phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong lĩnh vực kinh tế từ năm 1954 đến năm 1960 Chƣơng 2. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với lĩnh vực kinh tế từ năm 1961 đến năm 1964 Chƣơng 3. Nhận xét và kinh nghiệm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1960 1.
Những căn cứ để Đảng bộ tỉnh Hòa Bình xác định chủ trƣơng và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh 1. Những căn cứ để Đảng bộ tỉnh Hòa Bình xác định chủ trƣơng 1. Điều kiện tự nhiên, đời sống văn hóa - xã hội và tiềm năng, lợi thế kinh tế của tỉnh Hòa Bình Hoà Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng, có nhiều tuyến đƣờng bộ, đƣờng thuỷ nối liền với các tỉnh Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, là cửa ngõ của vùng núi Tây Bắc, cách Thủ đô Hà nội 76 km về phía Tây Nam. Phía Bắc Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Tây, phía Nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp Hà Tây và Hà Nam, phía Tây giáp Sơn La.
Hoà Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía Tây Bắc có độ cao trung bình từ 600 - 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 - 250, độ cao trung bình từ 100 - 200 m. Hoà Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mƣa; mùa hè nóng, mƣa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23oC. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 – 20oC, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5oC.
Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh đƣợc phân bố tƣơng đối đồng đều với các sông lớn là sông Đà, sông Bôi, sông Bƣởi, sông Lạng, sông Bùi. Diện tích tỉnh Hoà Bình ƣớc chừng 470. Rừng núi và đất hoang chiếm 439.000 ha tức trên 92% tổng số đất đai toàn tỉnh. Khắp trong tỉnh đều có rừng núi nhƣng rừng phần lớn tập trung ở 2 huyện Đà bắc, Mai châu và dọc theo dãy núi Trƣờng Sơn, từ Mai Châu qua các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ.
Ngoài ra, còn nhiều khu vực rừng rộng lớn ở các vùng Cao Phong (huyện Kỳ Sơn), 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kim Truy, Tú Sơn, Nất Sơn (huyện Kim bôi) v. Rừng Hoà Bình có nhiều gỗ to và quý. Riêng về gỗ có thể khai thác đƣợc ƣớc chừng 580.000 khối nhƣng thƣờng ở các xã không có đƣờng cái lớn, sông to nên khai thác khó khăn. Ngoài nguồn lợi về gỗ, rừng Hoà Bình còn có rất nhiều lâm sản phụ.
Việc khai thác lâm sản đã đóng góp một phần thiết thực và quan trọng cho việc cải thiện đời sống của nhân dân tỉnh Hòa Bình. Trong năm 1958, tổng giá trị khai thác lâm sản của nhân dân bằng 13.754 tấn thóc, chiếm 22% so với thu hoạch về nông nghiệp toàn tỉnh. Riêng huyện Đà bắc thu hoạch về lâm sản trị giá bằng 3.262 tấn thóc, bình quân nhân khẩu toàn huyện đƣợc 213 cân, bằng 81% so với thu hoạch về nông nghiệp. Có nhiều xã ở huyện Đà bắc, nguồn sống chính là thu nhập về lâm thổ sản nhƣ xã Chum, riêng về gỗ và bƣơng tre chiếm 92%, còn về sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm có 8% tổng số thu nhập của nhân dân toàn xã.
Nếu tính riêng xóm Hà xã Chum nơi trên có 91 ngƣòi, bình quân nhân khẩu toàn xóm thu hoạch 91 cân thóc về nông nghiệp, còn thu hoạch về lâm sản trị giá bằng 3.206 cân thóc một nhân khẩu [45;1]. Ngoài việc góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân tỉnh Hòa Bình, việc khai thác lâm sản còn đóng góp cho việc tích luỹ với Nhà nƣớc: số thu về tiền bán lâm sản và số tiền lãi của Ty Thƣơng nghiệp, lâm thổ sản trong việc kinh doanh lâm sản cũng khá lớn. Do tỉnh Hoà Bình giáp với đồng bằng, gần Thủ đô, có nhiều đƣờng giao thông thuỷ bộ thuận tiện nên rừng Hoà Bình không những còn cung cấp cho nhu cầu cần thiết cho đời sống của nhân dân và phục vụ cho việc kiến thiết cơ bản, sửa chữa cầu đƣờng v. của tỉnh Hòa Bình mà đã và sẽ đóng góp một phần tích cực trong việc cung cấp cho nhu cầu cần thiết của Nhà nƣớc và xuất khẩu.
Ngoài nguồn lợi về lâm sản cần cho đời sống của nhân dân và nhu cầu xây dựng của Nhà nƣớc, rừng còn có tác dụng chống bão, lũ, lụt, ngăn cản gió Lào, điều hoà thời tiết, không những phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tỉnh Hòa Bình mà còn có tác dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng. Rừng không những chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh Hòa Bình mà còn góp phần vào việc phát triển nền kinh tế chung mà còn có tác dụng lớn về chính trị và quốc phòng. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣng dƣới chế độ thực dân phong kiến trƣớc kia, tài nguyên rừng bị phá hoại nghiêm trọng và hầu nhƣ bị kiệt quệ. Trong kháng chiến do hoàn cảnh chiến tranh, rừng lại bị phá thêm.
