ.
- Thuật số phức tạp: Thái ất, lục nhâm, kì môn độn giáp.
Theo nội dung và chủ đề dự báo - Dự báo cho cá nhân: Phúc họa, thọ yểu, tật bệnh, cử nghiệp, tình duyên, xuất thân.
- Dự báo cho cộng đồng và quốc gia: Hưng phế triều đại, biến cố chính trị, chiến tranh, thiên tai.

Chương 3: Giá trị nội dung tư tưởng, văn hoá của dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Chương 3 đi sâu giải mã các tầng ý nghĩa tư tưởng và văn hóa ẩn chứa sau các phương thức dự báo:

  • Phản ánh hiện thực xã hội: Dự báo tái hiện đời sống sinh hoạt của các tầng lớp cư dân, phản ánh những lo âu về hoạn nạn, bệnh tật, khát vọng đỗ đạt qua thi cử và bước đường thăng trầm chốn quan trường. Đồng thời, dự báo phản ánh rõ nét sự tương tác phức tạp giữa thần quyền và vương quyền, nơi thần quyền vừa là chỗ dựa hợp thức hóa quyền lực vua chúa, vừa là tiếng nói phản biện, cảnh báo trước sự suy thoái đạo đức của giai cấp thống trị.
  • Phản ánh tư tưởng và đạo đức trung đại: Dự báo là phương tiện biểu đạt quan niệm triết lý về mối quan hệ nhân - quả, đặc biệt là tư tưởng "Đức - Phúc". Dự báo khẳng định số mệnh tuy có sẵn nhưng con người có thể tích đức, hành thiện để chuyển họa thành phúc, cải tạo vận mệnh.
  • Thể hiện màu sắc văn hóa bản địa: Hệ thống dự báo trong văn xuôi tự sự Việt Nam gắn liền với môi trường sinh thái nông nghiệp lúa nước:
    • Hệ thống thực vật dự báo: Sự xuất hiện của cây đa, cây đề, cây gạo, trầu cau, mía, tre, sen, hạt gạo...
    • Hệ thống động vật dự báo: Hình tượng rồng, rắn, rùa, cá chép, thạch sùng, trâu, gà... mang đậm dấu ấn tín ngưỡng và sinh hoạt của người Việt.

Chương 4: Hình thức thể hiện và giá trị nghệ thuật của dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Chương 4 phân tích chức năng thi pháp học của dự báo trong việc tổ chức văn bản tự sự:

