phần mở đầu, kết luận - kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và số liệu. Chƣơng 3: Xây dựng mô hình lồng ghép BĐKH vào chƣơng trình GDMT tại trƣờng THCS. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1.1 Một số thuật ngữ và khái niệm cơ bản - Biến đổi khí hậu (BĐKH): Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu. - Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính: + Hiệu ứng nhà kính là khả năng giữ nhiệt của bầu khí quyển ngay phía trên bề mặt Trái Đất, do các khí nhà kính có khả năng giữ lại nhiệt tỏa ra từ bề mặt Trái Đất và mây và phát lƣợng nhiệt đã giữ lại đó vào bầu khí quyển[23]. + Khí nhà kính: Mặc dù chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong khí quyển nhƣng các khí nhà kính lại có ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng hấp thụ bức xạ nhiệt của khí quyển. VD: H2O; CO2; CH4; N2O; CFC… Theo nguồn gốc phát sinh, khí nhà kính chia làm 2 loại: * Khí nhà kính tự nhiên chủ yếu vốn có trong khí quyển (H2O; CO2; CH4; N2O) với nồng độ ổn định.
Nhƣng sau thời kì tiền công nghiệp (1750) đến nay nồng độ các chất này đã tăng lên. VD: Kể từ thế kỉ XIX cho đến nay, lƣợng khí CO2 trong khí quyển đã tăng lên 1,35 lần. Năm 2005, nồng độ CO2 là 379 ppm; Nồng độ CH4 trong khí quyển hiện nay (Thế kỉ 21) cao gấp khoảng 2,48 lần thời kì trƣớc Cách mạng Công nghiệp [24]. * Khí nhà kính do con ngƣời tạo ra là các hợp chất Halocacbon [22] nhƣ CFC, HFC, HCFC.
Trong đó, CFC đƣợc con ngƣời sản xuất từ năm 1930 và sử dụng rộng rãi trong kĩ thuật làm lạnh, các bình xịt mĩ phẩm…cho đến năm 1989, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất này bị phát hiện làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến tầng Ozon thì các nƣớc mới bắt đầu cam kết kiểm soát và giảm sử dụng CFC. Từ năm 1995, nồng độ CFC trong khí quyển có chiều hƣớng tăng chậm lại hoặc có xu hƣớng giảm. Tuy nhiên, thời gian tồn tại của các hợp chất này có thể lên tới 1700 năm trong bầu khí quyển và có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp hàng nghìn lần CO2 nên nó sẽ còn gây ra tác động kéo dài trong nhiều năm[22]. - Tính dễ bị tổn thương do BĐKH: là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên hay xã hội) có thể bị tổn thƣơng do BĐKH hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH.
Phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song tính dễ bị tổn thƣơng (vulnerability) của một đối tƣợng có thể tạm coi nhƣ hàm của ba yếu tố chính: độ phơi lộ (exposure); độ nhạy (sensitive) và khả năng thích ứng (adaptive capacity) [21]. Dựa trên những nghiên cứu và thực tiễn cho thấy, đối tƣợng trẻ em là một trong những đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng nhất với BĐKH và những thiên tai bất thƣờng do BĐKH[15]. - Ứng phó với BĐKH: Bao gồm hai mảng: thích ứng và giảm nhẹ + Thích ứng với biến đổi khí hậu: là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con ngƣời để phù hợp với tác động hiện tại hoặc tƣơng lai của BĐKH, do đó làm giảm tác hại hoặc tận dụng những mặt có lợi[10]. + Giảm nhẹ biến đổi khí hậu : là các hoạt động để giảm bớt mức độ, cƣờng độ hoặc không phát thải khí nhà kính[13], tăng bể hấp thụ khí nhà kính.
Giảm nhẹ có thể có nghĩa là sử dụng công nghệ mới và những năng lƣợng tái tạo, làm các trang thiết bị cũ hoạt động hiệu quả hơn, hoặc thay đổi phƣơng thức quản lý và thói quen của ngƣời tiêu dùng đề hạn chế phát thải khí nhà kính (UNEP). - Kịch bản biến đổi khí hậu: là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tƣơng lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nƣớc biển dâng. Lƣu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đƣa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động[3]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Lồng ghép biến đổi khí hậu: là việc đƣa những nội dung về BĐKH, giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH vào quá trình hoạch định các chiến lƣợc, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, nhằm bảo đảm phát triển bền vững [14].2 Biểu hiện và tác động của BĐKH - Biểu hiện của BĐKH: BĐKH hiện nay đƣợc nhận biết thông qua sự gia tăng của nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất, dẫn đến hiện tƣợng nóng lên toàn cầu.
Cụ thể, trong thời kỳ 1906- 2005, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,74oC[24]. +Trên Thế giới: Những năm đầu của thế kỉ XXI, nhiệt độ Trái đất tiếp tục tăng. Nhƣ năm 2003, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 0,46 oC so với trung bình thời kì 1971-2000 và là năm ấm thứ 3 kể từ sau năm 1861. Theo một phân tích tổng hợp của Tổ chức Khí tƣợng Thế giới (WMO), nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu trong năm 2015 đã phá vỡ tất cả các kỷ lục trƣớc đó với biên độ là 0,76 ± 0,1°C so với trung bình thời kì 1961-1990.
Lần đầu tiên đƣợc ghi nhận, nhiệt độ vào năm 2015 cao hơn khoảng 1°C so với thời kỳ tiền công nghiệp[33]. Cũng theo thông cáo này, 15 trong 16 năm nóng kỷ lục đã thuộc thế kỷ này, với năm 2015 là ấm hơn so với nhiệt độ kỷ lục của năm 2014. Có thể thấy, xu hƣớng dài hạn đó là trong các năm 2011-2015 là khoảng thời gian 5 năm nóng nhất trong lịch sử. Biểu hiện của BĐKH còn đƣợc thể hiện qua những biến động của lƣợng mƣa tuy xu thế không rõ rệt nhƣ nhiệt độ.
Trong thế kỉ XX, lƣợng mƣa trên lục địa ở Bắc bán cầu tăng 5-10% và giảm ở một số nơi[10]. Tƣơng ứng với sự tăng nhiệt độ toàn cầu là băng tan, sự dâng mực nƣớc biển, thiên tai và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan, bất thƣờng, bão lũ, hạn hán và giá rét tăng lên… Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn đến mực nƣớc biển dâng cao. Nếu khoảng thời gian 1962 - 2003, mực nƣớc biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm. Tổng cộng, trong 100 năm qua, mực nƣớc biển đã tăng 0,31m.
Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lớp băng ở Bắc cực, Nam cực, băng ở Greenland và một số núi băng ở Trung Quốc đang dần bị thu hẹp. Chính sự tan chảy của các lớp băng cùng với sự nóng lên của các đại dƣơng toàn cầu (tới độ sâu 3.000m) đã góp phần làm cho mực nƣớc biển dâng cao[25]. Nhiệt độ kỷ lục trên cả mặt đất và bề mặt đại dƣơng vào năm 2015 tăng lên đã kéo theo nhiều sự kiện thời tiết khắc nghiệt nhƣ các đợt nóng, lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng. Theo dự báo của IPCC đƣa ra trong bản báo cáo thứ 5: trong tƣơng lai gần (2016- 2025) nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng 0,3 - 0,7oC và đến cuối thế kỉ XXI, nhiệt độ trung bình sẽ tăng khoảng 0,3 - 4,8oC, mực nƣớc biển toàn cầu sẽ tăng từ 0,43m - 0,73m[25].
+ Tại Việt Nam: Sự biến đổi của tần số fron lạnh qua Bắc Bộ (RLF), của tần số xoáy thuận nhiệt đới, của nhiệt độ trung bình, nhiệt độ cực trị hay của lƣợng mƣa [10] đều cho thấy dấu hiệu của sự BĐKH trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo số liệu thời kì 1961 – 2000, biến đổi về tần số FRL trong thập kỉ 1961- 1970 là 268 đợt. Sang tới thập kỉ 1971-1980 và 1981-1990 đều là 288 đợt. Tuy nhiên, các thập kỉ gần đây, số fron lạnh qua Bắc Bộ chỉ còn 249, thấp hơn cả thập kỉ 1961-1970.
Có thể thấy xu thế giảm của tần số FRL bắt đầu từ những năm 1971[10]. Số xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) năm có ảnh hƣởng tới Việt Nam trong những năm 1961-1970 là 74, thấp hơn so với hai thập kỉ tiếp theo (76-77 cơn). Xu thế giảm đi của XTNĐ Việt Nam bắt đầu từ thập kỉ 1972-1980 và rõ rệt hơn trong những năm 1991-2000[10]. Biến đổi của nhiệt độ có nhiều biểu hiện rõ ràng hơn.
Ở Hà Nội, nhiệt độ trung bình năm trong 7 thập kỉ (từ 1931-2000) có xu thế tăng lên tƣơng đối rõ với phƣơng trình xu thế dạng: Yx = 23,4 +0,0056x. Tƣơng tự nhƣ ở Hà Nội đó là Tân Sơn Nhất với phƣơng trình xu thế của nhiệt độ trung bình năm trong 7 thập kỉ là Yx = 26,8 + 0,010x. Ở Đà nẵng, xu thế này không thể hiện rõ lắm (3 thập kỉ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ 1971-2000 nhiệt độ không đổi và thấp hơn thời kì 1961-1970) tuy nhiên phƣơng trình xu thế vẫn là Yx = 23,4 +0,0038x[10]. Về lƣợng mƣa, theo số liệu theo dõi từ những năm 1911-2000, có thể thấy trên từng địa phƣơng (Hà Nội, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất) xu thế biến đổi lƣợng mƣa là không nhất quán: Có giai đoạn tăng lên, có giai đoạn giảm xuống.
Trên cả nƣớc, xu thế biến đổi lƣợng mƣa cũng rất khác nhau giữa các khu vực. - Tác động của BĐKH: Tác động của BĐKH thể hiện ở những điều chủ yếu sau đây: mực nƣớc biển dâng dẫn đến xâm nhập mặn và mất diện tích sinh sống, canh tác; băng hà lùi về hai cực; những đợt nắng nóng kéo dài hoặc đợt nóng hoặc lạnh kỉ lục, bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến thiên nhiên bất thƣờng; suy thoái kinh tế; xung đột và chiến tranh; mất đi sự đa dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái.