Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân tích tài chính để lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng vê lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch tài chính tại Công ty cổ phần Bất động sản Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT Land) 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỂ LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Một doanh nghiệp luôn hƣớng tới mục tiêu tăng trƣởng trong hoạt động kinh doanh từ việc mở rộng quy mô sản xuất hay thực hiện các cơ hội đầu tƣ mới. Khi đó, nó sẽ đòi hỏi phải bổ sung thêm vốn cho hoạt động của doanh nghiệp trong tƣơng lai. Để đảm bảo đủ vốn cho hoạt động của doanh nghiệp thì cần thiết phải dự báo và lập kế hoạch tài chính của doanh nghiệp Hiện nay đã có rất nhiều tác giả với rất nhiều những công trình đã đi sâu nghiên cứu, lập kế hoạch tài chính doanh nghiệp. Qua đó đƣa ra một số giải pháp cụ thể để doanh nghiệp luôn chủ động trong việc huy động và có nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ở mỗi doanh nghiệp khác nhau thì tình hình sử dụng vốn, quản lý tài sản cũng khác nhau, việc huy động vốn cũng khác nhau. Trên thực tế, ở mỗi thời điểm khác nhau về sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, tùy vào địa bàn hoạt động, điều kiện môi trƣờng kinh doanh, các yếu tố văn hóa xã hội… nên ở mỗi doanh nghiệp sẽ có nhiều điểm khác nhau. Do đó đặt ra cho bản thân mỗi doanh nghiệp cần có những biện pháp và chiến lƣợc hoạt động riêng. Chính vì lẽ đó, mặc dù đã có nhiều tác giả đã từng làm về đề tài này, nhƣng học viên vẫn lựa chọn thực hiện đề tài này nhằm tìm kiếm thêm những sự thay đổi mới để có thể áp dụng vào thực tế để nâng cao hiệu quả của việc dự báo và lập kế hoạch tài chính tại Công ty Cổ phần Bất động sản Bƣu chính Viễn thông Việt Nam (VNPTLAND).
Trong luận văn này, tác giả đã trình bày đƣợc những luận điểm lý thuyết cơ bản và khá chi tiết về các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp, quá trình lập kế hoạch tài chính, căn cứ lập kế hoạch tài chính… Qua đó, làm tiền đề cho 4 việc phân tích thực trạng tài chính Công ty Cổ phần Bất động sản Bƣu chính Viễn thông Việt Nam (VNPTLAND) Cụ thể trong luận văn, tác giả đã xem xét đánh giá tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn 2012-2014 để phân tích và lập kế hoạch tài chính của VNPTLAND theo phƣơng pháp tỷ lệ doanh thu Xuất phát từ thực trạng và những nguyên nhân kể trên, luận văn đã đƣa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty cổ phần bất động sản bƣu chính viễn thông việt nam ( vnptland) Những điểm mới trong luận văn của tác giả Qua đây, tác giả đã có những góc nhìn mới và bổ sung nhằm hoàn thiện hơn cho luận văn của mình. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đƣa ra một số những giải pháp và kiến nghị có ý nghĩa hết sức tích cực, phù hợp với sự thay đổi của đất nƣớc trong giai đoạn hiện nay 1. Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Để hiểu phân tích tài chính doanh nghiệp là gì trƣớc hết ta tiếp cận với khái niệm Tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định. Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có ảnh hƣởng lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất. Nhƣ vậy sự di chuyển nguồn tài chính của doanh nghiệp tác động đến lợi ích kinh tế của các bên liên quan nhƣ chủ doanh nghiệp, nhà đầu tƣ, ngƣời lao động, chính phủ.
