Hiện tượng Lợi ích nhóm và Tư bản thân hữu qua các Vụ án Kinh tế lớn ở Việt Nam

Bài viết phân tích sâu về lợi ích nhóm và tác động của tham nhũng tại Việt Nam. Tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả và giải pháp ngăn chặn hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Bách Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Tập Lớn

2024

43
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lợi Ích Nhóm và Tham Nhũng ở Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội hiện nay, việc nghiên cứu về hiện tượng lợi ích nhómtư bản thân hữu trong các vụ án kinh tế/tham nhũng là vô cùng cấp bách. Đây không chỉ là một vấn đề nội bộ mà còn ảnh hưởng đến uy tín và phát triển bền vững của đất nước trước cộng đồng quốc tế. Việc đối mặt với thực trạng tham nhũngtư bản thân hữu không chỉ yêu cầu sự chú trọng từ chính phủ mà còn cần sự tham gia tích cực của các tầng lớp trong xã hội. Đối tượng nghiên cứu là các vụ án kinh tế/tham nhũng lớn đã xảy ra ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2022. Nghiên cứu cũng sẽ tập trung vào các cá nhân, tổ chức liên quan và hệ thống các lợi ích nhómtư bản thân hữu trong các vụ án này. Phạm vi của nghiên cứu không chỉ giới hạn ở việc phân tích các vụ án kinh tế/tham nhũng lớn mà còn mở rộng ra việc đánh giá thực trạng, nhận định về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hiện tượng này ở Việt Nam. Đồng thời, phạm vi nghiên cứu cũng sẽ bao gồm việc so sánh với các quốc gia khác để tìm ra những phương pháp hiệu quả nhất trong việc kiểm soát và phòng tránh tham nhũng. Mục tiêu của nghiên cứu là không chỉ đánh giá và phân tích các vụ án kinh tế/tham nhũng lớn ở Việt Nam mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể và hiệu quả nhằm ngăn chặn và giảm thiểu thực trạng tham nhũngtư bản thân hữu. Ngoài ra, nghiên cứu cũng mong muốn góp phần vào việc nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng về vấn đề này. Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả. Đề tài sẽ được chia thành ba chương chính với các tiêu đề cụ thể như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận và khung phân tích về lợi ích nhómtư bản thân hữu. Chương 2: Phân tích các vụ án kinh tế/tham nhũng lớn ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2022. Chương 3: Quan điểm và giải pháp hạn chế, bao gồm những đánh giá về quan điểm và định hướng của Đảng, Tổng Bí thư, kinh nghiệm quốc tế và các nhóm giải pháp hạn chế.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm của Lợi Ích Nhóm ở Việt Nam

Lợi ích nhóm hay còn gọi là nhóm lợi ích (interest group) là “bất kỳ tập thể nào gồm các cá nhân, tổ chức được hình thành dựa trên một hoặc nhiều mối quan tâm chung và nỗ lực gây ảnh hưởng đến chính sách công theo hướng có lợi cho nhóm họ thông qua vận động hành lang (lobbying) các quan chức chính quyền”. Có thể phân loại các nhóm lợi ích theo động cơ hoạt động của họ, cụ thể như: (1) Nhóm lợi ích về kinh tế, bao gồm các công ty và hiệp hội doanh nghiệp.; (2) Nhóm lợi ích về chuyên môn, bao gồm các liên đoàn lao động, hội nông dân.; (3) Nhóm lợi ích về lợi ích cộng đồng, bao gồm các tổ chức hoạt động vì môi trường, bình đẳng giới, quyền con người… Tuỳ bối cảnh mà có các nhóm lợi ích nhất định nổi lên đóng vai trò chính trong việc vận động hành lang. Trong bài viết này, nhóm tác giả chủ yếu tập trung bàn về các nhóm lợi ích về kinh tế.

1.2. Tham Nhũng ở Việt Nam Định Nghĩa Thực Trạng và Hậu Quả

Tình trạng tham ô, lãng phí, tiêu cực, và tham nhũng tại Việt Nam đã kéo dài qua nhiều thập kỷ, lan rộng ở mọi lĩnh vực và cấp độ trong xã hội. Tham nhũng và lãng phí đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội và làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Năm 2020, Việt Nam xếp hạng thứ 104/180 quốc gia với chỉ số CPI là 36 điểm, tuy có cải thiện so với năm 2014 nhưng vẫn thấp hơn điểm trung bình khu vực và nằm trong số các quốc gia tham nhũng nghiêm trọng trên thế giới. Tại Đại hội XIII của Đảng, đã nhấn mạnh về tình trạng tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và phức tạp, ảnh hưởng đến nhân dân và xã hội.

II. Nguyên Nhân và Biểu Hiện của Lợi Ích Nhóm và Tham Nhũng

Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có nguồn gốc từ nhiều nguyên nhân chủ yếu sau đây: Đầu tiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất được thúc đẩy bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những ngành sản xuất mới với quy mô lớn. Điều này đã đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới như các xí nghiệp lớn và sản xuất lớn có ưu thế rõ rệt so với sản xuất nhỏ. Mặt khác, sự phát triển này cũng dẫn đến tăng năng suất lao động và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, mở rộng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy sự phát triển sản xuất lớn và tăng tích tụ tư bản. Thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong 30 năm cuối của thế kỷ XIX, bao gồm sản lượng lớn gang thép với chất lượng cao từ lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát, v.; phát hiện ra hoá chất mới như axít sunphuaric (H2S04), thuốc nhuộm,...

2.1. Các Yếu Tố Kinh Tế và Chính Trị Thúc Đẩy Lợi Ích Nhóm

Sự phát triển của lực lượng sản xuất được thúc đẩy bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những ngành sản xuất mới với quy mô lớn. Điều này đã đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới như các xí nghiệp lớn và sản xuất lớn có ưu thế rõ rệt so với sản xuất nhỏ. Mặt khác, sự phát triển này cũng dẫn đến tăng năng suất lao động và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, mở rộng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy sự phát triển sản xuất lớn và tăng tích tụ tư bản.

2.2. Biểu Hiện Cụ Thể của Tham Nhũng trong Các Lĩnh Vực

Thực tế cho thấy nhu cầu 'lót tay' và 'bôi trơn' để giải quyết các thủ tục hàng ngày, từ xin chứng nhận đến vốn đầu tư, đã trở thành vấn đề phổ biến, được gọi là 'tham nhũng vặt' gây bức xúc trong xã hội. Các vụ án tham nhũng lớn, có sự cấu kết của nhiều doanh nghiệp và cán bộ nhà nước, như vụ án Epco - Minh Phụng, Vinashin, Vinalines, đều là minh chứng cho tình trạng tham nhũng và lãng phí trong hệ thống.

2.3. Ảnh Hưởng của Tư Bản Thân Hữu Đến Nền Kinh Tế Viê t Nam

Sự thành bại của các doanh nghiệp này lệ thuộc phần lớn vào các ưu đãi của quan chức chính phủ. Do vậy, dù một nền kinh tế trên danh nghĩa là kinh tế thị trường, mối quan hệ với giới cầm quyền sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển chứ không phải năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

III. Phân Tích Vụ Án Tham Nhũng Lớn Giai Đoạn 2000 2022

Từ nhiệm kì 8 (tháng 6-1996) đến nay nước ta đã điều tra 1304 vụ án tham nhũng với 3523 bị can.(1) Một số vụ án kinh tế nổi bật của nước ta từ năm 2000-2020 như: + Vụ án Vạn Thịnh Phát:(2) Số lượng bị cáo là 86 còn có 7 người bỏ trốn và số lượng bị hạn lên đến hàng chục nghìn người Mức độ hình phạt 20 năm tù giam, chung thân và tử hình. Thiệt hại kinh tế cho ngân hàng SCB lên đến hơn 64. Nguồn: Báo online tuổi trẻ + Vụ án Việt Á:(3) Số lượng bị cáo là 38. Mức độ hình phạt 20 năm tù giam, chung thân hoặc tử hình. Thiệt hại kinh tế cho nhà nước là hơn 1235 tỉ đồngh.

3.1. Tổng Quan Về Các Vụ Án Tham Nhũng Tiêu Biểu

Từ nhiệm kì 8 (tháng 6-1996) đến nay nước ta đã điều tra 1304 vụ án tham nhũng với 3523 bị can.(1) Một số vụ án kinh tế nổi bật của nước ta từ năm 2000-2020 như: + Vụ án Vạn Thịnh Phát:(2) Số lượng bị cáo là 86 còn có 7 người bỏ trốn và số lượng bị hạn lên đến hàng chục nghìn người Mức độ hình phạt 20 năm tù giam, chung thân và tử hình. Thiệt hại kinh tế cho ngân hàng SCB lên đến hơn 64. Nguồn: Báo online tuổi trẻ + Vụ án Việt Á:(3) Số lượng bị cáo là 38. Mức độ hình phạt 20 năm tù giam, chung thân hoặc tử hình. Thiệt hại kinh tế cho nhà nước là hơn 1235 tỉ đồng.

3.2. Phân Tích Chi Tiết Các Vụ Án Điển Hình Việt Á Vạn Thịnh Phát

Vụ án Vạn Thịnh Phát: + Lợi ích nhóm: Chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát cùng với các cựu chủ tịch của ngân hàng SCB Đinh Văn Thành, Bùi Anh Dũng,Võ Tấn Hoàng Văn và cựu cục trưởng cục thanh tra Đỗ Thị Nhàn để cùng nhau lập khống hồ sơ vay vốn để rút tiền trong SCB - vốn là tiền người dân, khách hàng gửi vào. + Tư bản thân hữu: Nhóm đối tượng thưc hiện hành vi lập khống hồ sơ vay đã tạo mối quan hệ từ đó dễ dàng hối lộ cho cựu cục trưởng cục thanh tra để sự việc không bị nhà nước phát giác. Vụ án Việt Á: + Lợi ích nhóm của vụ án trên giữa tổng giám đốc công ty Việt Á ông Phan Quốc Việt thông đồng với bộ trưởng bộ y tế ông Nguyễn Thanh Long, bộ trưởng bộ KH-CN ông Chu Ngọc Anh cùng với các đơn vị thanhtra đã nâng khống giá nguyên liệu đầu vào, đánh cắp nghiên cứu kit test từ tài sản nhà nước thành tư nhân.

3.3. Hậu Quả và Thiệt Hại Do Tham Nhũng Gây Ra

Các vụ án lớn như Việt Á, FLC và đặc biệt là đại án Trương Mỹ Lan đã gây ra thiệt hại lớn cho Nhà nước và xã hội, với những con số choáng ngợp về tiền bạc và số lượng nạn nhân bị ảnh hưởng.

IV. Giải Pháp Phòng Chống và Kiểm Soát Tham Nhũng Hiệu Quả

Để giải quyết vấn đề này, cần sự đấu tranh quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự hỗ trợ của nhân dân và doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ đã chủ động, linh hoạt và sát sao trong chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương để triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Đồng thời, cần khắc phục ngay những sơ hở và lỗ hổng về cơ chế, chính sách trong quản lý và điều hành để ngăn chặn những hành vi tiêu cực của lợi ích nhóm và 'nhóm lợi ích' hiện nay.

4.1. Các Chính Sách và Biện Pháp Pháp Luật Cần Thiết

Nhiều nước trả lương cao để công chức “không cần tham nhũng” mà vẫn đủ sống. Singapore trả lương cho công chức cao hơn khu vực tư nhân để công chức lựa chọn giữa tham nhũng với sự liêm khiết với cuộc sống yên ổn suốt đời. Ở Singapore, mọi công chức đều bị giữ lại một phần tiền lương hàng tháng (tỉ lệ giữ lại từ 5% đến 40%, tăng dần theo mức lương) để đưa vào quỹ tích lũy chung, dùng cho việc mua nhà ở, bảo hiểm y tế và dưỡng lão sau khi về hưu và được gửi tiết kiệm với lãi suất cao.

4.2. Nâng Cao Vai Trò của Báo Chí và Người Dân trong Phòng Chống Tham Nhũng

Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phát hiện, tố giác các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc tố giác về tham nhũng, tiêu cực: Qua điện thoại, qua Internet, gửi đơn, trình bày trực tiếp...

4.3. Cải Cách Thể Chế và Quản Lý Nhà Nước Để Ngăn Ngừa Tham Nhũng

Một số quy định của pháp luật liên quan tới việc phát hiện, xử lý tham nhũng còn khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật về PCTN có nhiều quy định mang tính hình thức, thiếu tính khả thi, thiếu những giải pháp có tính đột phá; mô hình, tổ chức các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng chưa hợp lý, chưa đủ mạnh.

V. Kinh Nghiệm Quốc Tế và Bài Học Cho Việt Nam Về PCTN

Ngày nay, tham nhũng, tiêu cực đã mang tính toàn cầu. Các nước đều cho rằng tham nhũng là một trong những hiểm họa của quốc gia, là kẻ thù của quá trình phát triển và lên án mạnh mẽ tham nhũng, tiêu cực, cũng như đề ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng của nước mình. Liên hợp Quốc đã có Công ước về chống tham nhũng với 8 chương và 71 điều quy định cụ thể về các biện pháp phòng ngừa, chính sách và các hành động chống tham nhũng.

5.1. Các Mô Hình Phòng Chống Tham Nhũng Hiệu Quả Trên Thế Giới

Chẳng hạn, trong Chiến lược chống tham nhũng của Hồng Kông gồm 3 phần lớn thì có một phần là giáo dục công chúng về tác hại của tham nhũng, tiêu cực và tìm kiếm sự ủng hộ, tham gia tích cực của công chúng để từng bước xây dựng văn hoá chống tham nhũng, tiêu cực trong công chúng.

5.2. Bài Học Về Minh Bạch Trách Nhiệm Giải Trình và Kiểm Soát Quyền Lực

Thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan và công chức, viên chức nhà nước; việc công khai, minh bạch trong việc soạn thảo, ban hành các quyết định: Quá trình ra quyết định, kể cả quá trình xây dựng những quyết định lớn, tác động đến toàn xã hội...

VI. Tương Lai của Phòng Chống Tham Nhũng và Phát Triển Bền Vững

Trong thực tế, lợi ích nhómtư bản thân hữu thường xuất hiện ở nhiều lĩnh vực kinh tế, từ việc lập và triển khai các dự án, quản lý đất đai, trong đấu thầu, phân bổ nguồn lực, đến xây dựng cơ bản và công tác cán bộ. Tham nhũng, một biểu hiện của lợi ích nhóm, thường dựa trên 4 yếu tố chính: độc quyền, bưng bít thông tin, thiếu minh bạch và thiếu đạo đức. Tại Việt Nam, số lượng vụ án kinh tế/tham nhũng đang ngày càng tăng cao, cùng với sự tinh vi và phức tạp của chúng.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Phòng Chống Tham Nhũng Đối Với Phát Triển Bền Vững

Để giải quyết vấn đề này, cần sự đấu tranh quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự hỗ trợ của nhân dân và doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ đã chủ động, linh hoạt và sát sao trong chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương để triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

6.2. Đề Xuất Các Bước Đi Cụ Thể Để Tăng Cường PCTN

Đồng thời, cần khắc phục ngay những sơ hở và lỗ hổng về cơ chế, chính sách trong quản lý và điều hành để ngăn chặn những hành vi tiêu cực của lợi ích nhóm và 'nhóm lợi ích' hiện nay.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ LỢI ÍCH NHÓM VÀ TƯ BẢN THÂN HỮU 1. Nguyên nhân hình thành và đặc điểm kinh tế cơ bản Chủ nghĩa tư bản độc quyền. Hiểu như thế nào về Chủ nghĩa tư bản độc quyền. Chủ nghĩa tư bản độc quyền trong tiếng Anh là Monopoly Capitalism.

Các tổ chức độc quyền xuất hiện khi chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến một mức độ nhất định. Ban đầu, chúng chỉ xuất hiện trong một số ngành và lĩnh vực của nền kinh tế và sức mạnh kinh tế của chúng chưa đủ lớn. Tuy nhiên, sau đó, chúng trở nên mạnh mẽ hơn và chiếm ưu thế trong toàn bộ nền kinh tế. Chủ nghĩa tư bản độc quyền được coi là một giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, trong đó tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.

Quy luật thống trị trong chủ nghĩa tư bản độc quyền là quy luật lợi nhuận độc quyền, trong khi đó, trong chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do là quy luật lợi nhuận bình quân. Tuy nhiên, bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi và quy luật lợi nhuận độc quyền chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư. Nguyên nhân hình thành kinh tế cơ bản Chủ nghĩa tư bản độc quyền Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có nguồn gốc từ nhiều nguyên nhân chủ yếu sau đây: Đầu tiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất được thúc đẩy bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những ngành sản xuất mới với quy mô lớn. Điều này đã đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới như các xí nghiệp lớn và sản xuất lớn có ưu thế rõ rệt so với sản xuất nhỏ.

Mặt khác, sự phát triển này cũng dẫn đến tăng năng suất lao động và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, mở rộng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy sự phát triển sản xuất lớn và tăng tích tụ tư bản. Thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong 30 năm cuối của thế kỷ XIX, bao gồm sản lượng lớn gang thép với chất lượng cao từ lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát, v.; phát hiện ra hoá chất mới như axít sunphuaric (H2S04), thuốc nhuộm, 4 v.; cùng với đó là sự ra đời của các máy móc mới như động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay, v. và phát triển những phương tiện vận tải mới như xe hơi, tàu thuỷ, xe điện, máy bay, v. và đặc biệt là đường sắt.

Thành tựu khoa học kỹ thuật này cũng đã tạo ra những ngành sản xuất mới đòi hỏi quy mô lớn và dẫn đến tăng năng suất lao động, khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn. Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển, quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, như quy luật giá trị thặng dư và quy luật tích luỹ, đang ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế xã hội tư bản, dẫn đến sự tập trung sản xuất quy mô lớn. Sự cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật và tăng quy mô tích luỹ để cạnh tranh thành công. Tuy nhiên, đây cũng là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản, trong khi các doanh nghiệp lớn tăng trưởng nhanh chóng với số tư bản tập trung và quy mô sản xuất ngày càng to lớn.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1873 đã khiến hàng loạt doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản. Hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa đã trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tập trung sản xuất, đặc biệt là sự hình thành của các công ty cổ phần, tạo tiền để cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền. Đặc điểm kinh tế cơ bản Chủ nghĩa tư bản độc quyền. Có thể khái quát một số đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền như sau: Tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền Sự tích tụ và tập trung sản xuất đã dẫn đến sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền.

Những tổ chức độc quyền này được hình thành bởi những nhà tư bản lớn liên minh lại với nhau để kiểm soát một phần lớn hoặc toàn bộ sản phẩm của một ngành sản xuất cụ thể. Việc này cho phép liên minh này có ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó. Tư bản tài chính Việc tích tụ và tập trung tư bản trong ngân hàng đã dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền trong lĩnh vực này. Ngân hàng ban đầu chỉ đóng vai trò là trung gian trong việc thanh toán và tín dụng, nhưng sau đó, do nắm giữ phần lớn tư bản tiền tệ 5 trong xã hội, ngân hàng đã trở thành một nhà cầm quyền có thể chi phối các hoạt động kinh tế-xã hội.

Các tổ chức độc quyền ngân hàng đã cho phép các tổ chức độc quyền trong ngành công nghiệp vay tiền và gửi tiền lớn trong một khoảng thời gian dài, từ đó tạo ra một mối liên hệ xoắn xuýt giữa các tổ chức độc quyền này. Cả hai bên đều quan tâm đến hoạt động của nhau và cố gắng thâm nhập vào nhau. Điều này đã dẫn đến sự xuất hiện của một loại tư bản mới được gọi là tư bản tài chính, là sự kết hợp giữa tư bản độc quyền trong ngân hàng và tư bản độc quyền trong ngành công nghiệp. Xuất khẩu tư bản Việc xuất khẩu hàng hóa có nghĩa là đưa hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư.

Tuy nhiên, khi nói về xuất khẩu tư bản, thì có nghĩa là đầu tư tư bản ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản đó. Xuất khẩu tư bản có thể được chia thành hai hình thức chính là xuất khẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp. Xuất khẩu tư bản trực tiếp là khi tư bản được đưa ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh và thu lợi nhuận cao. Còn xuất khẩu tư bản gián tiếp là khi tư bản được cho vay để thu lợi tức.

Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế Việc gia tăng quy mô và phạm vi xuất khẩu tư bản đã dẫn đến sự phân chia thế giới về mặt kinh tế, bao gồm việc phân chia các lĩnh vực đầu tư tư bản và thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền. Các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức độc quyền kinh tế mạnh đã dẫn đến các đụng độ trên trường quốc tế, và điều này đã thúc đẩy xu hướng hiệp định và thoả hiệp để tăng cường vị thế độc quyền của họ trong các lĩnh vực và thị trường quan trọng. Kết quả của sự cạnh tranh này là sự hình thành các liên minh độc quyền quốc tế và tập đoàn xuyên quốc gia. Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền, được thể hiện qua chính sách xâm lược và áp bức các quốc gia khác để biến chúng thành thuộc 6 địa của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu được siêu lợi nhuận độc quyền của tư bản độc quyền.

Khi đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, tư bản độc quyền thu được siêu lợi nhuận do có các điều kiện thuận lợi như nguồn nguyên liệu dồi dào giá rẻ hoặc thậm chí miễn phí, chi phí nhân công rẻ mạt… Điều này dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức độc quyền của các quốc gia khác nhau, và để giành giật thị trường và môi trường đầu tư, nhà nước can thiệp để giúp cho các tổ chức độc quyền của nước mình thu được siêu lợi nhuận độc quyền ở ngoại quốc. Tuy nhiên, sự can thiệp này của nhà nước đã khiến cho nó trở thành một nước đế quốc chủ nghĩa, kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và thống trị ở nước ngoài của tư bản độc quyền với chính sách xâm lăng của nhà nước. Lợi ích nhóm (Interest Group) Lợi ích nhóm hay còn gọi là nhóm lợi ích (interest group) là “bất kỳ tập thể nào gồm các cá nhân, tổ chức được hình thành dựa trên một hoặc nhiều mối quan tâm chung và nỗ lực gây ảnh hưởng đến chính sách công theo hướng có lợi cho nhóm họ thông qua vận động hành lang (lobbying) các quan chức chính quyền”. Có thể phân loại các nhóm lợi ích theo động cơ hoạt động của họ, cụ thể như: (1) Nhóm lợi ích về kinh tế, bao gồm các công ty và hiệp hội doanh nghiệp.; (2) Nhóm lợi ích về chuyên môn, bao gồm các liên đoàn lao động, hội nông dân.; (3) Nhóm lợi ích về lợi ích cộng đồng, bao gồm các tổ chức hoạt động vì môi trường, bình đẳng giới, quyền con người… Tuỳ bối cảnh mà có các nhóm lợi ích nhất định nổi lên đóng vai trò chính trong việc vận động hành lang.

Trong bài viết này, nhóm tác giả chủ yếu tập trung bàn về các nhóm lợi ích về kinh tế. Các nhóm lợi ích thường nỗ lực gây ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sách, pháp luật của quốc gia theo hướng có lợi cho nhóm họ bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê các cá nhân hay tổ chức vận động hành lang. Vận động hành lang có thể được thực hiện thông qua những cách thức khác nhau, bao gồm trực tiếp tác động đến các cơ quan, nhà hoạch định chính sách; tham gia các phiên thảo luận công khai; thể hiện ý kiến trên các phương tiện truyền thông đại chúng; thực hiện các chiến dịch gây 7 quỹ, gửi dự thảo, cung cấp thông tin hay chuyên gia về chính sách, văn bản pháp luật mà họ mong muốn đến các cơ quan, quan chức có liên quan. Sự tác động của nhóm lợi ích đến quá trình xây dựng chính sách, pháp luật ở các quốc gia về bản chất không phải là hành vi tham nhũng hay bất hợp pháp, mà ngược lại, đây là một yếu tố có tính tất yếu, khách quan và có vai trò quan trọng trong quá trình đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