Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY PHÊ PHÁN VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP THÍ NGHIỆM 1. Khái niệm tư duy Tư duy là quá trình nhận thức lí tính phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính qui luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. [22] Tư duy có những đặc điểm sau Theo các tác giả [8], [24], [29], [32], [15] nhiều nhà tâm lí học đã chỉ ra một số đặc điểm chính của tư duy là: - Tư duy có tính định hướng: thể hiện ở sự xác định nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt mục đích đó. - Tư duy có tính nhân rộng: Thể hiện ở chỗ có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.
- Tư duy có tính chiều sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng. - Tư duy có tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hành động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo. - Tư duy có tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều (Ví dụ: Từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể. - Tư duy có tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn c - Tư duy có tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát. Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại. Phân loại tư duy Có nhiều cách phân loại tư duy tùy thuộc vào việc chọn dấu hiệu phân loại. Trong DHVL, người ta quan tâm đến các loại tư duy chủ yếu sau [29]: - Tư duy kinh nghiệm: Là tư duy chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cảm tính và sử dụng phương pháp "thử và sai" - Tư duy lí luận: Là tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lí luận.
Nhờ có loại tư duy này mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, phát hiện được qui luật vận động của chúng và sử dụng tri thức để cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích của mình. - Tư duy vật lí: Là sự quan sát các hiện tượng vật lí, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lí, dự đoán các hệ quả mới từ các lí thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn. Trong DHVL, việc phát hiện cũng như bồi dưỡng TDST, TDPP của HS được thể hiện rõ nhất trong hoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề. Tiến trình dạy học giải quyết vấn đề được diễn tả bởi sơ đồ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn c Tình huống tiềm ẩn có vấn đề.
Phát hiện vấn đề cần giải quyết Định hướng giải quyết vấn đề Giải quyết vấn đề Giải pháp lí thuyết Giải pháp thực nghiệm - Xác định kiến thức lí thuyết cần - Xác định nội dung cần kiểm tra bằng vận dụng thí nghiệm (Kiểm tra trực tiếp hoặc - Xác định cách thức vận dụng kiến thông qua hệ quả của suy luận lôgic) thức để giải quyết vấn đề Thực hiện các Thực hiện thí phép biến đổi nghiệm: Lập kế toán học, thiết hoạch, lắp ráp, bố lập các mối trí và tiến hành quan hệ cần thí nghiệm, thu thiết. Từ những thập và xử lí các lập luận đó đi dữ liệu thí đến kết quả nghiệm để đi đến kết quả Kết quả Kết quả Kết luận về vấn đề cần giải quyết Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tiến trình dạy học giải quyết vấn đề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www. Tư duy phê phán và tư duy sáng tạo 1. Tư duy phê phán Một trong những vấn đề mang tính sống còn của giáo dục hiện nay là bồi dưỡng tư duy phê phán cho HS.
Có thể tìm thấy rất nhiều cách định nghĩa về tư duy phê phán - Chance 1986: TDPP là năng lực phân tích sự việc, hình thành và sắp xếp các ý tưởng, bảo vệ ý kiến, so sánh, rút ra các kết luận, đánh giá các lập luận, giải quyết vấn đề. [36], - Hence, Fisher & Scriven: “TDPP là kỹ năng tìm hiểu và đánh giá những quan sát, giao tiếp, thông tin và lý lẽ”.[37]: - Scriven & Paul, 1992: TDPP là quá trình vận dụng trí tuệ tích cực và khéo léo để khái quát, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin thu thập hay phát sinh từ quan sát, kinh nghiệm, nhận xét, lập luận hoặc giao tiếp, như đường dẫn đến sự tin tưởng và hành động.[37] - Center for Critical Thinking, 1996: TDPP là khả năng nghĩ về cách nghĩ của mình theo hướng: 1- kết quả là sự nhận thức được những điểm mạnh và yếu, 2- xây dựng lại tư duy theo dạng hoàn chỉnh hơn. [40] Từ những định nghĩa nói trên có thể tổng hợp lại: Tư duy phê phán - quá trình vận dụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết từ sự quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, vốn kiến thức và lý lẽ nhằm mục đích xác định đúng - sai, tốt - xấu, hay - dở, hợp lý - không hợp lý, nên - không nên, và rút ra quyết định, cách ứng xử cho mình. Tư duy phê phán là một kĩ năng trong đó người suy nghĩ chủ động hướng tới những vấn đề và tình huống phức tạp dựa trên những suy nghĩ, quan điểm và niềm tin của mình.
Người này hoàn toàn có thể khiến chính những suy nghĩ, quan điểm và niềm tin của mình trở nên hợp lí và chính xác hơn bằng cách tự khám phá, đặt ra hàng loạt câu hỏi và tìm ra câu trả lời hay giải pháp cho chính những câu hỏi đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn c Nhìn chung, tư duy phê phán đòi hỏi cả kĩ năng lập luận lẫn kĩ năng giải quyết vấn đề. Trên thực tế 2 kĩ năng này bổ sung và cũng có thể thay thế cho nhau. Tư duy phê phán có thể có các biểu hiện sau: Đi vào tìm hiểu một cách cụ thể, chúng ta sẽ thấy kĩ năng tư duy phê phán bao gồm những kĩ năng, chính xác hơn là nhưng khả năng sau đây: - Quan sát - Luôn luôn tò mò đặt câu hỏi và tìm những nguồn trả lời cần thiết cho mình - Luôn kiểm tra và tự thử thách những điều mình vốn tin, những quan điểm, suy nghĩ, những giả sử mình hay người khác đặt ra xem chúng có đúng sự thật không? - Nhận thức được và nêu ra được vấn đề - Đánh giá độ vững chắc của tư duy và lập luận - Đưa ra những quyết định sáng suốt và tìm ra được những giải pháp, những lời giải vững chắc - Hiểu về tư duy logic và logic nói chung 1.
Tư duy sáng tạo Theo [8], TDST là quá trình biến đổi thông tin thành tri thức hoặc (và) tri thức đã biết thành tri thức mới bằng các hiện tượng tâm lí. Cách phát biểu khái niệm TDST này phản ánh sự liên quan giữa tâm lí học và tin học. Tư duy sáng tạo, quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định, quá trình biến đổi thông tin được coi là tương dương về nghĩa [7] [8]. Tư duy sáng tạo là đỉnh cao nhất của các quá trình hoạt động trí tuệ của con người.
Tư duy sáng tạo được xác định bởi chất lượng hoạt động trí tuệ ở mức độ cao với các phẩm chất quan trọng: Tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính độc đáo và tính nhạy cảm của tư duy. Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ một ý tưởng mới, bắt nguồn từ TDST của mỗi người. TDST thường có các biểu hiện sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn c - Có tư duy độc lập và biết nhận xét, phê phán theo quan điểm riêng không phụ thuộc, gò bó vào những cái cũ, không tư duy theo lối mòn. - Luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra quy luật.
- Có khả năng dự báo và say sưa nung nấu các ý tưởng mới - Luôn tìm ra được giải pháp tối ưu trước một tình huống mới, một vấn đề cần giải quyết. Rèn luyện năng lực TDST cho HS là nhiệm vụ hàng đầu của nền giáo dục và đào tạo nước ta. Mối quan hệ giữa TDPP và TDST TDPP và TDST như là một cặp phạm trù không thể tách rời nhau. Khi cố gắng giải quyết một vấn đề chúng ta cần xem xét vấn đề đó dưới nhiều góc độ khác nhau, dưới nhiều tình huống khác nhau từ đó đưa ra các cách giải quyết phù hợp.
Sáng tạo không chỉ tìm ra giải pháp mới cho vấn đề đặt ra mà còn là tìm ra giải pháp tốt hơn và vì vậy đòi hỏi có những đánh giá, phê bình. TDST chủ yếu tạo ra các ý tưởng mới, các giải pháp mới, còn TDPP chủ yếu đánh giá các ý tưởng và các giải pháp đó. TDPP tạo điều kiện thuận lợi cho TDST phát triển và ngược lại TDST cũng tạo điều kiện phát triển TDPP. TDPP đòi hỏi phải suy xét, lật đi, lật lại một vấn đề theo nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau để từ đó có cái nhìn đầy đủ về đối tượng cần đánh giá và cũng từ đó tìm ra những điểm hạn chế, những điểm còn thiết sót của vấn đề, từ đó đề xuất ra phương án khắc phục hay tìm ra một phương thức mới nhằm giải quyết các tồn tại đó.
Như vậy, TDPP và TDST bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với nhau. Rèn luyện TDPP và TDST cho người học Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa TDST và TDPP, phát huy chúng một cách hợp lý sẽ giúp người học thành công trong cả quá trình học tập lẫn làm việc và sinh hoạt sau này. Như vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần củng cố, rèn luyện TDPP và TDST cho người học.