Tuyển Tập Những Lời Phật Dạy Trích Giảng Từ Kinh Điển Pali

Khám phá những lời phát dạy bình an sâu sắc từ Binson. Tìm hiểu cách áp dụng vào cuộc sống hàng ngày để đạt được sự an lạc, hạnh phúc và bình yên nội tại.

Chuyên ngành

Phật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách Biên Soạn Và Dịch Thuật

2016

535
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Mục lục chi tiết

Lời nói đầu

Tỳ-khưu Bodhi

Bảng các chữ viết tắt

Giới thiệu tổng quát

1. CHƯƠNG 1: KIẾP NHÂN SINH

1.1. Dẫn nhập

1.2. Già, bệnh, chết

1.2.1. Già và chết

1.2.2. Ví dụ hòn núi

1.2.3. Thiên sứ

1.3. Những khổ não của cuộc sống thiếu suy tư

1.3.1. Mũi tên của thọ khổ

1.3.2. Những nỗi thăng trầm của cuộc đời

1.3.3. Lo rầu về sự thay đổi

1.4. Thế giới quay cuồng

1.4.1. Nguyên nhân của xung đột

1.4.2. Tại sao chúng sinh sống trong thù hận?

1.4.3. Chuỗi duyên đen tối

1.4.4. Gốc rễ của tàn bạo và đàn áp

1.5. Không thể biết được khởi thủy

1.5.1. Cỏ và củi

1.5.2. Các hòn đất

1.5.3. Quả núi

1.5.4. Sông Hằng

1.5.5. Chó bị cột

2. CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐEM ÁNH SÁNG

2.1. Dẫn nhập

2.2. Một người

2.3. Bồ-tát nhập thai và đản sinh

2.4. Tầm cầu giác ngộ

2.4.1. Tầm cầu trạng thái tối thượng của an bình siêu việt

2.4.2. Chứng đạt tam minh

2.4.3. Thành phố cỗ xưa

2.5. Quyết định truyền giảng

2.6. Bài pháp đầu tiên

3. CHƯƠNG 3: TIẾP CẬN GIÁO PHÁP

3.1. Dẫn nhập

3.2. Không phải là giáo pháp mật truyền

3.3. Không giáo điều hay lòng tin mù quáng

3.4. Có thể thấy nguồn gốc và diệt tận phiền não

3.5. Hãy tìm hiểu bậc đạo sư

3.6. Những bước tiến đến thực chứng chân lý

4. CHƯƠNG 4: HẠNH PHÚC THẤY ĐƯỢC TRONG KIẾP SỐNG NÀY

4.1. Dẫn nhập

4.2. Giữ gìn Pháp trong xã hội

4.2.1. Pháp vương

4.2.2. Lễ bái sáu phương

4.3. Gia đình

4.3.1. Cha mẹ và con cái

4.3.1.1. Tôn kính cha mẹ
4.3.1.2. Trả ơn cha mẹ

4.4. Phúc lợi hiện tại, phúc lợi tương lai

4.5. Chánh mạng

4.5.1. Tránh tà mạng

4.5.2. Sử dụng tài sản đúng

4.5.3. Hạnh phúc của gia chủ

4.6. Người đàn bà trong gia đình

5. CHƯƠNG 5: CON ĐƯỜNG ĐỂ TÁI SINH TỐT ĐẸP

5.1. Dẫn nhập

5.2. Luật nghiệp quả

5.2.1. Bốn loại nghiệp

5.2.2. Chúng sinh đi về đâu sau khi chết

5.2.3. Nghiệp và quả

5.3. Phước báu: Chìa khóa của vận mạng tốt

5.3.1. Các hành động tạo phước

5.3.2. Ba phước nghiệp sự

5.3.3. Những loại tín tâm tối thượng

5.4. Hành thiền

5.4.1. Phát triển tâm Từ

5.4.2. Bốn phạm trú

5.4.3. Tuệ quán là thù thắng

6. CHƯƠNG 6: QUAN KIẾN THÂM SÂU VỀ THẾ GIỚI

6.1. Dẫn nhập

6.2. Bốn pháp vi diệu

6.3. Vị ngọt, nguy hại và xuất ly

6.3.1. Trước khi giác ngộ

6.3.2. Tầm cầu xuất ly

6.3.3. Nếu không có vị ngọt

6.4. Hiểu biết hoàn toàn về các dục

6.5. Các nguy hiểm của dục lạc

6.5.1. Đoạn tận tất cả các tục sự

6.5.2. Nhiệt não của dục lạc

6.6. Cuộc sống ngắn ngủi, phù du

6.7. Bốn thuyết giáo Chánh pháp

6.8. Nguy hiểm của kiến chấp

6.8.1. Tác hại của tà kiến

6.8.2. Người mù và con voi

6.8.3. Bị xâm chiếm bởi hai loại tà kiến

6.9. Từ cõi trời đến địa ngục

6.10. Hiểm họa của cõi Ta-bà

6.10.1. Suối nước mắt

6.10.2. Suối máu

7. CHƯƠNG 7: CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT

7.1. Dẫn nhập

7.2. Tại sao ta phải vào con đường?

7.2.1. Mũi tên của sinh, già và chết

7.2.2. Cốt lõi của đời sống tâm linh

7.2.3. Dục tham dần dần tan biến

7.3. Phân tích Bát Chi Thánh Đạo

7.4. Thiện bạn hữu

7.5. Huân tập từng bước

7.6. Các giai đoạn cao hơn của huân tập, với ví dụ

8. CHƯƠNG 8: TU TẬP TÂM

8.1. Dẫn nhập

8.2. Tâm là chìa khóa

8.3. Phát triển đôi kỹ năng

8.3.1. An chỉ và minh quán

8.3.2. Bốn cách đưa đến quả A-la-hán

8.3.3. Bốn hạng người

8.4. Các trở ngại của sự phát triển tâm

8.5. Sự tinh luyện tâm

8.6. Loại trừ các ý tưởng xao lãng

8.7. Bốn pháp thiết lập niệm

8.8. Quán niệm hơi thở

8.9. Thành tựu tinh thông

9. CHƯƠNG 9: CHIẾU SÁNG TUỆ QUANG

9.1. Dẫn nhập

9.2. Các hình ảnh của trí tuệ

9.2.1. Trí tuệ như ánh sáng

9.2.2. Trí tuệ như dao bén

9.3. Các điều kiện để có trí tuệ

9.4. Bài giảng về chánh kiến

9.5. Lĩnh vực của trí tuệ

9.5.1. Bằng đường năm uẩn

9.5.1.1. Bốn chuyển của uẩn
9.5.1.2. Vấn đáp về năm uẩn
9.5.1.3. Tướng của vô ngã
9.5.1.4. Vô thường, khổ, vô ngã
9.5.1.5. Bọt nước

9.5.2. Bằng đường sáu xứ

9.5.2.1. Liễu tri
9.5.2.2. Lửa cháy
9.5.2.3. Thích ứng với Niết-bàn
9.5.2.4. Trống không là thế giới
9.5.2.5. Thức cũng là vô ngã

9.5.3. Bằng đường các giới

9.5.3.1. Mười tám giới
9.5.3.2. Bốn đại
9.5.3.3. Sáu giới

9.5.4. Bằng đường duyên sinh

9.5.4.1. Duyên sinh là gì?
9.5.4.2. Pháp bền vững
9.5.4.3. Bốn mươi bốn căn bản của trí
9.5.4.4. Bài giảng về Trung đạo
9.5.4.5. Thức an trú
9.5.4.6. Tập khởi và đoạn diệt của thế giới

9.5.5. Bằng đường của Tứ Thánh Đế

9.5.5.1. Thánh đế của chư Phật
9.5.5.2. Bốn pháp như thật
9.5.5.3. Nắm lá trong tay
9.5.5.4. Vì không thấu hiểu
9.5.5.5. Vực thẳm
9.5.5.6. Đoạn tận khổ đau
9.5.5.7. Đoạn tận các lậu hoặc

9.6. Mục tiêu của trí tuệ

9.6.1. Niết-bàn là gì?

9.6.2. Ba mươi ba đồng nghĩa với Niết-bàn

9.6.3. Có xứ ấy

9.6.4. Vô sinh

9.6.5. Hai giới niết-bàn

9.6.6. Lửa và đại dương

10. CHƯƠNG 10: CÁC CẤP ĐỘ THỰC CHỨNG

10.1. Dẫn nhập

10.2. Ruộng phước cho thế gian

10.2.1. Tám hạng người xứng đáng được cúng dường

10.2.2. Khác biệt các căn

10.2.3. Pháp khéo giảng

10.2.4. Giáo Pháp toàn vẹn

10.2.5. Bảy hạng thánh nhân

10.3. Bậc Bất Lai

10.3.1. Đoạn trừ năm hạ phần kiết sử

10.3.2. Bốn hạng người

10.3.3. Sáu minh phần pháp

10.3.4. Năm hạng Bất Lai

10.4. Đấng Như Lai

10.4.1. Đức Phật và vị A-la-hán

10.4.2. Vì hạnh phúc cho nhiều người

10.4.3. Lời tán dương của ngài Xá-lợi-phất

10.4.4. Mười lực và bốn pháp vô sở úy

10.4.5. Tỏa ra ánh sáng lớn

10.4.6. Vì lợi ích cho chúng sinh

10.4.7. Sư tử

10.4.8. Vì sao gọi Ngài là Như Lai

Đối chiếu thuật ngữ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Lời Phật Dạy Về An Lạc Từ Kinh Điển Pali

Giáo lý của Đức Phật bắt nguồn từ sự thấu hiểu sâu sắc về khổ đau và con đường giải thoát. Điểm khác biệt là tính trực tiếp và thực tế trong việc giải quyết khổ đau. Đức Phật không chỉ đưa ra những giải pháp tạm thời mà còn chỉ ra cội rễ của vấn đề và phương pháp giải thoát tận gốc. Giáo pháp bắt đầu bằng việc phát triển chánh niệm, yoniso manasikāra, chú tâm đến những sự thật đơn giản như quy luật sinh, lão, bệnh, tử. Nhận thức này không chỉ khuyến khích việc xuất gia để đạt Niết bàn mà còn hướng dẫn chúng ta sống một cuộc đời đạo đức. Đức Phật nhấn mạnh rằng mọi hành động đều có hậu quả. Sống theo đạo đức củng cố phúc lợi cho bản thân ngay bây giờ và trong tương lai. Khi quyết định thay đổi lối sống, ta cần được thuyết phục về tính hiệu lực của nguyên tắc này. Thay đổi từ vô ích sang có ích nội tâm, cần hiểu rõ rằng mọi hành động đều tạo ra hậu quả trong đời này và đời sau.

1.1. Thực Tế Khắc Nghiệt Quy Luật Sinh Lão Bệnh Tử

Sự thật hiển nhiên và không thể tránh khỏi là ai cũng phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử. Ngay cả những bậc cao quý như vua chúa, đạo sĩ hay A-la-hán cũng không ngoại lệ. Thông điệp đạo đức tiềm ẩn ở đây là sự khuyến khích từ bỏ lối sống bất thiện, hướng đến lối sống thiện lành. Nhận thức về già và chết giúp chúng ta từ bỏ sự say đắm trong dục lạc, tài sản, quyền lực. Nhận thức này giúp ta xét lại mục tiêu trong đời sống, hướng đến những giá trị bền vững hơn.

1.2. Đạo Đức và Nghiệp Quả Cội Nguồn Của An Lạc và Khổ Đau

Nếu sinh hoạt theo những hướng dẫn đạo đức sẽ giúp củng cố phúc lợi cho bản thân ngay bây giờ và trong tương lai lâu dài. Lời dạy này dựa theo nguyên tắc quan trọng là bất cứ hành động nào cũng dẫn đến hậu quả. Nếu phải thay đổi lối sống quen thuộc, ta phải được thuyết phục về hiệu lực của nguyên tắc này. Đặc biệt là nếu phải thay đổi từ một lối sống vô ích sang một lối sống có ích lợi nội tâm, ta phải hiểu rõ rằng mọi hành động đều tạo hậu quả cho ta, trong đời này và trong đời sau. Các hành động thiện và bất thiện đều có hậu quả vượt qua đời này: Các hành động bất thiện tạo tái sinh trong cảnh khổ và mang theo khổ đau trong tương lai, các hành động thiện sẽ cho tái sinh vào cõi lành và sự an vui hạnh phúc trong tương lai. Với sự quan tâm về sự an vui lâu dài của mình, chúng ta phải cực kỳ cẩn thận tránh các hành động bất thiện đưa đến hoạn khổ và nỗ lực thực hiện các hành động thiện để tạo ra an vui trong đời này và đời sau.

II. Thách Thức Những Khổ Não Trong Cuộc Sống Thiếu Suy Tư

Các loại khổ não này khác với loại liên hệ với già và chết. Già và chết gắn liền với sự hiện hữu của thân thể và không thể tránh được, xảy ra cho phàm nhân và bậc A-la-hán giải thoát. Trái lại, điểm khác biệt giữa phàm nhân, gọi là “vô văn phàm phu” (assutavā puthujjana) và các vị đệ tử hiền trí của Đức Phật, gọi là “đa văn thánh đệ tử” (sutavā ariyasāvaka). Điểm khác biệt đầu tiên là phản ứng đối với các cảm thọ khổ. Phàm nhân và thánh đệ tử đều có cảm thọ khổ của thân thể, nhưng có phản ứng khác nhau. Phàm phu phản ứng với thọ khổ với lòng oán ghét và vì thế, bên cạnh các cảm giác đau đớn trên thân thể, họ còn có thêm cảm giác tâm lý đau đớn. Vị thánh đệ tử, khi có đau đớn thể xác, vị ấy kiên nhẫn chịu đựng, không lo âu, oán trách, hay sầu khổ. Thông qua thiền định, ta phát triển sự tỉnh thức và hiểu biết rõ ràng cần thiết để chịu đựng cơn đau vật lý một cách can đảm. Qua minh quán, ta phát triển trí tuệ để vượt qua sự lo sợ các cảm thọ khổ.

