phần mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn được bố cục thành 3 chương CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỢ CÔNG NGHỆ 1.2 Thị trường và thị trường công nghệ: 1.3 Chuyển giao công nghệ 1.4 Định giá công nghệ 1.5 Xúc tiến chuyển giao công nghệ 1.6 Chợ công nghệ (Techmart) 1.1 Techmart Việt Nam 1.2 Techmart địa phương 1.4 Techmart chuyên ngành 1.7 Sàn giao dịch công nghệ. Cơ sở pháp lý của việc thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ: 14 2.1 Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn bản pháp quy của Chính phủ, cơ quan trực thuộc Chính phủ.2 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu của Việt nam giai đoạn 2011 – 2015. Kinh nghiệm của nƣớc ngoài về các Chợ công nghệ và sự liên kết các chợ: 3.1 Kinh nghiệm của Đức.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 3.3 Kinh nghiệm của các nước ASEAN.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc.
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHỢ CÔNG NGHỆ TẠI CÁC TỈNH, THÀNH PHÍA NAM VÀ NHU CẦU LIÊN KẾT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHỢ CÔNG NGHỆ 1. Thực trạng tổ chức và hoạt động Chợ công nghệ tại các tỉnh, thành phía Nam: 1.1 Chợ công nghệ định kỳ.2 Chợ CN&TB thường xuyên.3 Chợ công nghệ trên mạng. Phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng: 2.2 Những hạn chế. Nhu cầu liên kết hoạt động Chợ công nghệ nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ.1 Yêu cầu thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.2 Nhu cầu của các bên tham gia Chợ công nghệ.3 Nhu cầu của từng địa phương tổ chức Chợ công nghệ.
CÁC GIẢI PHÁP LIÊN KẾT HOẠT ĐỘNG CHỢ CÔNG NGHỆ THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1. Những hình thức liên kết hoạt động của các Chợ công nghệ: 1.1 Techmart định kỳ liên kết với Techmart Online và Techmart Daily 1.2 Techmart Online liên kết với Techmart Daily và Techmart định kỳ 1.3 Techmart Daily liên kết Techmart Online và Techmart Daily 1.4 Liên kết giữa các Techmart địa phương, Techmart vùng với Techmart quốc gia.5 Liên kết kế thừa giữa các kỳ chợ CN&TB định kỳ 1.6 Liên kết Techmart đa ngành với các Hội chợ - triển lãm chuyên ngành: Xây dựng (Vietbuild) Thiết bị y tế (Mediphar), Nông nghiệp (Argomart),… 2. Các biện pháp liên kết: 2.1 Biện pháp hành chính, tổ chức.2 Biện pháp chuyên môn nghiệp vụ.3 Biện pháp tài chính.4 Biện pháp phát triển hạ tầng kỹ thuật.5 Biện pháp truyền thông KH&CN. KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ 16 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỢ CÔNG NGHỆ 1.1 Công nghệ: Có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ do kinh nghiệm của các tác giả, tổ chức khác nhau và phục vụ cho công việc cụ thể của họ. Theo UNTACD (1972) đưa ra định nghĩa “công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hoá được thể hiện ở một trong những dạng sau: - Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư; - Nhân lực, thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên môn sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật, làm chủ được bộ máy giả quyết vấn đề và sản xuất thông tin; - Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giử bí mật như là một phần của hoạt động độc quyền”. Định nghĩa này cho thấy, về bản chất công nghệ là tư liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin, có mục tiêu làm đầu vào cần thiết cho sản xuất. Ngân hàng thế giới (1985) định nghĩa “công nghệ là phương pháp chuyển hoá các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: (1) thông tin về phương pháp; (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá; (3) sự hiểu biết phương pháp phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”.
Theo định nghĩa này công nghệ có bản chất là thông tin, công cụ, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành sản phẩm. 17 Sharif (1986) cho rằng “công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hoá”. Cụ thể hơn, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản: - Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh), còn gọi là phần kỹ thuật (technoware). - Dạng con người (kiến thức, kỷ năng và kinh nghiệm): humanware.
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu,. - Dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở pháp luật,. Trong giới quản lý KH&CN ở nước ta, khái niệm công nghệ gồm 4 phần theo định nghĩa của Sharif được sử dụng phổ biến. Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000): công nghệ là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Định nghĩa này nói rõ công nghệ bao gồm cả công cụ và phương tiện, hay phần cứng”. Thực tiễn hoạt động ở nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cho thấy giai đoạn đầu của quá trình phát triển, việc thu nạp công nghệ qua hình thức mua bán li – xăng là chưa nhiều và còn chiếm tỷ lệ thấp so với hình thức mua sắm máy móc, thiết bị, hoặc hệ thống thiết bị toàn bộ. Một phần quan trọng của tri thức công nghệ được thu nạp vào thông qua mua sắm tư liệu sản xuất, tích luỹ khi vận hành các máy móc. Mua sắm máy móc thiết bị (mà trong nhiều trường hợp hàm chứa trong đó những thành quả của hoạt động nghiên cứu triển khai ở các nước phát triển hơn) tránh cho các nước đang phát triển không lập lại những hoạt động R&D đã được tiến hành trước đó.
18 Việc coi công nghệ bao gồm cả việc mang công nghệ tỏ ra thuận lợi hơn khi xem xét vấn đề mua bán công nghệ ở các nước đang phát triển. Trong nhiều trường hợp, tuy cái cần thu nạp khi mua bán là tri thức công nghệ, nhưng đối tượng được mua bán trên danh nghĩa là vật mang công nghệ.2 Thị trƣờng khoa học và công nghệ: Thị trường là chợ. Chợ họp có địa điểm. Người có hàng mang ra chợ bán, người cần hàng đến chợ để mua.
Chợ họp trong một thời gian nhất định, theo một chu kỳ nhất định. Chợ có thể chuyển bán một loại hàng hoá nào đó, có thể chỉ họp trong một dịp nào đó (chợ phiên). Chợ có thể là nơi người bán và người mua gặp nhau để giới thiệu, tìm hiểu hàng hoá, đàm phán mua bán những mặt hàng hiện tại chưa có ở chợ (hội chợ). Hiện nay cách hiểu thị trường công nghệ như một chợ mua bán công nghệ là khá phổ biến trong các cơ quan hoạch định chính sách.
Hiểu theo cách này thì phát triển thị trường công nghệ tức là lập chợ, đưa ra các nội quy họp chợ cũng như những biện pháp cần thiết khác để chợ hoạt động được. Thị trường là tập hợp người mua. Theo định nghĩa này phát triển thị trường công nghệ tức là làm cho nhu cầu đổi mới công nghệ tăng lên, số người mua nhiều hơn, lượng mua lớn hơn. Thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh.
Thị trường là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế. Thị trường công nghệ: là những thể chế đảm bảo cho việc mua bán công nghệ đựơc thực hiện thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia. Theo Grif thì thể chế là các quy tắc, cơ chế thi hành và các tổ chức.3 Chuyển giao công nghệ: Theo Luật chuyển giao công nghệ thì “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận công nghệ”.4 Định giá công nghệ: “Là hoạt động xác định giá của công nghệ” (Luật chuyển giao công nghệ) 1.5 Xúc tiến chuyển giao công nghệ: là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội chuyển giao công nghệ, cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ.6 Chợ công nghệ: Nếu hiểu theo nghĩa chợ CN&TB định kỳ thì Chợ công nghệ là hoạt động giao dịch công nghệ được tiến hành tại một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định tập trung triển lãm những thành quả công nghệ, tổ chức các bên thương thảo với nhau và ký kết hợp đồng chuyển giao. Nội dung giao dịch công nghệ bao gồm: Trưng bày và giao dịch thành quả công nghệ; Mời thầu dự án công nghệ; Công bố thông tin công nghệ; Bán sản phẩm mới nghiên cứu khoa học; Thương thảo, ký kết hợp đồng công nghệ và hoạt động khác có liên quan đến thị trường công nghệ.
Công nghệ tham gia giao dịch phải là thành quả công nghệ và sản phẩm công nghệ được Nhà nước cho phép giao dịch và có giá trị thực dụng nhân rộng. – Cơ quan dịch vụ trung gian KH&CN Cơ quan dịch vụ trung gian KH&CN là cơ quan cung cấp cho chủ thể đổi mới công nghệ những dịch vụ như xã hội hóa, chuyên nghiệp hóa để hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động đổi mới có liên quan trực tiếp đến đổi mới công nghệ. Những cơ quan này 20 chủ yếu triển khai các nghiệp vụ như trao đổi thông tin, tư vấn chính sách, bố trí nguồn lực, dịch vụ công nghệ và đánh giá KH&CN, phát huy tác dụng thúc đẩy mang tính then chốt trong chuyển giao tri thức và chuyển giao công nghệ giữa các chủ thể đổi mới và thị trường, có thể tạo ra hiệu quả và giảm thiểu chi phí đổi mới, phòng ngừa mạo hiểm, đẩy nhanh chuyển hóa thành quả KH&CN và nâng cao hiệu quả đổi mới. – Người môi giới công nghệ Người môi giới công nghệ là công dân, pháp nhân và tổ chức kinh tế khác tiến hành nghiệp vụ môi giới như làm trung gian, môi giới, đại lý và có được tiền hoa hồng hợp lý nhằm thúc đẩy chuyển hóa thành quả và đưa giao dịch công nghệ của người khác đi đến thành công.