Để đƣa ra các quyết định kinh tế, quyết định quản lý chính 5 xác , phù hợp thì mỗi bên phải tự phân tích tài chính doanh nghiệp dựa trên góc độ lợi ích của mình. Phân tích tài chính doanh nghiệp thƣờng tập trung vào các số liệu đƣợc cung cấp trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, kết hợp với các thông tin bổ sung từ các nguồn khác nhau nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lƣợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp ngƣời sử dụng thông tin đƣa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.3 Tài liệu và các phƣơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 1.Vai trò của các báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu, công nợ cũng nhƣ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lƣu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho ngƣời sử dụng thông tin kinh kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính đƣợc sử dụng nhƣ nguồn dữ liệu khi phân tích tài chính doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán đƣợc lập căn cứ vào số liệu của các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết (sổ cái và sổ chi tiết) các tài khoản có số dƣ cuối kỳ phản ánh tài sản, công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và bảng cân đối kế toán kỳ trƣớc. Bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo kế toán quan trọng nhất trong hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp. Nó cũng cung cấp thông tin về thực trạng tài chính và tình hình biến động về cơ cấu tài sản, công nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
6 Thông tin trình bày trên bảng cân đối kế toán phải luôn tuân thủ các nguyên tắc sau: + Nguyên tắc: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Tài sản = Nợ phải trả + nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu = Tài sản - Nợ phải trả + Nguyên tắc số dƣ: Theo nguyên tắc này, chỉ những tài khoản có số dƣ mới đƣợc trình bày trên bảng cân đối kế toán. Những tài khoản có số dƣ là những tài khoản phản ánh tài sản (Tài sản có) và những tài khoản phản ánh Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu (Tài sản nợ). Các tài khoản không có số dƣ phản ánh doanh thu, chi phí làm cơ sở để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ không đƣợc trình bày trên bảng cân đối kế toán mà đƣợc trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh. + Nguyên tắc trình bày các khoản mục theo tính thanh khoản giảm dần: Theo nguyên tắc này, các khoản mục tài sản Có của doanh nghiệp đƣợc trình bày và sắp xếp theo khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần nhƣ sau II.
Đầu tư ngắn hạn III. Các khoản phải thu IV. Tồn kho Tài sản cố định và đầu tư dài hạn + Nguyên tắc trình bày nợ phải trả theo thời hạn: Theo nguyên tắc này, các khoản nợ phải trả đƣợc trình bày theo nguyên tắc các khoản vay và nợ ngắn hạn đƣợc trình bày trƣớc, các khoản vay và nợ dài hạn đƣợc trình bày sau. Nhìn vào bảng cân đối kế toán nhà phân tích có thể nhận biết đƣợc loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá đƣợc 7 khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp. Báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh đƣợc lập căn cứ vào số liệu của các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết các khoản phản ánh doanh thu, thu nhập và chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Cùng với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh là một trong những báo cáo quan trọng nhất của hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp. Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin về kết quả kinh doanh và nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một kỳ) của doanh nghiệp.
Các thông tin trình bày trên báo cáo kết quả kết quả kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: + Nguyên tắc phân loại hoạt động: Báo cáo kết quả kinh doanh phân loại hoạt động theo mức độ thông dụng của hoạt động đối với doanh nghiệp. Nhƣ vậy, các hoạt động thông thƣờng của doanh nghiệp sẽ đƣợc phân loại là hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động này tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Các hoạt động liên quan đến đầu tƣ tài chính đƣợc phân loại là hoạt động tài chính, hoạt động không xảy ra thƣờng xuyên sẽ đƣợc phân loại là hoạt động bất thƣờng. + Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí: Nguyên tắc phù hợp: Báo cáo kết quả kinh doanh trình bày các khoản doanh thu, thu nhập và chi phí của doanh nghiệp trong kỳ.
Vì vậy báo cáo kết quả kinh doanh phải đƣợc trình bày theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Nguyên tắc thận trọng: Theo nguyên tắc này, một khoản chƣa xác định chắc chắn sẽ đem lại lợi ích kinh tế trong tƣơng lai cho doanh nghiệp thì chƣa đƣợc ghi nhận là doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp và không đƣợc trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh.