Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch. Đặc điểm cảnh quan huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Nghiên cứu cảnh quan trên thế giới và ở Việt Nam 1. Nghiên cứu cảnh quan trên thế giới Cảnh quan học là lĩnh vực khoa học mang tính tổng hợp cao nhất trong nhóm khoa học địa lý tự nhiên [2].
Ý niệm về CQ được xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên tại châu Á, được tác giả Zong Binh (Trung Quốc) dùng để miêu tả Sơn Thủy (tranh vẽ núi và sông) [116], [133]. Tuy nhiên, CQ chưa được định nghĩa rõ ràng. Tại châu Âu vào thế kỉ thứ 13, lĩnh vực CQ đã được người Hà Lan đề cập và rõ nhất trong tác phẩm văn học “Africa” (Châu Phi) của nhà triết học, nhà thơ người Ý Francesco Petrarca (1337) và cho đến thế kỷ thứ 16 - 17, CQ được đề cập nhiều trong lĩnh vực nghệ thuật kiến trúc và hội họa, chủ yếu mô tả các bức tranh về phong cảnh thiên nhiên [104], [105]. Khoa học CQ thực sự được đặt nền móng từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới lần 2 [31], [57], [88].
Lúc đầu, CQ chủ yếu là đối tượng nghiên cứu của các nhà địa lý học. Theo đó, CQ học là một bộ phận của địa lý tự nhiên, nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ của lớp vỏ địa lý. Càng về sau này, CQ học được nhiều nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực quan tâm: sinh thái học, xã hội học và nhân văn, kiến trúc và đô thị,…Quá trình nghiên cứu CQ phát triển từ phân tích bộ phận, rồi đến tổng hợp, sau đó lại phân tích bậc cao hơn và tổng hợp bậc cao hơn trên con đường phát triển dạng xoắn ốc đi lên, ngày càng đi sâu vào bản chất của các sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu của lớp vỏ Trái Đất [31], [107]. Trong lịch sử phát triển CQ học, có nhiều hướng tiếp cận nghiên cứu CQ khác nhau.
Mỗi trường phái đều có những đặc trưng riêng nhưng tựu chung đều hướng tới sử dụng hợp lý TNTN và lãnh thổ [23], [130]. Có thể khái quát hai trường phái nghiên cứu CQ chủ yếu: nghiên cứu CQ của các nhà địa lý Nga (Liên Xô cũ) và Đông Âu; nghiên cứu CQ của các nước Tây Âu và Bắc Mĩ. a) Hướng nghiên cứu cảnh quan ở Liên Xô và Đông Âu 5 Trước tiên là công trình nghiên cứu của nhà thổ nhưỡng học người Nga V. Ông là người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp để mô tả và giải thích một cách đầy đủ các yếu tố của CQ.
Ông cho rằng, tìm hiểu tự nhiên là nghiên cứu các mối liên hệ, những tác động tương hỗ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên. Điều đó tạo nên bản chất của địa lý học hiện đại và CQ học [31]. Berg có công rất lớn trong việc sáng lập nên trường phái CQ học. Với tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lý Liên Xô” (1913), tác giả là người đầu tiên đưa khái niệm “cảnh quan” vào khoa học địa lý và coi các đới tự nhiên chính là các đới CQ hay còn gọi là các CQ địa lý, CQ là đối tượng nghiên cứu của địa lý.
Theo tác giả, nhiệm vụ quan trọng của các nhà Địa lý là phân chia một phần hoặc toàn bộ bề mặt Trái Đất thành các vùng theo các tiêu chí thuộc tính tự nhiên. Berg tiếp tục công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lý Liên Xô”, góp phần hoàn thiện lí luận về CQ [39], [82]. Sau năm 1917, do mục tiêu khai thác tài nguyên và thúc đẩy công nghiệp hóa của chính quyền Xô Viết đã thúc đẩy khoa học Địa lý của quốc gia này thực sự phát triển, đặc biệt các chuyên ngành địa lý tự nhiên, trong đó gồm cả CQ học. Các nghiên cứu CQ có nhiều thuận lợi xâm nhập vào thực tế lãnh thổ Nga, cùng với sự phát triển của các khoa học địa lý bộ phận như: địa mạo học, khí hậu học, thủy văn học, thổ nhưỡng học và địa lý sinh vật.
Những bản đồ CQ đầu tiên được thành lập bởi B. Những năm 40 thế kỷ XX, đặc biệt sau Chiến tranh thể giới lần 2, được gọi là thời kỳ nghiên cứu mạnh mẽ sự phân chia bề mặt Trái đất và nhiệm vụ của CQ học là nghiên cứu các quy luật phân hóa lãnh thổ của lớp vỏ Địa lý, CQ là đơn vị cơ sở của hệ thống phân vùng. Trong các công trình nghiên cứu CQ của các nhà địa lý Xô Viết công bố trước và sau Thế chiến thứ 2, nghiên cứu của Berg (1915) và N. Kế tiếp là vai trò của các tác giả: A.
6 Sau năm 1955, Hội nghị chuyên đề CQ học được tổ chức gần như hàng năm. Giai đoạn phát triển CQ học hiện đại đã bắt đầu từ khoảng giữa những năm 60 của thế kỷ XX cho đến nay. Tác động của công nghệ và kỹ thuật hiện đại trong mọi lĩnh vực của đời sống KT - XH dẫn đến các CQ nguyên thủy dần bị biến đổi sâu sắc, các CQ văn hóa – nhân văn xuất hiện ngày càng trở lên phổ biến. Nhiệm vụ của CQ học trong giai đoạn mới hiện nay là phải tìm cách tối ưu hóa việc khai thác và bảo vệ tự nhiên, đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Nghiên cứu CQ có hướng tiếp cận liên ngành, khoa học CQ chuyển hướng từ nghiên cứu cấu trúc tự nhiên sang nghiên cứu chức năng, động lực trên cơ sở địa lý học, với các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như: N. Ở các nước Đông Âu sau chiến tranh Thế giới lần hai, các vấn đề liên quan đến CQ chịu ảnh hưởng nhiều của học thuyết về CQ của Liên Xô và từng bước thành lập các bản đồ CQ [54]. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh (giai đoạn 1947-1989), CQ học Xô Viết chủ yếu có ảnh hưởng hạn chế trong phạm vi một số nước Xã hội Chủ nghĩa thuộc Đông Âu trước đây (Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc,…), Trung Quốc và Việt Nam. Sau khi Liên Xô sụp đổ (năm 1991), hướng nghiên cứu CQ ở Nga phát triển chậm lại, nội dung khoa học tự nhiên vẫn chiếm ưu thế, khía cạnh xã hội và nhân văn của CQ ít được đề cập [15], [39].
Có thể nói, hầu hết các nhà khoa học địa lý Xô Viết thuộc trường phái nghiên cứu CQ học truyền thống có hướng tiếp cận địa lý tổng hợp. Cảnh quan học có nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, tác động giữa các hợp phần CQ, quy luật phân hóa lãnh thổ tự nhiên, hệ thống phân loại CQ và khả năng sử dụng CQ cho mục đích phát triển KT - XH, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ thiên nhiên. b) Hướng nghiên cứu cảnh quan ở Tây Âu và Bắc Mỹ Các nghiên cứu CQ ở Tây Âu và Bắc Mĩ lúc đầu cũng xuất phát từ các nhà Địa lý học, nổi bật là: nhà địa lý người Anh A.Ghebecxơn (1905), nhà địa lý người Đức là Z.Passarge (1958) và Georges Bertrand là tác giả của nhiều cuốn sách về phân tích CQ. Ông nhấn mạnh quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu CQ: « Cảnh quan là một 7 hệ thống đan xen giữa tự nhiên và xã hội, nó như một "khoa học đường chéo" có tính xuyên suốt giữa cách tiếp cận tự nhiên học và địa lý xã hội nhân văn » [115].
Hiện nay, ở châu Âu vẫn có các công trình đề cập đến phân loại CQ theo hướng tiếp cận địa lý tổng hợp nhưng đơn giản hóa để có thể dùng phương pháp Cluster bằng GIS như Bastian Olaf (2000), Blankson E. Ở Pháp, các nghiên cứu CQ tập trung nhiều vào các khía cạnh nhân văn của CQ. Những năm 60 của thế kỷ XX, nổi lên vấn đề "Môi trường sống dựa trên các nguyên tắc sinh thái và CQ địa lý" tạo nên một hướng nghiên cứu CQ chung - hướng cảnh quan sinh thái (Landscape Ecology) [57]. Cảnh quan sinh thái (CQST) là sự giao thoa, tích hợp của hai ngành khoa học: một là địa lý (cảnh quan), hai là sinh học (sinh thái) trong nghiên cứu.
Theo đó, con người được hiểu như một hợp phần của CQ dưới dạng các sản phẩm của hoạt động KT - XH, CQ chấp nhận các mảnh ghép, các ma trận phức tạp do sự xáo trộn, điều chỉnh và sử dụng hệ thống tự nhiên lâu dài của con người [106], [110], [111], [116], [129]. Tiêu biểu là các công trình của các tác giả người Mỹ: Troll C (1939, 1969) [123], [124], Zonneveld (1969, 1990, 1995) [83], [126], [127], [128], Richard T. Tổ chức Hiệp hội quốc tế về STCQ tại Đan Mạch vào 1982 đã đánh dấu nghiên cứu STCQ phát triển trở thành khoa học thực sự và có ảnh hưởng quốc tế [31]. Cho đến nay, nhiều trung tâm STCQ được thành lập và phát triển ở khắp các châu lục [83].
Xu hướng tiếp cận nghiên cứu STCQ ở hai khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ cũng có sự khác nhau. Các nghiên cứu STCQ ở Tây Âu là một phần mở rộng của khoa học địa lý truyền thống, tập trung nghiên cứu mối tương tác giữa con người và CQ, nhấn mạnh đến khía cạnh nhân văn, yếu tố xã hội của CQ, vai trò chủ thể con người và yếu tố văn hóa CQ, áp dụng cho bảo tồn đất đai và tài nguyên. Trong khi đó, các nghiên cứu STCQ ở Bắc Mỹ nổi lên như là một nhánh của sinh học, tập trung chủ yếu vào tương tác của các hợp phần CQ với ảnh hưởng trực tiếp của sinh vật, giải đáp các vấn 8 đề cơ bản về các mô hình CQ và trao đổi không gian. Do có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau nên lý luận về STCQ hiện nay chưa thực sự đồng nhất [83].
Ngoài hướng nghiên cứu STCQ, nghiên cứu CQ còn được Pháp và một số nước trong liên minh châu Âu xây dựng các dự án CQ độc lập tương tự như những dự án thiết kế đô thị hay dự án quy hoạch xây dựng đô thị. Các dự án CQ không chỉ thu thập những thông tin mà còn dự báo những hình ảnh tương lai của vùng đất.