Đặt vấn đề đặt ra mục tiêu có một tiếng nói chung về việc lập và trình bày BCTC, IFRS trong thời gian gần đây đã dần Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế là bộ chuẩn được chấp nhận rất rộng rãi khi mà ngày càng có mực do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế ban nhiều giao dịch vượt qua ranh giới của từng quốc hành, quy định về việc lập và trình bày các báo cáo gia riêng biệt. Theo thống kê của IFRS Foundation tài chính (BCTC) của doanh nghiệp (DN), được thừa (2018), hơn một phần ba trong số các giao dịch tài nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Trong chính là giao dịch xuyên biên giới, tức là giữa các bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu nước với nhau. Với mục tiêu cốt lõi của IFRS là giúp rộng và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn các doanh nghiệp trên toàn cầu áp dụng một chuẩn đa quốc gia, thì đòi hỏi sớm hoặc muộn các DN Việt chung chấp nhận được khi lập BCTC.
Nam cũng cần thực hiện việc lập BCTC của mình 2. Thực trạng vận dụng IFRS theo IFRS, để nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư. Do đó, việc đào tạo các kế toán viên có trình độ Những thuận lợi khi áp dụng IFRS chuyên môn và hiểu biết về IFRS là yêu cầu tất yếu Thông qua áp dụng IFRS, nền kinh tế Việt Nam của các trường đại học và cao đẳng hiện nay. Trong nói chung và DN Việt Nam nói riêng sẽ được hưởng tiến trình đó, các trường đại học và cao đẳng của lợi từ hội nhập kinh tế.
Kinh nghiệm triển khai IFRS Việt Nam sẽ đối mặt với không ít khó khăn và thách ở nhiều quốc gia cho thấy, sau khi áp dụng IFRS mức thức, để có thể xây dựng và phát triển đội ngũ nhân độ tin cậy về thông tin của các công ty niêm yết, lực cho quá trình đào tạo, khắc phục được các trở cũng như thị trường tài chính nói chung, thị trường ngại phát sinh trong việc tiếp cận IFRS cho sinh viên, chứng khoán nói riêng ở các nước đó được giới đầu cũng như chuẩn hóa trình độ người học phù hợp với tư nước ngoài đánh giá cao. Điều này không chỉ giúp nhu cầu mới. Rõ ràng, nâng cao chất lượng đào tạo các thị trường này cải thiện khả năng thu hút dòng kế toán, kiểm toán để tạo ra nguồn nhân lực chất vốn đầu tư nước ngoài, mà còn giúp cho nền kinh tế lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập đang là một đòi và các DN giảm đáng kể chi phí phát hành cổ phiếu, hỏi cấp bách của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn trái phiếu để huy động vốn, do định mức tín nhiệm hiện nay. Bên cạnh đó những thay đổi cập nhật mới nhất 2.
Thực trạng vận dụng IFRS và lộ trình áp của hệ thống các chuẩn mực qua quá trình vận dụng dụng IFRS tại Việt Nam thực tế lâu dài của một số nước trên thế giới. Từ đó, Hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế hay những bài học kinh nghiệm đã được rút ra cho các còn gọi là chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS ra đời trên DN Việt Nam trong quá trình vận dụng IFRS vào cơ sở kế thừa các CMKT quốc tế trước đây. IFRS thực tiễn. Bên cạnh tiếp thu được nguồn vốn ngoại được hình thành từ việc nhóm các nước phát triển từ bên ngoài, các DN Việt Nam cũng đồng thời tiếp thu được các kiến thức, kỹ thuật kế toán mới từ các Kinh tïë Chêu AÁ - Thaái Bònh Dûúng (Thaáng 5/ 2022) 13 NGHIÊN CỨU RESEARCH Asia - Pacific Economic Review chuyên gia đến từ công ty mẹ, nơi mà việc trang bị giới, quỹ tiền tệ quốc tế được Chính phủ bảo lãnh.
các kiến thức về chuẩn mực kế toán IFRS đã trở Một số công ty niêm yết là công ty mẹ quy mô lớn có thành bắt buộc. hoạt động huy động vốn dưới hình thức phát hành Ngoài ra, chính sự dễ dàng và thuận lợi trong việc trái phiếu ra thị trường quốc tế hoặc có dự định di chuyển lao động trong khối cộng đồng chung niêm yết trên thị trường quốc tế. Một số DN có vốn ASEAN gần đây cũng tạo điều kiện cho lực lượng lao đầu tư nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia động quốc tế được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên không thuộc đối tượng có rủi ro về thuế. nghiệp du nhập vào Việt Nam, tham gia ngày càng Giai đoạn 2 từ năm 2025 đến năm 2030, trên cơ đông đảo vào lực lượng lao động nói chung.
Thêm sở đánh giá kết quả của việc áp dụng thí điểm, Bộ vào đó, Việt Nam ngày càng có nhiều sự hiện diện Tài chính có thể mở rộng quy mô đối tượng áp dụng của các tổ chức hiệp hội kế toán chuyên nghiệp… IFRS theo hướng cho phép các DN có đủ điều kiện Điều này tạo sự thuận lợi trong cập nhật kiến thức, được lựa chọn áp dụng VAS hoặc IFRS (nhưng không cũng như hệ thống bằng cấp, chứng chỉ chuyên bắt buộc) khi lập và trình bày BCTC, cụ thể các DN nghiệp quốc tế và từ đó tạo nên động lực để nguồn được lựa chọn áp dụng VAS hoặc IFRS để lập BCTC nhân lực kế toán Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu hợp nhất, các đối tượng áp dụng lập BCTC hợp nhất trong nghề nghiệp trong tương lai. theo IFRS sẽ được miễn lập BCTC hợp nhất theo VAS Những khó khăn khi vận dụng IFRS gồm: Một số công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước đăng ký lựa chọn áp dụng IFRS. Các công ty Thiếu hụt về nguồn nhân lực: Rào cản ngôn ngữ niêm yết và các công ty đại chúng là công ty mẹ đăng là tiếng Anh và các thuật ngữ khó hiểu mang tính ký lựa chọn áp dụng IFRS. Các DN khác có nhu cầu học thuật, sự đa dạng của từ vựng chuyên ngành kế áp dụng IFRS.
Các DN được lựa chọn áp dụng VAS toán gây ra không ít khó khăn cho người dạy lẫn hoặc IFRS để lập BCTC riêng; Các DN có vốn đầu tư người học. Ngoài ra, với đặc thù ngành kế toán đòi nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia không hỏi người dạy, chuyển tải nội dung các CMKT cần thuộc đối tượng có rủi ro về thuế. phải có trải nghiệm kiến thức thực tế. Hiện nay chỉ có một vài trường đại học lớn trong cả nước đã Giai đoạn 3, từ sau năm 2030: Trong giai đoạn mạnh dạn triển khai dạy các khóa về kế toán quốc tế này Bộ Tài chính căn cứ vào tình hình thực tế quy theo nội dung của IFRS… định cụ thể đối tượng bắt buộc và đối tượng tự nguyện lập BCTC theo IFRS, cụ thể: Đối tượng bắt Thiếu hụt các tổ chức định chế uy tín trong việc buộc áp dụng IFRS, đối tượng bắt buộc phải lập đánh giá giá trị các loại tài sản: Điều này khiến cho BCTC riêng và BCTC hợp nhất theo IFRS gồm: tất cả việc vận dụng các khái niệm về giá trị hợp lý sẽ gặp các DN Nhà nước có quy mô vốn điều lệ từ 5.000 tỉ nhiều khó khăn trong khâu định giá theo giá trị thị đồng trở lên, tất cả các công ty niêm yết, tất cả các trường.
công ty đại chúng thuộc lĩnh vực tài chính, ngân Sự khác biệt về luật cũng như góc nhìn về một số hàng, bảo hiểm, tất cả các công ty đại chúng thuộc tài sản đặc thù: Tình trạng phổ biến nhất là những lĩnh vực khác có quy mô vốn điều lệ từ 3.000 tỉ đồng cách nhìn, quan điểm khác nhau về nguồn lực đất trở lên, đối tượng tự nguyện áp dụng IFRS. Tất cả đai. Đến nay, Việt Nam mới chỉ công nhận quyền sử các DN không thuộc đối tượng bắt buộc áp dụng dụng đất, chưa công nhận đất đai như là một loại tài IFRS và không thuộc đối tượng rủi ro về thuế nếu có sản, nên việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc nhu cầu đều được áp dụng IFRS thay cho VAS để lập tế ít nhiều còn khoảng cách BCTC riêng và BCTC hợp nhất. Lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam Việt Nam đã và đang có những bước đi tích cực 3.
Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực kế toán để tiến tới áp dụng rộng rãi IFRS. Đối tượng áp dụng trong kỷ nguyên IFRS IFRS có thể thay đổi phù hợp với lộ trình công bố 3. Kỹ năng nghề nghiệp kế toán trong kỷ nhưng về cơ bản có thể bao gồm tất cả các DN có nguyên IFRS nhu cầu và đủ khả năng áp dụng. Năng lực chuyên môn: Đòi hỏi kế toán viên Giai đoạn đầu tiên từ năm 2022 đến 2025, Bộ tài chuyên nghiệp phải có kiến thức về CMKT quốc tế, chính sẽ lựa chọn một số DN lớn có đủ nguồn lực để chuẩn mực BCTC quốc tế…, thường xuyên trau dồi áp dụng thí điểm IFRS, các DN không được lựa chọn kinh nghiệm và cập nhật những thay đổi.
áp dụng thí điểm vẫn áp dụng theo CMKT Việt Nam. Kỹ năng kế toán số, quản trị phần mềm kế toán, Dự kiến việc áp dụng thí điểm hướng vào các đối biết tiếp nhận thông tin, khai thác dữ liệu hiệu quả, tượng: Một số công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà biết bảo mật thông tin… nhằm giữ vững đạo đức nước quy mô lớn có các khoản vay từ Ngân hàng thế nghề nghiệp, góp phần phát triển kỹ năng nghiệp vụ, 14 Kinh tïë Chêu AÁ - Thaái Bònh Dûúng (Thaáng 5/ 2022) kinh nghiệm cũng như tầm nhìn của các kế toán nhau, kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề viên. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc trên cơ sở tôn trọng đạo đức nghề nghiệp. Ngoài ra, tế, việc trau dồi, phát triển khả năng ngoại ngữ là cần tăng cường giảng dạy ngoại ngữ và ngoại ngữ một trong những yếu tố quan trọng mà người làm chuyên ngành để sinh viên có thể chuyển đổi sang kế toán cần hướng đến.
Có vốn ngoại ngữ tốt sẽ giúp bằng cấp quốc tế dễ dàng hơn. nhân viên kế toán hiểu chi tiết hơn về hệ thống pháp Về phía người học luật, các quy tắc, chuẩn mực quốc tế, giúp quá trình Kỷ nguyên công nghệ số và nhu cầu hội nhập làm việc, trao đổi nội dung, làm báo cáo… diễn ra quốc tế mang lại rất nhiều cơ hội và thách thức, với thuận lợi hơn. cá nhân người làm việc trong lĩnh vực kế toán ‐ kiểm 3. Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực toán phải nâng cao khả năng công nghệ và tầm nhìn, kế toán trong kỷ nguyên IFRS đồng thời là năng lực chuyên môn và đạo đức nghề Phía cơ sở đào tạo nghiệp.