Mở đầu cho công cuộc nghiên cứu lập biểu thể tích và biểu độ thon là công trình nghiên cứu của Đồng Sĩ Hiền (1974) đã lập biểu độ thon và biểu thể tích cây đứng cho rừng Việt Nam. Tác giả sử dụng hàm Meyer và họ đường cong Person để nắn các phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính của rừng tự nhiên để lập biểu thể tích và biểu biểu độ thon cho cây đứng rừng Việt Nam. Dựa trên cơ sở các độ thon tương đối là ổn định cho từng loài cây gỗ nên có thể tạo ra một hàm số hoặc một tương quan đường sinh biểu thị độ thon bình quân, đường kính quay quanh trục OX sẽ tạo thành thể tích thân cây.Tác giả sử dụng phương pháp Scheaychev-Fisher lập phương trình đường sinh với 11 điểm tựa, đây là phương pháp mới được tác giả đề xuất. Năm 1979, Viện nghiên cứu lâm nghiệp có tiến hành lập biểu thể tích và sản phẩm 13 cho lâm phần thông tại Lâm Đồng.
Trong các biểu ghi thể tích sản phẩm tính từ gốc cây đến độ cao có đường kính 6 cm. Vũ Văn Nhâm(1988) đã nghiên cứu lập biểu độ thon, biểu sản phẩm và biểu thương phẩm cho rừng thông đuôi ngựa kinh doanh gỗ vùng Đông Bắc. Bảo Huy (1997), Tăng Công Tráng (1997) cũng sử dụng phương pháp trên để lập biểu thể tích và biểu thương phẩm cho loài Xoan Mộc, Bằng Lăng và nhóm cây ưu thế ở rừng tự nhiên Tây Nguyên GS.TS Vũ Tiến Hinh và các cộng sự (1999), tiến hành nghiên cứu lập biểu thương phẩm cho loài quế ở Văn Yên, trên cơ sở ứng dụng phương trình đường sinh thân cây. Cao Thị Thu Hiền (2009) với đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng biểu quá trình sinh trưởng và sản lượng rừng luồng thuần loài tại tỉnh Thanh Hoá.
Tác giả tiến hành đo đếm D1.3, Dt, Hvn, mật độ, đường kính gốc bụi, chọn chặt và đo đếm cây tiêu chuẩn. Từ số liệu đo đếm tính toán tỷ lệ phần trăm số cây non trung niên và cây già; lập phương trình đường sinh trưởng. Thử nghiệm từ phương trình bậc 1 đến bậc 5 cho thân ngoài và thân trong để lựa chọn phương trình phù hợp nhất. Từ đó tính thể tích thân cây Luồng theo phương trình đường sinh; xác định trọng lượng tươi theo đường kính và chiều cao theo 2 dạng phương trình : Wt = a*D^b*H^c và Wt = a + b*D^2*H để lựa chọn phương trình thích hợp nhất.
Lập tương quan trọng lượng khô – trọng lượng tươi sau khai thác 1, 2 và 3 tháng theo các phương trình bậc 1, bậc 2, bậc 3, logarit, compound, Power. Từ đó lựa chọn phương trình phù hợp; chọn chỉ tiêu sinh trưởng làm căn cứ phân hạng đất trồng Luồng và xác định mật độ trồng thích hợp và lập biểu quá trình sinh trưởng và sản lượng 14 1. Về việc đánh giá, lựa chọn phương pháp qua cây kiểm tra biểu xây dựng được Đào Công Khanh, 2001 đã sử dụng một số tiêu chí sau đây để lựa chọn phương trình tối ưu cho cá phương trình thử nghiệm: - Sự tồn tại của phương trình thông qua kiểm tra sự tồn tại của các tham số theo tiêu chuẩn t của Student - Có hệ số tương quan cao - Sai số hồi quy (Sy/x) của phương trình thấp - Đơn giản trong sử dụng Nguyễn Trọng Bình (2003) đã sử dụng một số tiêu chí sau đây để chọn hàm sinh trưởng cho phù hợp: - Hệ số xác định R2 - Các tham số của phương trình ^ -Sai số tương đối của phương trình S % Phương trình được chọn là phương trình có hệ số xác định cao nhất, sai số nhỏ nhất và các tham số tồn tại. Phan Nguyên Hy (2003) đã sử dụng các tiêu chí như sau: - Hệ số xác định cao nhất - Sai tiêu chuẩn hồi quy bé nhất - Các hệ số hồi quy của phương trình đều tồn tại và có nghĩa Để lựa chọn mô hình thích hợp nhất cho việc xây dựng biểu thể tích loài Thông Nhựa.
