Chương I – Những vấn đề lý luận về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chương II – Những quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự Việt Nam. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương III – Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và một số giải pháp. Những nội dung mà luận văn đề cập là rất hẹp và phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, thời gian hoàn thành luận văn lại có hạn, vì vậy luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu của các nhà giáo, các nhà nghiên cứu và bạn bè đồng nghiệp để hoàn chỉnh luận văn này. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 1.1- Khái quát về trách nhiệm dân sự bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng và mối quan hệ giữa lỗi với trách nhiệm dân sự bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong đời sống dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hiện tượng thường xuyên diễn ra và mang tính phổ biến, nảy sinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhằm kịp thời điều chỉnh cho loại quan hệ này, vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sớm được ghi nhận trong các quy định pháp luật dân sự.
Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý. Ở mức độ khái quát, về bản chất trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng cụ thể của trách nhiệm dân sự, được hiểu là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế, áp dụng với người có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phát sinh trên cơ sở hợp đồng mà trên cơ sở do pháp luật quy định. Trong thực tế đời sống xã hội, một quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ phát sinh khi một chủ thể này bằng hành vi của chính mình gây thiệt hại đối với một chủ thể khác mà trước đó không có quan hệ hợp đồng với nhau (hoặc trước đó có tồn tại một quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không liên quan gì đến việc thực hiện hợp đồng đó).
“Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là bồi thường thiệt hại gây nên không phải do vi phạm nghĩa vụ đã thoả 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuận trong hợp đồng mà là do vi phạm pháp luật”. Ở đây chính sự kiện gây thiệt hại là cơ sở tạo nên mối quan hệ pháp luật giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại và nghĩa vụ bồi thường của chủ thể mang trách nhiệm. Trong trường hợp này, việc bồi thường được đặt ra theo yêu cầu của bên chủ thể bị thiệt hại trên cơ sở những quy định chung của pháp luật và một chế tài dân sự lúc này sẽ mang ý nghĩa là sự bổ sung nghĩa vụ mà chủ thể gây thiệt hại phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật của mình. Chính vì vậy, trong quan hệ xã hội nói chung việc bồi thường thiệt hại đó đã dần dần thay thế cho những phong tục, tập quán lạc hậu như: ăn miếng trả miếng, trả thù cá nhân… Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chủ yếu phát sinh do ngẫu nhiên, bất chợt, không được dự liệu trước.
Và như vậy, mục đích cơ bản của trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nhằm khắc phục hậu quả, đền bù tổn thất do hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra (bao gồm cả tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần), khôi phục lại quyền và lợi ích đã bị xâm phạm của người bị thiệt hại, bảo vệ, giữ gìn sự phát triển bình thường của các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản từ đó nhằm giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ Nhà nước, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những hậu quả bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt đối với các hành vi phạm tội có động cơ vụ lợi. Vì vậy, trong pháp luật dân sự không thể coi giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp chế tài hình sự, lại càng không thể xem nhẹ coi nó như một hình phạt phụ được. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vừa có tính cưỡng chế nhà nước vừa có tính tự do thoả thuận giữa các bên.
Cũng như các trách nhiệm pháp lý khác, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng với chủ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể có hành vi vi phạm, có năng lực trách nhiệm pháp lý và có lỗi. Trong đó lỗi là căn cứ có ý nghĩa quan trọng. Thực tế cho thấy có những thiệt hại xảy ra là do sự tác động của cả chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại. Bởi vậy, khi nói đến lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng cần xem xét đến hai khía cạnh: lỗi của chủ thể gây thiệt hại và lỗi của chủ thể bị thiệt hại.
Trước hết là trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại. Người bị thiệt hại là tác nhân gây ra thiệt hại cho chính bản thân mình, tự mình thực hiện những hành vi xâm phạm đến những quyền về nhân thân, quyền về tài sản mà mình được hưởng một cách hợp pháp. Vì vậy, họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những việc làm của mình, về sự thiếu trách nhiệm của chính bản thân. Điều đó là hợp lý và vấn đề trách nhiệm không được đặt ra trong trường hợp này.
Chính vì thế khi nêu vấn đề lỗi với vấn đề trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chúng tôi muốn tập trung tìm hiểu mối liên hệ giữa vấn đề lỗi và vấn đề trách nhiệm dưới phương diện pháp lý. Trong khoa học pháp lý, vấn đề trách nhiệm là một trong những vấn đề phức tạp bậc nhất của lý luận về nhà nước và pháp luật. Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ đặc biệt giữa nhà nước, thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở những chế tài pháp luật. Trách nhiệm pháp lý là sự thực hiện chế tài được xác định trong quy phạm pháp luật đối với người có hành vi vi phạm.
Việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi vi phạm phải gánh chịu những tước đoạt tài sản hay những hạn chế về nhân thân là biểu thị thái độ phản ứng của nhà nước trước những hành vi trái pháp luật. Với ý nghĩa đó, trách nhiệm pháp lý gắn liền với vi phạm pháp luật và là hậu quả tất yếu của 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc không thực hiện hoặc không thực hiện đúng các quy tắc xử sự mà pháp luật đã quy định. Quan niệm trên được hình thành từ rất sớm và chịu ảnh hưởng bởi Luật hình sự. Nhà nước La Mã cổ đại đã từng áp dụng những hình phạt nặng nề đối với những vi phạm pháp luật như trộm cắp, giết người.
Ngay cả con nợ cũng đã từng bị bỏ tù khi không có khả năng thanh toán… Cùng với sự phát triển của lịch sử, nhiều quan hệ xã hội mới hình thành đã dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành luật như Luật hành chính, Luật lao động, Luật thương mại… Trách nhiệm pháp lý được kế thừa, áp dụng trong các ngành luật đó với những nét đặc thù. Mặc dù vậy, với chức năng chủ yếu là bảo vệ các quan hệ xã hội, trách nhiệm pháp lý luôn được coi là “ trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra”. Ngày nay, pháp luật đóng vai trò ngày càng tăng trong việc tác động đến quan hệ kinh tế xã hội. Pháp luật không chỉ dừng lại ở chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội mà còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ xã hội theo những quy luật khách quan.
Vì vậy pháp luật không chỉ giới hạn trong khuôn khổ củng cố và hoàn thiện các chế tài nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đã xảy ra mà còn có những tác động tích cực đến việc hình thành ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong xã hội. Thực hiện vai trò này, pháp luật quy định trách nhiệm thực hiện một nhiệm vụ, một hành vi nào đó. Chẳng hạn Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân phải trung thành với Tổ quốc” (Điều 76), “Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân” (Điều 77)… Từ góc độ này, ở mức độ khái quát, trách nhiệm là nghĩa vụ. Pháp luật đòi hỏi các chủ thể phải thực hiện những công việc nhất định phù hợp với lợi ích của xã hội và bảo đảm trật tự quản lý kinh tế xã hội nói 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đó là trách nhiệm xã hội tích cực cần có ở mỗi cá nhân, bởi vì: “ cá nhân là chủ thể của xã hội, có vai trò thúc đẩy xã hội phát triển” Như vậy, trong khoa học pháp lý hiện đại khái niệm trách nhiệm có thể được hiểu với hai ý nghĩa: Trách nhiệm là nghĩa vụ pháp lý thể hiện trách nhiệm xã hội tích cực trong việc thực hiện những yêu cầu của pháp luật và thứ hai là trách nhiệm do vi phạm pháp luật, do không thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Mặc dù vậy thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” thường được sử dụng phổ biến với ý nghĩa là trách nhiệm do vi phạm pháp luật.