  • Nghệ thuật khắc họa nhân vật:
    • Phân loại nhân vật: Luận án chia thành hai nhóm rõ rệt: nhân vật mang chức năng dự báo (bốc sư, đạo sĩ, thầy phong thủy, thần tiên, dị nhân) đóng vai trò người phát ngôn chân lý; và nhân vật được dự báo (vua chúa, danh tướng, sĩ tử, người bình dân) là đối tượng tiếp nhận thông tin tương lai.
    • Kỹ thuật xây dựng: Dự báo tham gia ảo hóa xuất thân, hành trạng và cái chết của nhân vật; tạo tác chân dung mang tính biểu trưng (tướng mạo quý tướng hoặc yểu tử); đồng thời xác tín hóa thông tin, gia tăng độ tin cậy lịch sử cho nhân vật.
  • Nghệ thuật tổ chức không gian và thời gian:
    • Kiểu loại không gian - thời gian: Không gian dự báo thường gắn với các địa điểm linh thiêng, ranh giới (đền miếu, chùa chiền, sông nước, rừng núi); thời gian dự báo thường rơi vào các thời điểm tĩnh lặng, bất thường (đêm khuya, canh ba, khoảnh khắc giao mùa, lúc rạng đông).
    • Bút pháp nghệ thuật: Kết hợp ảo hóa và thực hóa không gian; lặp lại và kéo dài thời gian nghệ thuật.
    • Vai trò thi pháp: Dự báo giúp nới rộng, dịch chuyển không gian từ cõi thực sang cõi ảo; đồng thời phóng chiếu dòng thời gian đến tương lai xa và quy hồi thời gian về quá khứ, phá vỡ trật tự tuyến tính đơn thuần.
  • Nghệ thuật ngôn ngữ dự báo:
    • Phân lập các công thức và ký hiệu ngôn ngữ biểu thị kết quả tốt lành (cát tường) và tai họa (hung hiểm).
    • Vận dụng lớp thuật ngữ chuyên ngành dự báo (can chi, hào quẻ, âm dương, hình thế phong thủy) làm giàu có hệ thống từ vựng văn xuôi tự sự trung đại.
    • Kỹ thuật mã hóa thông tin dưới dạng sấm ký, câu đố, chiết tự, thơ tiên tri tạo nên tính chất ẩn mật, mơ hồ và huyền bí, kích thích sự khám phá của người đọc.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp lý luận: Đề xuất định nghĩa và xác lập tường minh nội hàm của khái niệm dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam. Xây dựng khung lý thuyết liên ngành kết hợp giữa văn hóa học, thi pháp học, lý thuyết diễn ngôn và các quy luật vũ trụ luận cổ phương Đông để tiếp cận hiện tượng dự báo trong văn học.
  2. Đóng góp thực tiễn:
    • Tiến hành khảo sát định lượng quy mô lớn trên 738 tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán, xác định và lập danh mục 245 tác phẩm có chứa yếu tố dự báo (tỷ lệ 33,19%).
    • Nhận diện và hệ thống hóa toàn diện các phương thức dự báo, phân tích cả những phương thức thuật số phức tạp ít được nghiên cứu trước đó (thái ất, lục nhâm, kì môn độn giáp).
    • Phân tích sâu sắc giá trị nội dung tư tưởng, làm rõ mối quan hệ giữa vương quyền - thần quyền, quan niệm "Đức - Phúc" và các biểu tượng thực vật, động vật mang màu sắc văn hóa bản địa.
    • Làm sáng tỏ toàn diện giá trị nghệ thuật của dự báo trong việc xây dựng nhân vật, tổ chức không gian - thời gian nghệ thuật và khai thác lớp ngôn ngữ mã hóa đặc thù.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi tư liệu tập trung trọng tâm vào văn xuôi tự sự chữ Hán trung đại (chủ yếu dựa trên các bộ tổng tập truyện truyền kỳ, ký sự và tiểu thuyết), luận án chưa thể bao quát khảo sát ở mức độ tương đương đối với mảng văn vần tự sự (truyện thơ Nôm) và toàn bộ các văn bản Hán Nôm ghi chép địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng đối chiếu, so sánh liên thể loại giữa văn xuôi tự sự chữ Hán và truyện thơ Nôm về sự biến đổi của các mô-típ dự báo.
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh khu vực Đông Á (đối chiếu phương thức dự báo trong văn xuôi tự sự Việt Nam với văn xuôi tự sự Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản).
    • Đi sâu khai thác các bộ thư tịch Hán Nôm chuyên về phương thuật để làm rõ hơn mức độ ảnh hưởng của tri thức thuật số dân gian đối với tư duy sáng tác của các tác gia trung đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn học so sánh, Văn hóa học và Hán Nôm học: Cung cấp khung phương pháp luận liên ngành và hệ thống tư liệu thống kê, phân loại có độ tin cậy cao.
  • Người nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn ở bậc đại học và phổ thông: Giúp giải mã các biểu tượng kỳ ảo, giấc mơ, điềm báo, sấm ký trong các tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại tiêu biểu được giảng dạy trong chương trình (như Truyền kì mạn lục, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, Hoàng Lê nhất thống chí, Tang thương ngẫu lục...).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ xuất hiện của các phương thức dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam được khảo sát như thế nào?

Theo khảo sát định lượng của tác giả trên nguồn tư liệu chính là bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, trong tổng số 738 tác phẩm được khảo sát, có 245 tác phẩm xuất hiện các phương thức dự báo, chiếm tỷ lệ 33,19%. Tần số xuất hiện này cho thấy dự báo là một yếu tố thi pháp và chất liệu nghệ thuật phổ biến của văn học trung đại.

2. Các sứ thần Việt Nam thời trung đại đã tiếp cận và tìm kiếm sách dự báo từ Trung Quốc như thế nào?

Dù triều đình phong kiến Trung Quốc nghiêm cấm bán các sách liên quan đến bói toán, âm dương, niên lịch và số mệnh học cho người nước ngoài (được ghi nhận từ năm 1107), các sứ thần Việt Nam vẫn tìm cách mua và mang về nước. Điển hình như trong đoàn cống sứ năm 1760 - 1762, Chánh sứ Trần Huy Mật đã mua Tử vi đẩu số và Địa lý tuyết tâm; Phó sứ Lê Quý Đôn đã mua Tử vi đẩu số và Mai hoa Dịch số.

3. Hai nhóm nhân vật chính liên quan đến dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại là những nhóm nào?

Luận án phân lập hai nhóm nhân vật chính:

  • Nhóm nhân vật mang chức năng dự báo: Bao gồm bốc sư, đạo sĩ, thầy phong thủy, pháp sư, thần tiên, dị nhân... giữ vai trò môi giới tâm linh và phát ngôn các chỉ dẫn tương lai.
  • Nhóm nhân vật được dự báo: Bao gồm các nhân vật lịch sử, vua chúa, tướng lĩnh, sĩ tử đi thi, phụ nữ hoặc thứ dân... là đối tượng tiếp nhận thông tin dự báo về số phận, sự nghiệp hay họa phúc.

4. Thuyết diễn ngôn của Michel Foucault được ứng dụng như thế nào trong luận án?

Luận án tiếp cận dự báo không phải là các yếu tố siêu nhiên cô lập mà là một dạng diễn ngôn kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực. Tác giả đặt văn bản dự báo trong mối quan hệ với diễn ngôn chính trị và tôn giáo thời trung đại để chỉ ra cách giai cấp thống trị sử dụng điềm triệu, sấm truyền và thuyết Thiên mệnh nhằm củng cố vương quyền, kiểm soát tư tưởng xã hội và định hình chuẩn mực đạo đức.

5. Dấu ấn văn hóa bản địa của người Việt thể hiện qua những biểu tượng dự báo nào?

Dấu ấn bản địa phản ánh rõ qua hệ sinh thái nông nghiệp lúa nước và tín ngưỡng dân gian, bao gồm:

  • Thực vật dự báo: Cây đa, cây gạo, cây đề, cây thị, trầu cau, tre, mía, sen, hạt gạo...
  • Động vật dự báo: Rồng, rắn, rùa, thạch sùng, cá chép, trâu, gà...
  • Các hình thức dự báo dân gian đặc thù: Tục bói Kiều, xin keo âm dương và tục bói chân gà (Việt vu) có nguồn gốc lâu đời.

Kết luận

Luận án "Dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam: Nội dung và phương thức thể hiện" của tác giả Trần Thị Thanh Nhị là công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát toàn diện hiện tượng dự báo trong văn học trung đại từ góc độ liên ngành văn hóa học và thi pháp học. Bằng việc khảo sát định lượng trên 738 tác phẩm chữ Hán, luận án đã xác lập hệ thống phân loại khoa học cho các phương thức dự báo từ dân gian đến thuật số kinh điển. Công trình làm rõ chức năng kép của dự báo trong việc phản ánh hiện thực, tư tưởng đạo đức trung đại, đồng thời khẳng định vai trò cấu trúc của dự báo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức không gian - thời gian và mã hóa ngôn ngữ nghệ thuật.