Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lãnh đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1968 đến năm 1996" do nghiên cứu sinh Nguyễn Quỳnh Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Thị Tiến, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019. Công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 60 22 03 15).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) tại Việt Nam được xây dựng theo mô hình tập thể hóa với các đặc trưng: sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, quản lý kế hoạch hóa tập trung, phân phối theo hình thức công điểm. Mô hình này triệt tiêu vai trò tự chủ của kinh tế hộ (ngoài phần đất 5%), làm giảm động lực của người lao động và dẫn đến tình trạng nông nghiệp trì trệ kéo dài; quy mô hợp tác xã càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng thấp. Sau năm 1975, việc áp dụng mô hình này vào miền Nam bộc lộ rõ rệt những khuyết tật nội tại.

Để vượt qua khủng hoảng nông nghiệp, Đảng và Nhà nước đã từng bước ban hành các quyết sách quan trọng: Chỉ thị 100-CT/TW (năm 1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động; Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp; và Luật Hợp tác xã năm 1996 (có hiệu lực từ tháng 1/1997). Thực tiễn cho thấy các chủ trương đổi mới của Trung ương xuất phát từ những tìm tòi, thử nghiệm tại cơ sở. Vĩnh Phú là địa bàn tiêu biểu với phong trào "khoán hộ" từ những năm 1966–1968 tại Vĩnh Phúc (trước khi hợp nhất) và tiếp tục có các tìm tòi trong giai đoạn 1968–1996. Dù vậy, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, chưa có công trình nào phục dựng toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lãnh đạo xây dựng HTXNN xuyên suốt thời gian tồn tại của tỉnh (1968–1996) để đúc rút các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đối với việc xây dựng HTXNN từ năm 1968 đến năm 1996; đúc rút một số kinh nghiệm tham khảo cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Trình bày và làm rõ những căn cứ tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đối với xây dựng HTXNN.
  2. Phân tích và làm sáng tỏ chủ trương xây dựng HTXNN của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú từ năm 1968 đến năm 1996.
  3. Phân tích và làm rõ những biện pháp, giải pháp mà Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo để xây dựng HTXNN những năm 1968–1996.
  4. Nêu lên những nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đối với xây dựng HTXNN; bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm có cơ sở khoa học và thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và quá trình chỉ đạo xây dựng HTXNN của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú từ năm 1968 đến năm 1996.
  • Phạm vi nội dung: Quá trình lãnh đạo được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1968–1980 (tìm tòi hướng đi giải quyết khủng hoảng của HTXNN tập thể hóa) và giai đoạn 1981–1996 (lãnh đạo từng bước xây dựng HTX kiểu mới trên ba phương diện: cải tiến quản lý ruộng đất và công tác khoán; chuyển đổi tổ chức và phương thức hoạt động HTX; tái lập vai trò tự chủ của kinh tế hộ và phát triển tổ hợp tác mới).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1968 (thời điểm hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú theo Nghị quyết số 504/NQ-QH ngày 26-1-1968 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đến năm 1996 (thời điểm Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết ngày 6-11-1996 chia tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính tỉnh Vĩnh Phú trong giai đoạn 1968–1996.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa một khối lượng lớn công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:

1. Nhóm nghiên cứu chung về hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp

  • Về mặt lý luận HTX: Lê Xuân Tùng và Lưu Xuân Tùng (1999) phân tích các tiền đề kinh tế và nguyên tắc tổ chức HTX theo chủ nghĩa Mác - Lênin; Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (2001) làm rõ khái niệm, phân loại và tính tất yếu khách quan của kinh tế hợp tác; Naoto Imagawa và Chu Thị Hảo (2003) nghiên cứu quá trình phát triển của HTXNN Việt Nam từ cội nguồn lý luận thế giới; các bài viết của Nguyễn Quang Quýnh, Nguyễn Đăng Thành (1993), Nguyễn Thanh Hà (2000), Tạ Ngọc Tấn (2007) khảo cứu tư tưởng kinh điển của Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về kinh tế hợp tác.
  • Về lịch sử hình thành và phát triển: Trần Đức (1991) tổng kết 30 năm hợp tác hóa từ khoán việc đến khoán sản phẩm; Chử Văn Lâm, Nguyễn Thái Nguyên, Phùng Hữu Phú, Trần Quốc Toản, Đặng Thọ Xương (1992) đánh giá thành công và sai lầm của mô hình HTX trước đổi mới; Nguyễn Sinh Cúc (1995) tổng kết lịch sử 50 năm nông nghiệp Việt Nam (1945–1995).
  • Về chuyển đổi HTX sau Đổi mới: Các ấn phẩm của Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Nguyễn Ái Quốc (1990), Lê Trọng (1994), Hà Văn Đảng và Trần Ngọc Bút (1996), Trương Thị Tiến (1999), Phạm Thị Cần và Vũ Văn Phúc (2003), Hồ Văn Vĩnh và Nguyễn Quốc Thái (2005); các bài báo của Lưu Văn Sùng (1991), Trần Ngọc Bút (1996), Đinh Thu Cúc (2000), Chu Tiến Quang (2000), Hoàng Việt (2002), Lê Bình Lũy (2002), Hồ Văn Vĩnh (2005), Nguyễn Thiện Nhân (2015). Cùng hệ thống luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đình Hợi (1994), Nguyễn Văn Tiêm (1994), Nguyễn Thái Nguyên (1998), Nguyễn Thanh Hà (2000), Phùng Quốc Chí (2010).
  • Về thực tiễn vùng miền và quốc tế: Nghiên cứu tại địa phương của Ngô Đức Cát, Đoàn Văn Dân, Lê Đình Thắng (1994 - An Lão), Đào Thế Tuấn (1995), Lương Xuân Quỳ và Nguyễn Thế Nhã (1999), Bùi Văn Huyên, Phạm Văn Sáng, Nguyễn Quốc Thái (2011 - Đồng Nai), Nguyễn Văn Hân (1994 - Hà Bắc), Thế Gia (1994 - TP. Hồ Chí Minh), Vũ Ngọc Kỳ (1996 - Yên Bái), Nguyễn Văn Tuất (2002 - ĐBSCL), Bùi Quý Hạnh (2002 - Tiền Hải), Phan Hồng Hạnh (2005 - Quảng Nam), Lê Thị Kim Liên (2011 - Thừa Thiên Huế). Các nghiên cứu quốc tế của Nguyễn Điền (1992, 1996), Nguyễn Thái Văn (1996), Trần Đức Chuyên (2006), Phùng Quốc Chí (2007), Charles Forest Nicholson (1996 - Iowa State University).

2. Nhóm nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với HTXNN

Bao gồm các công trình của Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Vụ Kế hoạch - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), Đặng Phong (2009 với Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 và “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước đổi mới); các bài viết của Bạch Đình Ninh (1993), Nguyễn Tiến Quân (2005), Đỗ Tuấn Nghĩa (2005), Phạm Trung Dũng (2006), Nguyễn Thị Như Hà (2007), Nguyễn Danh Lợi (2017).

3. Nhóm nghiên cứu về HTXNN tại Vĩnh Phú và vai trò của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú

  • Các tài liệu lịch sử địa phương: Hợp tác xã Lai Sơn khoán sản lượng tốt đẩy mạnh sản xuất (1959); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú tập II 1954–1975 (1995); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ tập II 1968–2000 (2003); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 1930–2005 (2007).
  • Các bài báo và luận văn: Vũ Thị Hòa (2012), Ngô Thị Cẩm Linh (2008), Nguyễn Thị Chung (2014), Dương Văn Khoa (2017).
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2009, 2017) về tư duy đổi mới của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc với các tham luận của Phạm Đức Kiên - Nguyễn Thị Hồng Mai, Vũ Quang Hiển - Phạm Thị Lương Diệu, Đặng Kim Sơn, Hồ Tố Lương - Nguyễn Thị Mai.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận HTXNN dưới góc độ kinh tế học, nghiên cứu từng lát cắt thời gian ngắn, hoặc chỉ tập trung vào cá nhân Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc giai đoạn 1966–1968 tại Vĩnh Phúc. Chưa có công trình khoa học lịch sử nào phản ánh toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đối với HTXNN xuyên suốt 29 năm (1968–1996), làm rõ sự vận động từ mô hình tập thể hóa đến các bước chuyển đổi cơ chế quản lý sang HTX kiểu mới gắn liền với địa giới hành chính Vĩnh Phú.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và phát triển kinh tế tập thể.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình các sự kiện theo trình tự thời gian) kết hợp chặt chẽ với phương pháp lôgíc (phân tích bản chất, quy luật, rút ra nhận xét và bài học kinh nghiệm).
    • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu số liệu thống kê; phương pháp phỏng vấn nhân chứng lịch sử (các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo tỉnh, cán bộ quản lý nông nghiệp và chủ nhiệm HTX qua các thời kỳ).
  • Nguồn tư liệu:
    • Nguồn tư liệu gốc: Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; các văn bản chỉ đạo, nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Vĩnh Phú, Vĩnh Phúc, Phú Thọ lưu trữ tại Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Lưu trữ Tỉnh ủy Phú Thọ (như Phông số 02, Quyển số 03, ĐVBQ 24...).
    • Nguồn tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học đã công bố; tư liệu niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phú qua các năm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ba mảng nội dung: lý luận và thực tiễn HTX nông nghiệp; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế tập thể; HTX nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phú và vai trò của Đảng bộ địa phương. Luận án xác định rõ các kết quả đã đạt được, chỉ ra khoảng trống về mặt khoa học Lịch sử Đảng và xác lập hệ thống 5 vấn đề cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1968 đến năm 1980

Chương 2 trình bày các căn cứ lịch sử, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, thực trạng trước năm 1968 và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trong giai đoạn 1968–1980.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phú khi hợp nhất (1968):

  • Địa lý và hành chính: Tỉnh Vĩnh Phú thành lập năm 1968 gồm thành phố Việt Trì (tỉnh lị), 3 thị xã (Phú Thọ, Phúc Yên, Vĩnh Yên) và 18 huyện: Bình Xuyên, Cẩm Khê, Đa Phúc, Đoan Hùng, Hạ Hòa, Kim Anh, Lâm Thao, Lập Thạch, Phù Ninh, Tam Dương, Tam Nông, Thanh Ba, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lãng, Yên Lập; gồm 422 xã, 1.488 thôn bản.
  • Dân số và lao động: Dân số toàn tỉnh có 1.285.640 người (trong đó nhân khẩu nông nghiệp chiếm 1.156.400 người). Lực lượng lao động nông nghiệp gồm 453.280 người (chiếm 35,3% dân số); lao động trong độ tuổi có 382.210 người (chiếm 84,30% tổng số lao động).
Loại đất / Tài nguyên Diện tích (ha) Tỷ lệ so với tổng diện tích / phân loại
Tổng diện tích tự nhiên 510.700 100%
Đất nông nghiệp 168.317 32,9%
Đất rừng đồi núi và lâm nghiệp quốc gia 303.805 59,48% (đồi trọc: 23.000 ha)
Đất canh tác (trong đất nông nghiệp) 140.917 82,0% đất nông nghiệp
- Ruộng cấy lúa 94.151 66,0% đất canh tác
+ Ruộng cấy 2 vụ lúa 65.303 66,0% diện tích cấy lúa
+ Ruộng cấy 1 vụ lúa 33.002 35,0% diện tích cấy lúa
- Đất trồng rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày 26.982 19,0% đất canh tác
- Đất trồng cây lâu năm 16.158 11,4% đất canh tác
Đầm, hồ, ao 5.971 Phục vụ nuôi trồng thủy sản
Đồi cỏ tự nhiên 5.976 Phục vụ chăn nuôi gia súc
Rừng tự nhiên 135.000 Trữ lượng gỗ trên 3 triệu m³
Rừng trồng mới 35.000 Phủ xanh đồi núi

Thực trạng trước năm 1968 và sáng kiến "Khoán hộ" tại Vĩnh Phúc:

  • Đến cuối năm 1960, Vĩnh Phúc có 1.159 HTX (thu hút 119.944 hộ, đạt 92,68% số hộ nông dân), Phú Thọ có 1.376 HTX (đạt 89,9% số hộ).
  • Ngày 8-1-1962, Ban Công tác Nông thôn Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra văn bản hướng dẫn thực hiện "khoán việc", đưa sản lượng quy thóc năm 1962 tăng 33.780 tấn so với năm 1960; năm 1965 đạt 257.000 tấn.
  • Vụ Đông Xuân 1965–1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc thí điểm khoán cho hộ: HTX Thôn Thượng (Vĩnh Tường) khoán lúa; HTX Đông Xuân (Lập Thạch) khoán chăn nuôi; HTX 1, 2, 3, 4 xã Đại Đồng (Vĩnh Tường) khoán màu.
  • Ngày 10-9-1966, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU về quản lý lao động nông nghiệp. Tháng 4-1967, tỉnh ban hành Kế hoạch 116-BHTX-SX-NNG và Kế hoạch 52-KH hướng dẫn cụ thể việc khoán cho hộ.
  • Giai đoạn 1968–1980: Thực hiện Thông tư 224 của Trung ương, Vĩnh Phú tiến hành chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất, dừng hình thức khoán hộ. Đồng thời, tỉnh thực hiện chủ trương mở rộng quy mô HTX lên quy mô toàn xã theo các nghị quyết của Trung ương (Hội nghị Trung ương 19 năm 1971, Hội nghị Trung ương 22 và Chỉ thị 208-CT/TW năm 1974). Tuy nhiên, trước tình trạng sản xuất suy giảm, cuối những năm 1970, hình thức khoán chui xuất hiện trở lại tại huyện Vĩnh Lạc và một số địa phương. Sau Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (9/1979) và Thông báo 22 của Ban Bí thư (10/1980), Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã chỉ đạo triển khai khoán sản phẩm đến hộ đối với cây lúa.

Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1981 đến năm 1996

Chương 3 phân tích sự chuyển hướng trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú qua việc thực hiện các chủ trương đổi mới của Đảng:

  • Giai đoạn 1981–1987 (Thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW): Tỉnh ủy lãnh đạo mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTXNN. Bước đầu khắc phục tình trạng dong công phóng điểm, giải phóng sức lao động ở khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, tạo khí thế sản xuất mới trên địa bàn.
  • Giai đoạn 1988–1996 (Thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị và chuẩn bị thi hành Luật HTX 1996):
    • Ngày 14-5-1988, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phú ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU "Về đổi mới quản lý kinh tế trong hợp tác xã nông nghiệp".
    • Đổi mới quản lý ruộng đất: Giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân theo hạn mức; hộ xã viên thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ.
    • Điều chỉnh quy mô và phương thức hoạt động HTX: Thu gọn quy mô HTX từ quy mô toàn xã xuống quy mô thôn, liên thôn hoặc chuyển thành các tổ hợp tác; xóa bỏ bộ máy quản lý cồng kềnh; chuyển HTX từ đơn vị chỉ huy sản xuất trực tiếp sang thực hiện các khâu dịch vụ hỗ trợ (thủy nông, bảo vệ thực vật, làm đất, cung ứng vật tư, giống cây trồng).
    • Khuyến khích kinh tế hộ và chuyển dịch cơ cấu: Khuyến khích kinh tế vườn đồi, kinh tế trang trại, phát triển chăn nuôi đại gia súc và cây công nghiệp thế mạnh (chè, sơn tra, bạch đàn, cây ăn quả), hình thành các tổ hợp tác chuyên ngành theo nguyên tắc tự nguyện.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

  • Nhận xét về ưu điểm và hạn chế:
    • Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú thể hiện tinh thần bám sát thực tiễn đời sống nông dân, sớm nhận diện sự bất cập của cơ chế phân phối bình quân để tìm tòi mô hình quản lý mới; kiên trì tháo gỡ các nút thắt cơ chế; từng bước đưa nông nghiệp địa phương thoát khỏi khủng hoảng, ổn định đời sống nhân dân.
    • Hạn chế: Trong giai đoạn 1968–1980, có thời điểm việc mở rộng quy mô HTX tiến hành nóng vội, mang tính hành chính; quá trình chuyển đổi tổ chức HTX sau Nghị quyết 10 tại một số địa bàn miền núi còn lúng túng; việc quản lý đất đai và xử lý tài sản công của HTX cũ còn phát sinh vướng mắc.
  • Bốn bài học kinh nghiệm chủ yếu:
    1. Tìm tòi hướng đi mới cho hợp tác xã nông nghiệp trên cơ sở xem xét một cách khoa học những sáng kiến từ cơ sở của các Đảng bộ địa phương.
    2. Đề ra các biện pháp, giải pháp xây dựng hợp tác xã nông nghiệp trên nền tảng tôn trọng quy luật khách quan và đảm bảo lợi ích thiết thân cho người lao động.
    3. Bám sát thực tiễn đời sống, kịp thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để hoạch định các chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp phù hợp.
    4. Đặt quá trình xây dựng và đổi mới hợp tác xã nông nghiệp trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu và lịch sử: Luận án hệ thống hóa một cách đầy đủ và khoa học các nguồn tư liệu lưu trữ của Tỉnh ủy Vĩnh Phú, Vĩnh Phúc, Phú Thọ từ năm 1968 đến năm 1996; phục dựng bức tranh chân thực về quá trình lãnh đạo xây dựng HTXNN qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử.
  2. Về mặt khoa học Lịch sử Đảng: Làm rõ vai trò, sự năng động và tính kế thừa của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trong việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  3. Về mặt thực tiễn: Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hiện nay trong việc tiếp tục đổi mới kinh tế tập thể, hoàn thiện mô hình HTX kiểu mới theo Luật Hợp tác xã hiện hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tài liệu lưu trữ ở cấp cơ sở (hợp tác xã, thôn xóm) qua nhiều lần chia tách, sáp nhập đơn vị hành chính, một số số liệu chi tiết về biến động tài sản và quỹ vốn nội bộ của các HTX giải thể trong giai đoạn đầu đổi mới chưa được thống kê trọn vẹn ở toàn bộ các tiểu vùng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình chuyển đổi mô hình HTXNN tại hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ sau thời điểm tái lập tỉnh (1997 đến nay), nhằm đánh giá tác động dài hạn của các chính sách nông nghiệp trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử kinh tế Việt Nam, đặc biệt là lịch sử cải tạo xã hội chủ nghĩa và đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
  • Đối với công tác lãnh đạo, quản lý: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan quản lý nông nghiệp tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ và các tỉnh vùng trung du Bắc Bộ trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế tập thể, củng cố HTX kiểu mới và nâng cao vai trò của kinh tế hộ nông dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỉnh Vĩnh Phú được thành lập và chia tách vào những mốc thời gian nào? Tỉnh Vĩnh Phú được thành lập theo Nghị quyết số 504/NQ-QH ngày 26-1-1968 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Tỉnh chính thức chia tách trở lại thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ theo Nghị quyết ngày 6-11-1996 tại Kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa IX.

2. Sáng kiến "Khoán hộ" tại Vĩnh Phúc trước năm 1968 được thể chế hóa qua văn bản nào? Chủ trương này được cụ thể hóa qua Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc "Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay", sau đó được cụ thể hóa bằng Kế hoạch 116-BHTX-SX-NNG (ngày 14-4-1967) và Kế hoạch 52-KH (ngày 15-4-1967) của Ban Quản lý HTXNN và Ban Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc.

3. Vụ Đông Xuân 1965–1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã chỉ đạo làm thí điểm khoán hộ tại những cơ sở nào? Tỉnh ủy đã chọn 3 cơ sở đại diện cho các vùng sinh thái: HTX Thôn Thượng (huyện Vĩnh Tường, vùng đồng bằng) thí điểm khoán đối với cây lúa; HTX Đông Xuân (huyện Lập Thạch, vùng đồi núi) thí điểm khoán chăn nuôi; HTX số 1, 2, 3, 4 xã Đại Đồng (huyện Vĩnh Tường) thí điểm khoán sản lượng đối với cây màu.

4. Nghị quyết quan trọng nào của Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã trực tiếp chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị? Đó là Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 14-5-1988 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phú "Về đổi mới quản lý kinh tế trong hợp tác xã nông nghiệp", tập trung đổi mới phương thức quản lý ruộng đất, chuyển đổi chức năng của HTX sang làm dịch vụ và khẳng định kinh tế hộ là đơn vị tự chủ.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Quỳnh Phương là công trình khoa học Lịch sử Đảng nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đối với phong trào xây dựng HTXNN từ năm 1968 đến năm 1996. Tác phẩm đã làm rõ quá trình vận động phức tạp từ mô hình HTX tập thể hóa quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới gắn với quyền tự chủ của kinh tế hộ nông dân. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ xác thực và phương pháp luận khách quan, luận án khẳng định vai trò của tổ chức Đảng địa phương trong việc tìm tòi, thể nghiệm và tổng kết thực tiễn, cung cấp 4 bài học kinh nghiệm thiết thực cho công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay.