CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VỀ NÓI MỈA 1. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ NÓI MỈA Trong số nhiều công cụ được sử dụng trong ngôn ngữ, mỉa mai là một trong những cách thức phổ biến và thú vị trong việc diễn tả ý nghĩa hai mặt. -8- Theo Muecke, “ Mỉa mai có thể là một vũ khí tấn công bằng cách chế nhạo, hoặc là một cái màn che đậy, hoặc là một công cụ ( device) xoay chuyển sự việc theo chiều đảo ngược lại; Mỉa mai có thể nằm trong lời nói và trong thái độ, trong những biến cố và tình huống; hoặc chúng ta có thể nói rằng trên thế gian và chắc chắn cả trên thiên đàng, không có điều gì mà không mỉa mai được. 3 ) Từ trước đến nay, người ta đã và đang nổ lực để đưa ra những khái niệm, những định nghĩa chính xác hoặc đúng đắn về mỉa mai.
Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng đó không phải là việc dễ dàng. “ Phải chăng có một điều thật mỉa mai là mặc dù các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học, học giả, v v. đều cố gắng hiểu và sử dụng mỉa mai, nhưng không ai có thể định nghĩa được mỉa mai là gì?” ( Littmann & Mey, 1991 ). Booth còn cho rằng “.
nếu người ta cứ nổ lực giải thích khái niệm mỉa mai cho rõ ràng thì người ta đã vi phạm giá trị và tinh thần của nó .” Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung vào một số tiếp cận thực tiễn và căn bản đối với mỉa mai. Và sau đây là tóm tắt 3 quan niệm được nhiều sự quan tâm : quan niệm của H. Wilson ( 1981), và của E. Chúng tôi cũng trình bày những quan niệm này theo thứ tự thời gian để thấy được một phần tiến trình nghiên cứu về lối nói mỉa trong vòng chỉ hai thập kỷ.1 NÓI MỈA LÀ MỘT LOẠI HÀM Ý HỘI THOẠI THAY THẾ (SUBSTITUTIVE CONVERSATIONAL IMPLICATURE) Theo Grice, để sáng tạo và lĩnh hội những phát ngôn, làm cho giao tiếp hội thọai được thành công, phải có một cơ chế chi phối việc sáng tạo và lĩnh hội những phát ngôn ấy.
Hơn nữa, một điều cơ bản ai cũng thừa nhận là khi chúng ta nói chuyện với nhau chúng ta cố gắng hợp tác với nhau để xây dựng những cuộc đối thoại có ý nghĩa. Khái niệm này được xem là Nguyên tắc hợp tác (Cooperative Principle). Những phác thảo đầu tiên của nguyên tắc hợp tác được Grice nêu ra trong các bài giảng của mình ở trường đại học Havard năm 1967. Đến năm 1975, nó -9- được xuất bản trong tác phẩm “ Lôgic và hội thoại” ( Logic and Conversation).
Nguyên tắc này được ông phát biểu như sau : Hãy làm cho phần đóng góp của bạn đáp ứng được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với yêu cầu hoặc phương hướng của cuộc hội thoại mà bạn tham gia. (“ Make your contribution such as it is required, at the stage at which it occurs, by the accepted purpose or direction of the talk exchange in which you are engaged.”) Nguyên tắc này được ông chia thành bốn phương châm như sau: a .Phương châm về lượng : - Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có lượng thông tin đúng như mục đích cuộc thoại đòi hỏi. - Đừng đóng góp lượng thông tin nhiều hơn yêu cầu mà cuộc thoại đòi hỏi b. Phương châm về chất : - Đừng nói những gì mà bạn biết là sai.
- Đừng nói những gì mà bạn thiếu bằng chứng. Phương châm về quan hệ : Hãy nói những điều liên quan đến cuộc thoại, tránh nói lạc đề. Phương châm về cách thức : - Tránh nói tối nghĩa - Tránh nói mập mờ - Hãy nói ngắn gọn , rành mạch Khi người ta không tuân thủ các phương châm hội thoại thì có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân sau : - Người nói vô ý, vụng về, thiếu văn hoá giao tiếp. - Người nói phải ưu tiên cho một phương châm hôi thoại hoặc một yêu cầu khác quan trọng hơn.
- Người nói cố tình muốn gây sự chú ý, để người nghe hiểu câu nói theo một hàm ý nào đó. Như vậy, mặc dù có những lý do để người ta không cộng tác với cuộc thoại – chẳng hạn một người đang bị chất vấn về thông tin mà họ không muốn đưa ra; hoặc họ không thích người mà họ đang nói chuyện,. Tuy nhiên, trong đa số các - 10 - cuộc thoại thì cả người nói và người nghe đều muốn cộng tác với nhau. Người nói cố gắng đóng góp những phát ngôn có ý nghĩa, hữu ích để làm cho cuộc thoại tiến triển; và đối với người nghe, chúng ta cũng thừa nhận rằng họ cũng muốn đóng góp cho cuộc thoại.
Điều này được biểu hiện qua 2 yếu tố: (1) Trong cuộc thoại, người ta thường bỏ qua; thậm chí không để ý tới các lỗi ngôn từ (speech); miễn là người nói cố gắng diễn đạt ý nghĩa rõ ràng thì người nghe cũng thường tập trung vào việc hiểu ý nghĩa của phát ngôn. Thay vì cho rằng người đối thoại với chúng ta nói láo hoặc tính tình không bình thường (crazy) thì chúng ta vẫn nhận thấy rằng họ đang cố gắng diễn đạt một ý nghĩa nào đó , rằng họ đang làm cho người khác hiểu ý họ, và chúng ta có thể trải qua quá trình suy ý để hiểu được ý nghĩa của phát ngôn đó là gì. Theo Grice, khi một người phạm lỗi ( infringe) về nguyên tắc và phương châm hội thoại do vô ý , vụng về, sẽ làm cho người nghe hiểu sai mình; còn khi cố tình vi phạm ( flout ) chúng tức là cố ý khai thác chúng để tạo ra các hàm ngôn. Như vậy, một trong những trọng tâm nghiên cứu của Grice là cố gắng tìm sự giải thích cho những ý nghĩa nằm ngòai phát ngôn.
Trong nhiều tình huống, nghĩa đen của phát ngôn không nhất thiết liên hệ với ý nghĩa mà người nói thực sự muốn nói. Sự không nhất quán như vậy giữa ý của người nói và ý nghĩa của phát ngôn nằm trong những trường hợp như mỉa mai ( Irony), ẩn dụ( metaphor ). Và Grice được xem là đã quan tâm đến khía cạnh mà trước đó chưa được các nhà ngôn ngữ khác nói đến : Trước hết lý thuyết của ông nói đến sự liên hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh không có ngôn ngữ ( non-linguistic context ), tức là sự liên quan đến tình huống của phát ngôn. Một công trình khác của ông là xem xét đến sự hợp tác của ngôn ngữ và những hành động ngoài ngôn ngữ.
Như vậy quan niệm của ông giải thích hiện tượng mà ý nghĩa thực tiễn của ngữ cảnh bao phủ lên ( overlayed) ý nghĩa của ngôn từ ( nghĩa đen). - 11 - Việc tuân theo 4 phương châm cơ bản nói trên sẽ tạo nên hiệu quả và sự hợp tác giao tiếp. Tuy nhiên, như trên đã nói, các phương châm có thể bị vi phạm để tạo ra các hàm ngôn. Ví dụ : ông A hỏi :” Peter ở đâu “? Bà B đáp : “Bình cà phê đang bốc hơi ở trên bếp “.
Theo nghĩa đen từ ngữ thì câu của bà B không phải là câu trả lời cho câu hỏi của ông A. Mới thọat nghe câu trả lời của bà B như vậy là vi phạm phương châm về quan hệ cũng như vi phạm phương châm về lượng. Nhưng giả như bà B có tinh thần cộng tác thì ông A coi đó là điều bà B thực sự muốn nói. Lúc đó ông A sẽ cố gắng tìm ra mối quan hệ logic giữa sự vắng mặt của Peter và cái bình cà phê đang bốc hơi và sẽ kết luận rằng Peter mới ra khỏi phòng chốc lát và sẽ trở lại ngay.
Do đó, phát ngôn thế nào đi chăng nữa thì vẫn được hiểu dựa trên tinh thần cộng tác, cho dù các phương châm đã bị vi phạm nặng nề. Grice gọi lọai suy luận nầy là “hàm ngôn hội thọai” ( conversational implicature ). Và theo ông, ý niệm về “hàm ngôn hội thọai” cũng có thể được dùng để hiểu những lời phát ra có tính chất mỉa mai ( Ironical). Ông xếp lọai nói mỉa ( irony ), ẩn dụ ( metaphor ), nói giảm ( litotes ) và nói phóng đại ( hyberbole ) vào nhóm vi phạm về phương châm về chất ( trích dẫn từ Lapp 1992, trang 70 và các trang kế tiếp ).
Sau này, chúng ta sẽ thấy rằng chẳng những sự vi phạm phương châm về chất phát sinh hiệu quả mỉa mai, mà việc vi phạm các phương châm khác cũng vậy; tuy nhiên sự vi phạm phuơng châm về chất có thể chính xác là liên hệ rõ ràng nhất đến lối nói mỉa. Sự đóng góp của Grice về ý niệm nói mỉa là vi phạm phương châm về chất rất quan trọng cho các tíêp cận tiếp theo, tuy vậy lý thuyết của ông cũng đã bị chỉ trích là không đầy đủ vì nhiều lý do. Sau đây xin được nêu lên một vài ví dụ. Trước tiên là chỉ trích của Barbe ( 1995 ).
Theo bà , lý thuyết của ông chỉ diễn tả mỉa mai là kết quả vi phạm một trong những phương châm hội thọai ( conversational maxims) , do đó nó “không tính đến các trường hợp mỉa mai mà câu nói lẫn ý nghĩa người nói kết hợp làm một” ( Barbe 1995, tr. Barbe đưa ra ví dụ: Một khán giả sau khi xem bộ phim phiêu lưu của Pháp có nhan đề “ Sự tra tấn” ( Torture”) đã phát biểu: “ Tôi phải nói rằng cái tra tấn tôi là phải xem bộ phim chán ngắt này.” ( “I have to say that what torture me most in watching this film - 12 - was boredom.”, ví dụ của Barbe 1995, tr 17). Ở đây, người nói cũng nói sự thật, tuy nhiên hàm ý của ông là mỉa mai. Điểm mỉa mai là ở cách dùng từ “tra tấn”.
Hoặc xét ví dụ người mẹ bảo cô con gái:”Con có cảm phiền lắm không nếu mẹ bảo con, làm ơn, lúc nào đó nội trong tháng này xem lại việc dọn dẹp cái phòng của con cho sạch sẽ?” ( “ Would you very much mind if I asked you, please, to perhaps consider cleaning up your room sometime this month?” , ví dụ của Kreuz & Glucksberg 1989, tr. Ở đây, rõ ràng người mẹ đã nói điều bà muốn nói. Tuy nhiên, kiểu phát ngôn quá lịch sự ( over- polite) này làm nó “chạm” đến ý nghĩa mỉa mai. Tuy nhiên , như đã nói trên , hầu hết các tiếp cận sau nầy với mỉa mai vẫn liên hệ ít nhiều với lý thuyết của Grice về hàm ngôn hội thọai.