2.1. Phản Ứng Với Khổ Đau Phàm Nhân và Thánh Đệ Tử

Người ta thường nghĩ rằng đau đớn thể xác và tâm hồn thường kết nối với nhau, nhưng Đức Phật phân biệt rạch ròi giữa hai hiện tượng đó. Ngài dạy rằng sự hiện hữu của một thân xác là sẽ đưa đến cảm giác đau đớn về thân không thể tránh được, nhưng sự đau đớn đó không bắt buộc khởi động phản ứng tâm lý sầu khổ, sợ hãi, oán trách và buồn rầu mà ta thường quen phản ứng như thế. Qua tu tập tâm, chúng ta phát triển sự tỉnh thức và hiểu biết rõ ràng cần thiết để chịu đựng cơn đau vật lý một cách can đảm, nhẫn nại và bình thản. Qua minh quán, ta phát triển trí tuệ để vượt qua sự lo sợ các cảm thọ khổ và nhu cầu tìm kiếm khuây khỏa qua các say sưa trong dục lạc.

2.2. Thăng Trầm Cuộc Đời Bám Chấp Hay Buông Xả

Trong khi phàm nhân phấn khởi bởi thành công trong việc đạt được lợi, danh vọng, khen ngợi và niềm vui và họ thất vọng khi đối diện với những điều ngược lại, bậc thánh đệ tử vẫn bình thản. Bằng cách áp dụng sự hiểu biết về tính vô thường cho cả điều kiện thuận lợi và không thuận lợi, các thánh đệ tử cao quý an trú trong xả ly, không dính mắc theo điều kiện thuận lợi, không thối lui bởi các điều kiện bất lợi. Một đệ tử như thế từ bỏ cả thích và không thích, buồn rầu và đau khổ và cuối cùng có được phước lành cao nhất của tất cả: Hoàn toàn tự do khỏi khổ đau.

III. Phương Pháp Chánh Niệm Giúp Thấy Rõ Thế Giới Quay Cuồng

Tình trạng rối loạn không chỉ ở cấp độ cá nhân, mà còn trong tương quan xã hội. Xung đột, bạo lực luôn tồn tại. Đức Phật nhấn mạnh vào tâm từ, tâm bi, sự vô hại trong hành động, dịu dàng trong lời nói và giải quyết hòa bình mọi tranh chấp. Mâu thuẫn giữa cư sĩ phát sinh từ chấp thủ vào thú vui nhục dục, xung đột giữa nhà tu khổ hạnh phát sinh từ chấp thủ quan kiến. Nguồn gốc của sân hận và thù nghịch là từ ganh tị và keo kiệt, đi từ những vặn vẹo cơ bản ảnh hưởng đến cách tiếp nhận thông tin. Ba gốc rễ bất thiện – tham, sân, si – có ảnh hưởng khủng khiếp trên xã hội, tạo ra bạo lực, thèm khát quyền lực và gây ra bất công. Thay đổi xã hội cần thay đổi trong đạo đức của mỗi cá nhân.

3.1. Chấp Thủ và Xung Đột Nguồn Gốc của Bất An

Mâu thuẫn giữa những cư sĩ phát sinh từ các chấp thủ vào thú vui nhục dục, xung đột giữa các nhà tu khổ hạnh phát sinh từ chấp thủ quan kiến. Các bạn có thể thấy các kinh văn nói về việc khi các bạn có mâu thuẫn các bạn đến chổ các bậc A-la-hán để các bạn giải quyết các vấn đề. Chúng ta cũng nên làm việc này.

3.2. Tham Sân Si Ba Gốc Rễ Của Bất Thiện

Ba gốc rễ của bất thiện – tham, sân, si – có ảnh hưởng khủng khiếp trên toàn bộ xã hội, tạo ra bạo lực, thèm khát quyền lực và gây ra bất công đau khổ. Tất cả bốn kinh văn này có nghĩa là bất kỳ biến đổi đáng kể và lâu dài của xã hội nào cũng đòi hỏi phải có thay đổi quan trọng trong đạo đức của mỗi cá nhân. Khi nào tham, sân, si vẫn bao trùm như là các yếu tố quyết định trên mọi hành vi, hậu quả tất nhiên luôn luôn nguy hại.

3.3. Tâm Từ Bi và Giải Pháp Hòa Bình Con Đường An Lạc

Đức Phật cũng tìm cách cho mọi người một nơi nương náu, tránh bạo lực và bất công, hành hạ cuộc sống con người một cách tàn nhẫn. Ngài nhấn mạnh vào tâm Từ và tâm Bi vào sự vô hại trong hành động và dịu dàng trong lời nói và vào cách giải quyết hòa bình mọi tranh chấp. Giải quyết tranh cãi cần được thực hiện với sự yêu thương. Đôi khi chúng ta cần nhẫn nhịn nhưng đôi khi chúng ta cần có những sự kiên quyết và mạnh mẽ để cho người khác hiểu.

IV. Ứng Dụng Lời Phật Dạy Về Vòng Luân Hồi Không Dứt

Kiếp sống chỉ là một giai đoạn trong loạt tái sinh vô thủy. Chuỗi tái sinh này gọi là saṃsāra, có ý nghĩa lang thang không định hướng. Dù cố gắng tìm điểm khởi đầu, ta không bao giờ tìm thấy. Quá trình này không chỉ vô thủy mà còn vô chung. Khi vô minh và tham ái còn, quá trình này sẽ tiếp tục vô hạn định. Đối với Đức Phật, đây là khủng hoảng trung tâm của kiếp nhân sinh: Chúng ta bị trói buộc vào chuỗi tái sinh do vô minh và tham ái.

4.1. Vô Thủy Vô Chung Bản Chất của Luân Hồi

Quá trình tái sinh không chỉ vô thủy mà còn là vô chung. Khi vô minh và tham ái vẫn còn nguyên vẹn, quá trình này sẽ tiếp tục vô hạn định trong tương lai, không có kết thúc. Đối với Đức Phật và Phật giáo Sơ kỳ, đây là ở trên tất cả mọi khủng hoảng ngay trung tâm của kiếp nhân sinh: Chúng ta bị trói buộc vào một chuỗi các tái sinh và nguyên nhân của ràng buộc đó không có gì khác hơn là do vô minh và tham ái. Lang thang vô định hướng trong cõi ta-bà xảy ra trong bối cảnh vũ trụ có kích thước rộng lớn không thể tưởng tượng được.

4.2. Vô Minh và Tham Ái Gốc Rễ Của Sự Ràng Buộc

Khi chúng sinh lang thang từ đời này sang đời khác, bao phủ trong bóng tối, họ càng lúc càng rơi vào vực thẳm của sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng vì bị thúc đẩy lao vào cuộc tìm kiếm không ngừng để thỏa lòng, họ ít khi dừng lại đủ lâu để suy tư cẩn thận về sự hiện hữu của chính mình. Như Kinh văn I,4(5) chỉ rõ, họ chỉ loanh quanh “năm uẩn” như con chó bị cột vào trụ bằng một sợi dây và chỉ chạy loanh quanh cột trụ đó. Do vô minh bao phủ, họ không nhận ra được bản chất xấu xa của tình trạng này và do đó, họ không thể nhìn thấy các dấu vết của con đường đưa đến giải thoát.

V. Giải Pháp Con Đường Giải Thoát Khỏi Luân Hồi Khổ Đau

Lời dạy của Đức Phật đề cập đến việc thoát khỏi ràng buộc trong vòng luân hồi. Khoảng thời gian để hệ thống thế giới tiến hóa, bành trướng, co rút, tan rã, gọi là một kappa (kiếp). Khi chúng sinh lang thang từ đời này sang đời khác, họ rơi vào vực thẳm của sinh, lão, bệnh, tử. Để chỉ ra con đường giải thoát, Đức Phật đã xuất hiện giữa chúng ta. Đa số chúng sinh sống đắm mình trong việc thụ hưởng các dục lạc. Những người khác, do nhu cầu quyền lực, địa vị và tự kiêu, đang sống với nỗ lực vô ích để thỏa mãn các khát khao không bao giờ dập tắt.

5.1. Sự Xuất Hiện Của Đức Phật Ánh Sáng Giải Thoát

Một số người khác ước muốn tìm một con đường giải thoát, nhưng không biết tìm thấy ở đâu. Để chỉ ra một con đường như thế, Đức Phật đã xuất hiện giữa chúng ta. Sau khi ngộ ra, Đức Phật đã chia sẻ cách để giải thoát. Hãy phát triển lòng từ và trí tuệ để biết cách giải thoát cho bản thân và người khác.

5.2. Con Đường Chánh Pháp Từ Bỏ Vô Minh Hướng Đến Niết Bàn

Để vượt lên chính bản thân và các bạn có thể thoát khỏi sự khổ đau, con đường đó bắt đầu với chính bản thân chúng ta. Chú trọng vào thiền định, giảm thiểu ham muốn. Chúng ta học cách bỏ qua những gì không tốt cho bản thân mình, để bản thân ở một tần số tốt. Hãy nhớ những lời Phật dạy và hãy truyền lại cho các thế hệ khác.

VI. Kết Luận An Lạc Trong Tầm Tay Nhờ Lời Phật Dạy Pali

Lời Phật dạy trong Kinh điển Pali là kho tàng vô giá cho những ai tìm kiếm an lạcgiải thoát. Bằng cách thấu hiểu những khổ đau của kiếp người, thực hành chánh niệmthiền định, sống theo đạo đức và buông xả những chấp trước, chúng ta có thể tìm thấy sự bình an và hạnh phúc đích thực ngay trong cuộc sống này. Hãy áp dụng những lời dạy này vào cuộc sống hàng ngày để có một cuộc đời ý nghĩa và an lạc.

6.1. An Lạc Hiện Tại Sống Chánh Niệm Trong Từng Khoảnh Khắc

Sống với chánh niệm trong từng khoảnh khắc là cách đưa con người đến sự an lạc nhanh nhất. Hãy áp dụng những lời Phật dạy vào cuộc sống hàng ngày để có một cuộc đời ý nghĩa và an lạc.

6.2. Tương Lai An Vui Tích Phước và Tu Tập Tâm Từ

Để có một tương lai an vui hãy thực hành thiền định, giảm thiểu ham muốn. Chúng ta học cách bỏ qua những gì không tốt cho bản thân mình, để bản thân ở một tần số tốt. Hãy nhớ những lời Phật dạy và hãy truyền lại cho các thế hệ khác.

29/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I là một khảo sát - 27 - về tình trạng con người, vì đó là bối cảnh cho sự xuất hiện của một vị Phật trong thế giới. Có lẽ đây là cách sống của con người mà vị Bồ-tát – vị Phật tương lai – quan sát khi Ngài đang trú ngụ trong cung trời Đâu-suất (Tusita) nhìn về địa cầu, chờ dịp thích hợp để đi xuống cho lần tái sinh cuối cùng. Chúng ta thấy một thế giới trong đó con người đang quay cuồng một cách bất lực, qua tuổi già và cái chết; trong đó họ đang quay xung quanh các trường hợp bị áp bức bởi nỗi đau thể xác, bị quăng xuống bởi sự thất bại và bất hạnh, lo lắng và sợ hãi bởi những đổi thay và biến hoại. Đây là một thế giới trong đó mọi người khao khát sống trong sự hài hòa, nhưng các cảm xúc không chế ngự của họ liên tục thúc đẩy họ, đối kháng với nhận thức đúng đắn của họ, trói buộc họ vào các cuộc xung đột leo thang thành bạo lực và tàn phá.

Cuối cùng, nhìn tổng quan, đây là một thế giới mà chúng sinh bị đưa đẩy, bởi vô minh và ái dục, từ đời này sang đời sau, lang thang đui mù qua các chu kỳ tái sinh được gọi là cõi Ta-bà (Saṃsāra). Chương II trình bày câu chuyện Đức Phật đi vào thế giới này. Ngài đến như là “một người” xuất hiện vì lòng bi mẫn đối với thế giới. Sự xuất hiện của Ngài trên thế giới là một “biểu hiện của ánh sáng tuyệt vời (đại quang)”.

Chúng ta theo dõi câu chuyện thụ thai và đản sinh, rồi Ngài từ bỏ gia đình và ra đi tầm cầu giác ngộ, thực chứng Pháp và về quyết định truyền giảng Pháp sau khi giác ngộ. Chương II kết thúc với bài giảng đầu tiên của Ngài cho năm vị tu sĩ, đó là các môn đệ đầu tiên, tại vườn Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại (Bārāṇasi). Chương III phác họa các tính năng đặc biệt của giáo lý Đức Phật và thái độ mà một vị đệ tử cần phải có để tiếp cận sự giảng dạy. Các kinh văn nói với chúng ta rằng Pháp không phải là một giáo lý bí mật hay bí truyền, nhưng là một giáo lý “tỏa sáng khi dạy một cách công khai”.

Giáo Pháp không đòi hỏi niềm tin mù quáng vào các kinh điển độc tôn, trong những mặc khải thiêng liêng, hoặc những giáo điều không thể sai lầm, nhưng mời gọi mọi người đến thẩm định và thực nghiệm, để - 28 - thấy được giá trị những lời dạy của Đức Phật. Các bài giảng có liên quan với sự phát sinh và chấm dứt đau khổ, có thể quan sát thấy được trong kinh nghiệm của chính mình. Giáo Pháp không đặt ra để xem ngay cả Đức Phật như là một vị có thẩm quyền bất khả xâm phạm, nhưng mời gọi chúng ta đến thẩm tra để xem Ngài có xứng đáng để chúng ta hoàn toàn có lòng tin và tín nhiệm nơi Ngài. Cuối cùng, Giáo Pháp cung cấp cho chúng ta một quy trình từng bước, theo đó chúng ta có thể thử nghiệm các lời giảng dạy và do làm được như thế, chúng ta thực chứng được chân lý tối hậu cho chính mình.

Chương IV trình bày các kinh văn liên hệ đến phúc lợi đầu tiên của ba loại phúc lợi mà giáo huấn của Đức Phật nhằm mang lại. Đó là “phúc lợi và hạnh phúc được nhìn thấy ngay trong cuộc sống hiện tại này” (diṭṭhadhamma-hitasukha), hạnh phúc đến từ việc làm theo các chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ gia đình, sinh kế và các hoạt động cộng đồng. Mặc dù Phật giáo Sơ kỳ thường được mô tả như là một trường phái xuất ly, căn bản để hướng đến mục tiêu siêu việt, các bộ kinh Nikāya cho thấy Đức Phật là một vị thầy từ bi và thực tế, có ý định khuyến khích một trật tự xã hội, trong đó, mọi người có thể sống với nhau một cách hòa bình và hài hòa, phù hợp với các nền tảng đạo đức. Khía cạnh này của Phật giáo Sơ kỳ thể hiện rõ ràng trong lời dạy của Đức Phật về các nhiệm vụ của con cái với cha mẹ, về nghĩa vụ hỗ tương của vợ chồng, về chánh nghiệp, về nhiệm vụ của người lãnh đạo đối với dân chúng và về các nguyên tắc hài hòa và tương kính trong cộng đồng.

Loại thứ hai của lợi ích mà giáo huấn của Đức Phật hướng đến là chủ đề của chương V, gọi là “phúc lợi và hạnh phúc liên quan đến cuộc sống trong tương lai” (samparāyika-hita- sukha). Đó là hạnh phúc đạt được bằng cách lập một sự tái sinh tốt đẹp và thành công trong các đời sống tương lai, qua sự tích lũy phước báu. Thuật ngữ “phước báu” hay “công đức” (puñña) có liên hệ đến thiện nghiệp (kusala kamma), được - 29 - xem như là khả năng để phát sinh các kết quả thuận lợi trong vòng luân hồi. Tôi bắt đầu chương này với các kinh văn về nghiệp và tái sinh.

Điều này đưa chúng ta đến các kinh văn tổng quát về ý tưởng công đức, tiếp theo là các kinh văn về ba loại phước nghiệp căn bản thường thấy trong các bài kinh: Bố thí (dāna), trì giới (sīla) và hành thiền (bhāvanā). Vì hành thiền có vai trò quan trọng trong loại phúc lợi thứ ba sẽ được đề cập trong các chương sau, loại thiền được nhấn mạnh ở đây, làm cơ sở cho phước báu – loại thiền tạo kết quả hiệp thế dồi dào nhất, đó là thiền quán bốn “phạm trú” (brahmavihāra) hay bốn “tâm vô lượng” (appamaññāyo), đặc biệt là phát triển tâm Từ (mettā bhāvanā). Chương VI là chương chuyển tiếp cho các chương theo sau. Trong khi chứng minh rằng việc thực hành các lời giảng dạy sẽ đưa đến hạnh phúc và may mắn trong giới hạn của cuộc sống thế tục, để hướng chúng ta vượt qua những giới hạn đó, Đức Phật cho thấy sự nguy hiểm và bấp bênh trong mọi sự hiện hữu có điều kiện.

Ngài chỉ ra cho thấy những khiếm khuyết trong dục lạc, những thiếu sót của các thành đạt vật chất, sự tất yếu của cái chết và sự vô thường của tất cả các cõi giới hữu vi. Để khơi dậy ước nguyện hạnh phúc tối hậu trong các môn đệ của Ngài – Niết-bàn, Đức Phật một lần nữa và một lần nữa nhấn mạnh các hiểm nguy của cõi ta-bà. Vì vậy chương này tiến đến đỉnh điểm với hai kinh văn đầy ấn tượng sâu sắc về mối ràng buộc bi thảm vào vòng sinh tử luân hồi. Bốn chương tiếp theo được dành cho loại lợi ích thứ ba về giáo huấn của Đức Phật là nhằm mang lại hạnh phúc tột cùng (paramattha), đó là chứng đạt Niết-bàn (Nibbāna).

Chương VII đưa ra một cái nhìn tổng quát của con đường dẫn đến sự giải thoát, phân tích định nghĩa các yếu tố của Bát Chi Thánh Đạo và qua diễn tả sinh động về công phu tu tập của một vị xuất gia. Đây là một bài kinh dài mô tả sự tu tập, từ khi vị tu sĩ bắt đầu đời sống xuất gia cho đến khi vị ấy đạt được mục đích tối hậu, quả vị A-la-hán. - 30 - Chương VIII tập trung việc thuần hóa tâm, điểm nhấn quan trọng trong sự tu tập. Ở đây, tôi giới thiệu các kinh văn thảo luận về các trở ngại (triền cái) trong sự phát triển tâm, các cách thức để khắc phục những trở ngại này, các phương pháp khác nhau của hành thiền và trạng thái đạt được khi những trở ngại được khắc phục và hành giả kiểm soát được tâm.

Trong chương này, tôi giới thiệu sự phân biệt giữa thiền an chỉ (sama-tha) và thiền minh quán (vipassanā), giữa pháp đưa đến định tâm (samadhi) và pháp đưa đến trí tuệ (paññā). Tuy nhiên, trong chương này, tôi chỉ đưa vào các kinh văn đề cập đến những phương pháp sử dụng để phát sinh tuệ quán, nhưng không đề cập đến nội dung của tuệ quán. Chương IX có tựa đề "Tỏa sáng tuệ quang", trình bày về nội dung của tuệ quán. Trong Phật giáo Sơ kỳ, thật ra hầu như là chung cho các bộ phái Phật giáo, tuệ quán là công cụ chính yếu đưa đến giải thoát.

Vì thế, trong chương này, tôi tập trung vào các bài giảng của Đức Phật về các chủ đề then chốt để phát triển trí tuệ như: Chánh kiến, năm uẩn, sáu căn, mười tám giới, lý duyên khởi và Tứ Thánh Đế. Chương này kết thúc với các kinh văn về Niết-bàn, mục tiêu tối hậu của trí tuệ. Hành giả không thể nào đột ngột đạt được mục tiêu cuối cùng. Vị ấy phải đi qua một loạt các giai đoạn biến đổi từ một phàm nhân thành một vị A-la-hán, bậc thánh nhân hoàn toàn giải thoát.

Như thế, chương X với tựa đề “Các cấp độ thực chứng” bao gồm các kinh văn về những giai đoạn chính trên con đường đi đến giác ngộ. Đầu tiên, tôi trình bày một loạt các giai đoạn như là một chuỗi tiến bộ; sau đó, tôi quay trở lại điểm xuất phát và thảo luận về ba mốc quan trọng trong tiến trình này: Dự lưu, Bất lai và A-la-hán. Tôi kết thúc với các bài kinh về Đức Phật – bậc tối thượng trong các vị A-la-hán và về danh xưng Như Lai (Tathāgata) mà Ngài thường dùng khi nói về mình. NGUỒN GỐC CỦA CÁC BỘ KINH NIKĀYA - 31 - Như đã trình bày ở trên, các kinh văn tôi đã trích ra để bố trí vào cấu trúc của cuốn sách là những lựa chọn từ các bộ kinh Nikāya – các bộ sưu tập kinh điển Pāli.

Tôi xin có vài dòng để giải thích nguồn gốc và bản chất của các nguồn kinh văn này. Đức Phật không viết lại những lời dạy của mình, giáo lý của Ngài cũng không được các môn đệ ghi lại. Trong thời Đức Phật còn tại thế, văn hóa Ấn Độ chủ yếu không dựa vào chữ viết. Đức Phật du hành từ thành phố này đến thành phố kia trong vùng đồng bằng sông Hằng, hướng dẫn các vị tăng ni, thuyết giảng cho các cư sĩ đến nghe Ngài, trả lời các câu hỏi của người tò mò muốn hiểu biết và tham gia vào các cuộc thảo luận với mọi người trong mọi tầng lớp xã hội.

Các biên bản về giáo lý của Ngài mà chúng ta có được ngày nay không đến từ ngòi bút của Ngài, hoặc từ sự ghi chép của những người đã được nghe Ngài thuyết giảng, nhưng từ các hội nghị kết tập kinh điển do các vị tu sĩ tổ chức sau khi Ngài bát-niết-bàn (parinibbāna) – nghĩa là sau khi Ngài nhập Niết-bàn – để gìn giữ giáo pháp của Ngài. Không chắc chắn những gì kết tập trong các hội nghị đó ghi lại đúng nguyên văn các lời giảng của Đức Phật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