Kết quả là phương trình theo dạng hàm: V= a+b.D 2H đã được lựa chọn để xây dựng biểu thể tích cho cây đứng cho rừng Thông Nhựa tại nơi khu vực nghiên cứu. * Thảo luận Qua kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước nhận thấy: 15 - Các nghiên cứu trên thế giới trong những năm gần đây cũng chủ yếu là áp dụng phương pháp tương quan mà đặc biệt là tương quan giữa thể tích và hai nhân tố đường kính, chiều cao để xây dựng biêu thể tích ba dạng hàm dùng phổ biến nhất là dạng hàm (1-3); (1-7); (1-8). - Độ chính xác của tính thể tích theo dạng hàm V= f(D,H,F) chủ yếu phụ thuộc vào độ chính xác của cách xác định f. - Phương pháp đường sinh thân cây, dựa trên cơ sở các độ thon tương đối ổn định cho từng loài gỗ nên có thể tạo ra 1 hàm số hoặc một tương quan đường sinh thân cây biểu thị độ thon bình quân, đường sinh thân cây quay quanh trục H sẽ tạo thành thể tích thân cây, đây là phương pháp mới đề xuất trong thời gian giữa thế kỉ 20 bởi Djiurjue ở Rumani, 1963 và Đồng Sĩ Hiền ở Việt Nam, 1967.
Qua đó cho thấy phương trình đường sinh thân cây đã được nghiên cứu từ rất lâu Đồng Sĩ Hiền (1971) đã cải tiến để phù hợp với đặc điểm rừng ở Việt Nam. - Do rừng tự nhiên của Việt Nam bị khai thác bừa bãi nên số cây tiêu trong một loài là không nhiều. Các nghiên cứu về biểu thể tích ở Việt Nam gần đây chủ yếu là nghiên cứu về rừng trồng thuần loài đều tuổi. Chưa có nhiều nghiên cứu mới về lập biểu thể tích rừng tự nhiên.
Từ những công trình nghiên cứu trên tác giả đi nghiên cứu lập biểu thể tích cho một số loài cây khai thác chính ở vùng Bắc Trung Bộ. Việc nghiên cứu phương pháp lập biểu thể tích của đề tài xin tập trung theo phương pháp biểu thể tích hai nhân tố. - Với phương pháp tương quan giữa thể tích, đường kính và chiều cao tác giả nghiên cứu những mô hình đã được thử nghiệm và áp dụng. - Với phương pháp dùng hàm V = f(D,H, F) tác giả tính thể tích dựa trên của loài.
16 - Phương pháp phương trình đường sinh đề tài đi theo hướng của các tác giả trong nước hay làm là : định bậc phương trình đường sinh, tính f01 từ tích phân phương trình đường sinh hiệu chỉnh, tính thể tích theo công thức.1 h h h 17 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Xây dựng cơ sở khoa học lập biểu thể tích cây đứng cho một số loài cây ở rừng tự nhiên khu vực Bắc Trung Bộ 2. Mục tiêu thực tiễn : Chọn phương pháp lập biểu thể tích cây đứng cho một số loài nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc lập biểu thể tích gỗ thân cây đứng cho một số loài cây khai thác chủ yếu ở rừng tự nhiên khu vực Quảng Bình, Hà Tĩnh. Sau khi tiến hành điều tra, khảo sát khu vực nghiên cứu, đề tài quyết định nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc lập biểu thể tích 4 loài sau: - Dẻ trắng ( Lythcapus probscideus) - Vối thuốc (Syzygium cuminiI Choisy) - Lim xanh ( Erythrophleum fordii) - Trâm móc ( Eugenia Sp) - Trường sâng (Amesiodendron chinense Merr. Phạm vi nghiên cứu. Về loài cây: Đề tài tiến hành nghiên cứu một số loài cây Dẻ trắng, Trâm móc, Lim xanh, Trường sâng, Vối thuốc, tại một số tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ.
Về phương pháp tính thể tích cây đứng: - Đề tài chỉ thử nghiệm ba phương pháp tính thể tích chính là: phương pháp dựa vào phương trình thể tích và phương pháp dựa vào hình số tự nhiên và phương pháp tính thể tích từ phương trình đường sinh. - Đề tài chỉ thực hiện xử lý số liệu cho cây có vỏ ở cả ba phương pháp. Nội dung nghiên cứu. - Nghiên cứu phương pháp tính thể tích thân cây đứng từ phương trình thể tích + Thử nghiệm một số phương trình thể tích + Tính sai số của phương trình thể tích + Chọn phương trình thể tích - Xác định thể tích thân cây từ hình số tự nhiên + Một số đặc điểm của hình số tự nhiên F01 + Kiểm tra luật phân bố chuẩn của hình số tự nhiên + Kiểm tra sự phụ thuộc của hình số tự nhiên vào một số đại lượng điều tra cây đứng.
+ Xác lập quan hệ D01 với D1.3 + Tính sai số thể tích xác định từ hình số tự nhiên - Xác định thể tích thân cây từ phương trình đường sinh + Tính hình số tự nhiên từ phương trình đường sinh + Tính và sai số thể tích từ phương trình đường sinh - Chọn phương pháp tính thể tích cây đứng làm cơ sở cho việc lập biểu thể tích - Xác lập quan hệ giữa Vcvo và Vkvo - Ước lượng khoảng biến động chiều cao của từng cỡ kính cho các loài cây nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu 2. Phương pháp luận Thân cây gỗ được xem như những khối hình học tròn xoay đầy hoặc cụt. Tuy nhiên do cây rừng là một chỉnh thể sinh học nên nó có những hình dạng khác nhau.
Vì vậy chỉ bằng những thực nghiệm trên mẫu tương đối đủ 19 lớn mới có thể xác lập được các quy luật vừa mang tính toán học chính xác vừa mang tính sinh học của cây rừng. Trên quan điểm ứng dụng nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh rừng, nên khi nghiên cứu đã kế thừa những tài liệu có sẵn làm cơ sở lựa chọn những dạng toán học thích hợp, đảm bảo độ chính xác cho phép và dễ sử dụng. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu trên cây ngả được thu thập như sau: + Đo chiều dài men thân(Hmt) bằng thước dây và tiến hành chia thân cây thành 10 đoạn bằng nhau theo các vị trí 00H, 01 H, 02 H, 03 H, 04 H …, 09 H. Đo đường kính có vỏ và không vỏ tại vị trí 1,3 m kể từ gốc cây và các vị trí khác đã chia trên thân cây.
+ Đo chiều cao, đường kính có vỏ và không vỏ gốc chặt.1 Biểu đo đếm các chỉ tiêu cây ngả Doi(cm) STT D1. D09 (cm) (m) CV KV CV KV CV KV CV KV 1 2 3 4 …. Số liệu sau khi thu thập được tiến hành kiểm tra loại bỏ những sai sót, sai lầm trong quá trình đo. Sau đó tổng hợp, xử lý, tính toán bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS các chỉ tiêu cần thiết.
Phương pháp xử lý số liệu 2.