Từ sau hoà bình lập lại, chính quyền đã có nhiều cố gắng và đã thu đƣợc một số thành tích trong việc khôi phục nghề rừng, đảm bảo cung cấp cho nhu cầu nhà nƣớc. Việc quản lý rừng đã dần dần có nền nếp. Trong các việc khoán rừng, bảo vệ rừng, trồng và gây rừng v. tỉnh Hòa Bình cũng đã thu đƣợc một số kết quả nhất định.
Hoà Bình có nhiều loại khoáng sản, trong đó một số loại đã đƣợc khai thác nhƣ: amiăng, than, nƣớc khoáng, đá vôi…Đáng lƣu ý nhất là đá, nƣớc khoáng, đất sét có trữ lƣợng lớn. Đá gabrodiaba trữ lƣợng 2,2 triệu m3; đá granít trữ lƣợng 8,1 triệu m3; đặc biệt đá vôi có trữ lƣợng rất lớn trên 700 triệu tấn, đang đƣợc sản xuất phục vụ xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ bản… Ngoài ra, than đá có 6 mỏ nhỏ và 2 điểm khai thác than ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn, Đà Bắc, Kỳ Sơn, tổng trữ lƣợng cấp C1 là 982. Đôllômit, barit, cao lanh cũng có trữ lƣợng lớn, trong đó có một số mỏ còn chƣa đƣợc xác định rõ về trữ lƣợng. Sét phân bố ở vùng thấp, có rải rác trong tỉnh, trữ lƣợng ƣớc tính 8 - 10 triệu m3.
Ngoài ra, kho tài nguyên khoáng sản của tỉnh còn rất nhiều mỏ đa kim nhƣ: vàng, đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân, antimon, pyrit, phốtphorit… Do đặc điểm địa lý tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên khoáng sản, đặc điểm văn hoá đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hoà Bình phát triển mạnh một số lĩnh vực kinh tế lợi thế. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng với trữ lƣợng sét và đá vôi lớn. Công nghiệp chế biến nông - lâm sản: Hoà Bình có đất đai phù hợp với nhiều loại cây công nghiệp (mía, sắn, chè, măng…), cây ăn quả (cam, quýt, dứa, vải, nhãn…), từ đó có thể phát triển công nghiệp chế biến nông sản nhƣ: đƣờng, tinh bột, chè khô. Bên cạnh đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 55%, diện tích rừng đã phủ xanh 41% với nhiều vạt rừng kinh tế đƣợc phép trồng và khai thác phục vụ công nghiệp chế biến lâm sản.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi có 7 dân tộc với dân số vào khoảng 203.064 ngƣời: Dân tộc Mƣờng chiếm đại bộ phận có 164.514 ngƣời ; Kinh 15.129 ; Hoa 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiều 252 ngƣời ; Thái 11. Hoà Bình ở vào vùng trung du, một bên về phía Đông bắc, Đông nam giáp liền với vùng ngƣời kinh thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, một bên về phía Tây Bắc, tây nam giáp liền với vùng ngƣời Thái thuộc khu tự trị Thái Mèo và ngƣời Mƣờng thuộc các huyện thƣợng du tỉnh Thanh Hoá. Đất đai trong tỉnh đại bộ phận là rừng núi, tính trung bình chiều dài từ huyện đầu tỉnh đến cuối tỉnh dài 180km, chiều ngang nơi rộng nhất vào khoảng 80km. Diện tích toàn tỉnh ƣớc đo 7.000 cây số vuông, diện tích cây lúa có 40.752ha, 52 bằng 1/5 diện tích đất đai [35;1].
Tỉnh Hoà Bình có 7 huyện 1 thị xã, 2 thị trấn có 192 xã, 1. Dân tộc Mƣờng ở hầu khắp trong tỉnh, nhƣng tập trung nhiều nhất vào 5 huyện Kỳ Sơn, Lƣơng Sơn, Lạc Thuỷ, Lạc Sơn, Tân Lạc sống chủ yếu về làm ruộng, có nhiều cánh đồng thung lũng rộng hàng nghìn mẫu nhƣ cánh đồng Mƣờng Vang (huyện Lạc Sơn, Mƣờng Bi (Tân Lạc), Mƣờng tháng (Kỳ Sơn), Mƣờng Động (Lƣơng Sơn). Dân tộc Thái, Thổ, Mán, Mèo sống tập trung ở 2 huyện Mai Châu và Đà Bắc. Dân tộc Thái, Thổ sồng về nửa ruộng mửa nƣơng hoặc một phần nƣơng.
Dân tộc Mèo, Mán sống chủ yếu về nƣơng rẫy, một số rất ít làm ruộng, làm thợ săn - đây là một nguồn sống quan trọng của họ. Nhìn chung, đƣờng giao thông thuỷ bộ liên lạc giữa Hoà Bình với các tỉnh miền xuôi và Thủ đô Hà Nội tƣơng đối thuận tiện có sông Đà, đƣờng số 6, số 21 và số 12. Sự liên lạc giữa các huyện với nhau và trong một huyện trừ các đƣờng quốc lộ chạy gặp rất nhiều khó khăn, nhất là về mùa mƣa, suối lũ. Do điều kiện phát triển của lịch sử và hoàn cảnh đại lý nên tính chất xã hội của các dân tộc trong tỉnh và ở mỗi vùng có những đặc điểm khác nhau, trình độ phát triển văn hóa- xã hội các dân tộc trong tỉnh không đều nhau.
Thực trạng kinh tế của tỉnh Hòa Bình trước năm 1954 Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 25-11-1945, Trung ƣơng Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Chỉ thị đã phân tích tình hình thế giới và 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.